bộ t pháp
-------- --------
báo cáo phúc trình
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
NGHIÊN CứU VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN
HOàN THIệN CHế ĐịNH TộI PHạM Và HìNH PHạT
HƯớNG TớI VIệC Sử ĐổI Bộ LUậT HìNH Sự 1999
ĐáP ứNG YÊU CầU ĐổI MớI
Chủ nhiệm đề tài: NGUYễN CÔNG HồNG
7527
22/10/2009
Hà Nội 2009
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương,
chính sách mới liên quan đến yêu cầu tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong tình hình mới. Các chủ trương, chính sách này được thể hiện rất rõ trong: Nghị
quyết trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết TW 3 và 7 khoá VIII, Văn kiện Đại hội IX,
Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác
tư pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg ngày 08/11/2004 của Thủ
tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09/CP và chương trình quốc gia
phòng chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010, Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện hội
nhập quốc tế, nhất là tính chất, khái niệm một số tội phạm mang tính quốc tế như: tội
khủng bố, tội rửa tiền, tội buôn bán người, tội về sở hữu trí tuệ v.v...;. Vì vậy, chưa tạo
1
được cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã
cam kết trong các điều ước quốc tê như: các Công ước của Liên Hợp quốc về phòng,
chống ma tuý, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, các hiệp định quốc tế về sở
hữu trí tuệ, các điều ước quốc tế về chống khủng bố, buôn bán người, rửa tiền, v.v...
Về hình phạt cũng có nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần được quan
tâm nghiên cứu. Ví dụ: cần phải nghiên cứu để bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội
phạm cụ thể cho phù hợp với chủ trương của Đảng và xu hướng chung của thế giới;
hoàn thiện các quy định hiện hành để nâng cao hiệu quả của hình phạt tù và các hình
phạt không phải là hình phạt tù; ý nghĩa và hiệu quả của hình phạt bổ sung và các biện
pháp tư pháp trong điều kiện hiện nay.
Từ những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một đòi hỏi khách
quan và cấp thiết của hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật trong điều kiện phát
triển về kinh tế và xã hội hiện nay của nước ta nhằm góp phần khắc phục những bất
cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của
cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Kết quả nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề về tội phạm và hình phạt sẽ
đưa ra được những giải pháp, phương án cụ thể nhằm khắc phục những bất cập, hạn
chế hiện nay, góp phần quan trọng vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999
để đáp ứng yêu cầu mới, đảm bảo đủ tính răn đe và mức độ trừng phạt cần thiết đối với
người phạm tội trong điều kiện mới.
Vì những lý do nêu trên, Ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn việc “Nghiên cứu các
vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện chế định về tội phạm và hình phạt hướng
tới việc sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 đáp ứng yêu cầu mới” làm đề tài nghiên cứu
dựng Nhà nước pháp quyền”/PGS. TSKH Lê Cảm- NXB CAND 1999; “Phòng ngừa
tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi lao động
nước ngoài”/Đinh Anh Tuấn, Nguyễn Kim Phong- NXB CAND 2006; “Đặc điểm tội
phạm học của tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay: LATS Luật học”/ Phạm Văn
Tỉnh; “Đấu tranh phòng, chống tội kinh doanh trái phép ở Việt Nam”; “Phòng chống
các loại tội phạm ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”/GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm-NXB
CAND 2005; “Tội phạm tài chính trong hội nhập”/Hà Hoàng Hợp, Phạm Bá KhiêmNXB Thống kê 2005; “Tội phạm kinh tế thời mở của”/ GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm,
TS. Nguyễn Hoà Bình, Nguyễn Phong Hoà-NXB CAND 2004; “Đấu tranh phòng,
chống tội phạm rửa tiền ở Việt Nam/ TS. Nguyễn Hoà Bình-NXB CAND 2004; v.v...
Về hình phạt đối với các tội phạm cụ thể có các công trình nghiên cứu như:
“Chế tài hình sự đối với tội phạm xâm hại trẻ em và người chưa thành niên phạm tội”/
luật gia Hà Anh-NXB TP 2006; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma tuý
trong luật hình sự Việt Nam: LATS Luật học”/ Phạm Minh Tuyên 2006; “Định tội
danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam/ Lê Văn Đệ-NXB CAND
2004; “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu: LATS Luật
học”/Nguyễn Ngọc Chí; v.v...
Ngoài ra, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc nghiên cứu
một số đề tài nghiên cứu có liên quan như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định
trách nhiệm hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường” (năm 2001);
“Một số vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình - Thực trạng và giải
pháp” (năm 2003); “Cơ sở khoa học để xây dựng và hoàn thiện chính sách hình sự trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (năm 2005) v..v.. Trong các công trình
nghiên cứu này đã làm rõ được một số nội dung quan trong có liên quan đến tội phạm
và hình phạt như: quan điểm về bản chất của tội phạm; tội phạm hoá, phi tội phạm
hoá; hình sự hoá, phi hình sự hoá; quan điểm về xử lý tội phạm v.v...
Đây là những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Tuy nhiên, mỗi
công trình lại khai thác sâu về một khía cạnh nhất định của vấn đề tội phạm và hình
phạt, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề tội phạm và
hình phạt để có thể đề xuất được những phương án, giải pháp sửa đổi, bổ sung BLHS
hiện hành theo yêu cầu mới hiện nay.
gồm nhiều vấn đề. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, Ban Chủ nhiệm đề tài
thấy rằng, không thể nghiên cứu một cách dàn trải tất cả các vấn đề thuộc về nội dung
đó mà cần tập trung chuyên sâu vào những vấn đề cơ bản, bức xúc. Trên tinh thần đó,
Ban Chủ nhiệm Đề tài xác định việc nghiên cứu đề tài cần dựa trên các tiêu chí sau:
- Hoàn thiện các quy định của BLHS để nhằm thể chế hoá chủ trương cải cách
tư pháp của Nhà nước ta, cụ thể là chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, quy
định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế được thể hiện
trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQTW;
- Đáp ứng các bức xúc hiện nay trong đấu tranh phòng, chống một số loại tội
phạm, cũng như một số vấn đề hình phạt đang nổi cộm nhằm đưa ra các kiến nghị, đề
xuất sửa đổi các quy định này phục vụ kịp thời cho công cuộc đổi mới đất nước;
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay của đất nước ta, xây dựng hệ
thống các quy định pháp luật hài hoà với các yêu cầu của các văn bản pháp luật quốc
tế mà Việt Nam đã và đang là thành viên.
Cụ thể, phạm vi nghiên cứu của Đề tài sẽ bao gồm các vấn đề sau:
- Chính sách hình sự thể hiện tại BLHS 1999 và phương hướng sửa đổi BLHS
trong giai đoạn tới.
- Về chế định tội phạm: Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định về một số
tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; tội phạm môi trường; tội phạm chức vụ và
một số tội phạm mang tính quốc tế như: buôn bán người, khủng bố, rửa tiền; .
- Về chế định hình phạt: Đánh giá, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các quy định
hiện hành về hình phạt tù, trong đó bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân; nghiên
cứu hạn chế áp dụng hình phạt tử hình; nghiên cứu hoàn thiện các quy định về các
hình phạt chính không tước tự do; đánh giá, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các quy định
4
hiện hành về hình phạt bổ sung; nghiên cứu bổ sung chế định miễn chấp hành có điều
các chuyên đề với các cộng tác viên. Hệ chuyên đề này đã được hoàn tất xong vào
tháng 8 năm 2008;
3) Ban Chủ nhiệm đã ký hợp đồng với một số chuyên gia của Vụ Pháp luật
Hình sự - Hành chính và các chuyên gia khác dịch thuật một số tài liệu tham khảo từ
tiếng nước ngoài như các BLHS của các nước, cũng như thu thập các tài liệu nghiên
cứu, sách tham khảo có liên quan đến Đề tài để lập thành một Danh mục tài liệu tham
khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu;
4) Đồng thời với việc ký hợp đồng với các chuyên gia để thực hiện các chuyên
đề, Ban Chủ nhiệm cử người tham gia 02 cuộc khảo sát về tình hình thực tiễn 8 năm
thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 tại 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thừa
thiên - Huế, Quảng Trị và Quảng Bình dưới sự chỉ đạo của Ban Soạn thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của BLHS;
5
5) Ban Chủ nhiệm Đề tài còn phối hợp với các Dự án khác tổ chức một số Hội
thảo để lấy ý kiến chuyên gia về một số vấn đề có liên quan của Đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Đề tài đã có một số đóng góp quan trọng như sau:
Về mặt lý luận:
- Trên cơ sở xác định rõ phạm vi nghiên cứu, tập thể tác giả đã tập trung nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến chế định tội phạm và hình phạt theo 4 nhóm vấn đề để
phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung BLHS. Đó là (i) tiếp tục nhân đạo hoá chính sách
hình sự, (ii) nghiên cứu việc hình sự hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới
xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập
quốc tế (iii) nghiên cứu một số vấn đề cấp bách nhất nhằm góp phần tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay và (iv)
hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm chuẩn bị các điều kiện pháp lý hình sự thực
hiện các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Thành công lớn của tập thể tác giả
I. CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ THỂ HIỆN TẠI BỘ LUẬT HÌNH SỰ (BLHS)
1999 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG SỬA ĐỔI
1.1. Chính sách hình sự thể hiện tại BLHS 1999
Chính sách hình sự của Nhà nước ta là bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo
vệ các quyền cơ bản của con người trong xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế thị trường có
môi trường xã hội lành mạnh để phát triển, có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các hình thức sở hữu được Hiến pháp thừa nhận, bảo
đảm trật tự, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính, trật tự pháp luật, bảo đảm
giao lưu và hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tinh thần bao trùm chính sách hình sự của Nhà nước ta là chủ nghĩa nhân đạo,
bảo vệ quyền con người, được thể hiện ở những điểm chính sau đây:
Thứ nhất, chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng và cũng chỉ trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, so với trước
đây, BLHS 1999 đã giảm đáng kể số lượng các tội phạm có thể bị áp dụng hình phạt tử
hình. Nếu như trước năm 1999 có 44 điều luật quy định hình phạt tử hình, thì nay chỉ
còn 29 điều luật, tập trung vào một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như: phản bội tổ
quốc, bạo loạn, khủng bố, giết người, cướp của, hiếp dâm, tội phạm ma tuý, tội phạm
về tham nhũng, …;
Thứ hai, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm
tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội
hoặc khi bị xét xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang
nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
Thứ ba, đa dạng hoá hệ thống hình phạt theo hướng tăng cường các hình phạt
không gắn với giam giữ; giảm đáng kể các trường hợp có thể bị áp dụng hình phạt tù,
bổ sung thêm hình phạt tiền để tăng sự lựa chọn hình phạt, đặc biệt là đối với các tội
phạm về kinh tế. Nếu như trước đây hầu như tội nào cũng có hình phạt tù, thì nay có
tới trên 70 điều luật (trên tổng số 267 điều) có quy định thêm hình phạt tiền và có trên
Thứ hai, bất cập của các quy định tại Phần chung BLHS về chế định hình phạt
có thể liệt kê như: quy định về hình phạt cảnh cáo (Điều 29) không có tác dụng giáo
dục, răn đe người phạm tội trong thực tiễn. Các quy định của BLHS hiện hành dẫn đến
một bất hợp lý là các biện pháp tư pháp, hình phạt không tước tự do như cải tạo không
giam giữ không được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16
tuổi. Quy định về hình phạt bổ sung tước một số quyền công dân còn mâu thuẫn với
các quy định tại các điều luật cụ thể của Phần các tội phạm....;
Thứ ba, bất cập của các quy định về các tội phạm cụ thể có thể kể ra như: một
số điều luật không mô tả hành vi khách quan nên khó xác định chính xác tội danh và
áp dụng thống nhất (Điều 134, 136, 137, 138); nội dung quy định trong cấu thành của
một số tội phạm còn có những bất cập, khó thực hiện, khó chứng minh trên thực tế
(Điều 80, 84, 104, 105, 119...); nhiều tội danh quy định ghép các hành vi có tính chất
và mức độ nguy hiểm khác nhau vào cùng một điều luật, gây khó khăn trong việc định
tội và định khung hình phạt (điều 120, 180, 181, 194...)....;
Thứ tư, bất cập của các quy định về các khung hình phạt tại Phần các tội phạm
có thể liệt kê như: mức khởi đầu và mức cuối của khung hình phạt tù có thời hạn quá
dài (khoản 3 Điều 104, khoản 1 Điều 133,...); khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa
của hình phạt tiền còn quá rộng (Điều 271, 133...).. ;
Thứ năm, trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của đất nước, có một số hành vi đã trở nên không còn nguy hiểm cho xã hội nên
không cần phải quy định là tội phạm nữa, ngược lại, có một số hành vi mới xuất hiện
với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội tương đối cao, nhưng chưa được quy
định trong BLHS 1999.
Bên cạnh các bất cập nói trên, cũng có thể thấy rằng, với xu hướng hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, thì nhiều quy định của BLHS 1999 đã không đáp ứng kịp
với các cam kết quốc tế mà chúng ta đã ký kết hoặc tham gia với cộng đồng thế giới.
Ví dụ như: tội khủng bố (Điều 84), tội mua bán phụ nữ, tội mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em (Điều 119, 120), tội phạm về sở hữu trí tuệ (Điều 131, 171), .... đã
trở nên lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của các công ước quốc tế, cần thiết phải
sớm sửa đổi, bổ sung.
1.3. Kiến nghị của Đề tài về phương hướng sửa đổi BLHS 1999
• Tiếp tục nhân đạo hoá chính sách hình sự
Tính nhân đạo trong chính sách hình sự được thể hiện trước hết ở việc giảm nhẹ
các hình phạt có tính hà khắc đối với người phạm tội, trong đó có hình phạt tử hình tước mạng sống của người phạm tội. Hiện nay, mặc dù đã có những bước đổi mới cơ
bản, song BLHS vẫn còn 29 điều luật quy định hình phạt tử hình. Trong tương lai,
cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ý thức của người dân đối với việc
chấp hành pháp luật, tôn trọng cuộc sống cộng đồng ngày càng được nâng cao thì việc
thu hẹp hơn nữa các tội phạm có thể bị xử phạt tử hình cũng cần được đặt ra. Có thể,
vẫn cần duy trì hình phạt tử hình, song chỉ nên áp dụng đối với một số loại tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng như: khủng bố, giết người, cướp của mà làm chết người, ... còn
đối với các loại tội phạm khác thì mức hình phạt cao nhất là chung thân cũng là thích
đáng. Hiện nay, ở những nước còn duy trì hình phạt tử hình, chẳng hạn như Cộng hoà
Liên bang Nga cũng chỉ quy định hình phạt tử hình đối với 3 tội: khủng bố, giết người
có chủ mưu và diệt chủng.
Cùng với việc giảm bớt hình phạt tử hình, cần nghiên cứu tiếp tục giảm bớt
hình phạt tù đối với người phạm tội. Hình phạt tù chỉ áp dụng đối với những tội phạm
nghiêm trọng và những tội phạm mà xét thấy nếu để người bị kết án ở ngoài xã hội thì
sẽ còn gây hại cho xã hội. Còn đối với những trường hợp khác thì xem xét áp dụng các
hình phạt không tước tự do. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để giảm bớt số chế tài có
quy định hình phạt tù chung thân, đặc biệt là đối với một số nhóm tội như xâm phạm
sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, ...
10
• Nghiên cứu việc hình sự hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất
hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội
nhập quốc tế
Trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của nước ta
hiện nay, nhiều vấn đề mới phát sinh, phát triển đòi hỏi phải được pháp luật hình sự
bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiên cứu để hình sự hoá một số hành vi vi phạm mới. Ví
Thực tiễn áp dụng một số loại hình phạt cũng cho thấy cần thiết phải nghiên
cứu để sửa đối một số quy định về hình phạt hiện nay đang có nhiều bất cập như: cân
nhắc về hiệu quả phòng ngừa, giáo dục của hình phạt cảnh cáo, mức tối đa và tối thiểu
của hình phạt tiền, hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên, hệ thống
các hình phạt bổ sung,....
Bên cạnh đó, để xử lý tội phạm một cách triệt để, nhất là các tội phạm trong
lĩnh vực kinh tế, môi trường, ... đã đến lúc cần phải đặt lại vấn đề trách nhiệm hình sự
của pháp nhân, nhất là pháp nhân kinh tế, bởi vì, hiện nay không ít tổ chức kinh tế
(pháp nhân), vì chạy theo lợi ích cục bộ mà đã thực hiện nhiểu hành vi trái pháp luật
mang tính chất tội phạm (ví dụ: đầu cơ, trốn thuế, kinh doanh trái phép, buôn lậu hoặc
11
vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, về bảo hộ lao động gây hậu quả nghiêm
trọng, v.v...), trong khi đó, chính sách hình sự của nhà nước ta hiện nay mới chỉ xử lý
đối với cá nhân phạm tội, còn tổ chức (pháp nhân) cũng có hành vi vi phạm tương tự
thì không bị xử lý về hình sự mà bị áp dụng các chế tài xử phạt khác (hành chính, kinh
tế, dân sự). Việc xử lý như vậy là chưa thật thoả đáng, chưa truy xét đến cùng trách
nhiệm đối với hành vi phạm tội. Pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới đã quy
định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhất là đối với pháp nhân kinh tế (từ năm
1997 Bộ luật Hình sự Trung Quốc quy định rất rõ vấn đề này).
Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề lớn liên
quan đến nhiều chế định tại Phần chung của BLHS. Việc bổ sung chế định này vào
BLHS sẽ làm thay đổi hoàn toàn các quan niệm từ trước đến nay về cơ sở trách nhiệm
hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, hình phạt, ... Do vậy, vấn đề này cần được
tiếp tục nghiên cứu một cách kỹ lưỡng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng để
chuẩn bị cho việc sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự.
• Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm chuẩn bị các điều
kiện pháp lý hình sự thực hiện các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam
12
định lượng giá trị tài sản để làm cơ sở phân biệt trường hợp nào là tội phạm, trường
hợp nào là vi phạm hành chính, giúp cho việc xử lý thống nhất, chính xác, khách quan,
đồng thời, hạn chế tình trạng xử lý tuỳ tiện. Tuy nhiên, thực tiễn 10 năm thi hành Bộ
luật hình sự năm 1999 cho thấy, có nhiều quy định của chương XVI - Các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế đã không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới mà một trong những nguyên nhân
chính là do các qui định này chưa kịp thể chế hoá chính sách hình sự đã được đề ra tại
các nghị quyết của Đảng trong thời gian qua như Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị
quyết số 49- NQ/TW cũng như chưa đáp ứng được các yêu cầu của các cam kết quốc
tế mà Việt Nam đã tham gia.
2.1.2. Một số yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện Chương Các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế
Ngoài các yêu cầu chung như: việc sửa đổi, bổ sung phải phúc đáp được những
đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới; qui định tội
phạm và hình phạt phải phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội; bảo
đảm tính thống nhất giữa phần riêng và phần chung của BLHS; các khái niệm sử dụng
phải thống nhất với hệ thống pháp luật chung, nhất là pháp luật về quản lý kinh tế, ...
thì đối với việc hoàn thiện chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cần đáp
ứng thêm một số yêu cầu riêng sau đây:
(1) Qui định xử lý về hình sự đối với các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế cần phù
hợp với các qui luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực
góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển
Vấn đề xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được đặt ra từ Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng và được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp
năm 1992. Với đường lối kinh tế mới, nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, thay thế cho cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp.
đây, việc lưu thông hàng hoá, không riêng gì nước ta, mà nhiều quốc gia khác cũng
như thế, đòi hỏi phải tôn trọng những “luật chơi chung” nhất định và như vậy, cũng có
nghĩa là các qui định về xử lý đối với những vi phạm phải phù hợp với pháp luật quốc
tế. Điều này còn góp phần tránh được các xung đột pháp luật không cần thiết có thể sẽ
xảy ra khi giải quyết các vi phạm trong tương lai.
Do đó, việc sửa đổi, bổ sung các qui định xử lý về hình sự đối với các vi phạm
trong lĩnh vực kinh tế cần phù hợp với pháp luật hình sự quốc tế đã trở thành một nhu
cầu khách quan. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương “đẩy mạnh việc rà roát,
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản qui phạm pháp luật để phù hợp với
thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” được nêu tại
Nghị quyết số 48-NQ/TW.
(3) Qui định xử lý đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải xuất
phát từ “tính chất kinh tế” của các tội phạm đó.
Đối với các tội phạm này cần qui định tối đa các hình phạt có khả năng tác
động về mặt kinh tế đối với người phạm tội như: hình phạt tiền (hình phạt chính và
hình phạt bổ sung), hình phạt tịch thu tài sản, … hạn chế qui định các hình phạt tước
tự do như: hình phạt tù, tù chung thân hoặc tử hình. Các hình phạt này vừa có tác dụng
giáo dục và cải tạo đối với người phạm tội, đồng thời, vừa góp phần giúp cho việc tiết
kiệm chi phí của xã hội như giảm được chi phí cho việc thi hành án, …. Theo chúng
tôi, về vấn đề này, nên tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia đi trước,
nhất là các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi tương tự Việt Nam như: Trung Quốc,
Liên bang Nga, …
2.1.3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành về các tội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế
Để đáp ứng các yêu cầu trên đây đòi hỏi chương Các tội xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế cần sửa đổi, bổ sung khá cơ bản các qui định hiện hành, cụ thể như:
(1) Tăng cường chế tài vật chất
Thực tiễn cho thấy, việc xử lý nghiêm hay không nghiêm không chỉ phụ thuộc
vào mức hình phạt được qui định nặng hay nhẹ. Vấn đề là ở chỗ, biện pháp xử lý phải
phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, phải phù hợp với bản chất của
phạm trật tự quản lý kinh tế đều có qui định hình phạt tiền là hình phạt chính. Tuy
nhiên, tại chương này, qui định hình phạt tù vẫn là phổ biến, chiếm 100% các điều
luật. Hình phạt chung thân, tử hình còn chiếm tới 10,3% (3/29 điều luật). Hình phạt
tiền được qui định là hình phạt chính, so với BLHS 1985, đã tăng nhiều, chiếm tới
62% (18/29 điều luật) nhưng lại ở dạng lựa chọn với nhiều hình phạt khác như phạt tù,
cải tạo không giam giữ, … Còn hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính độc lập
thì chưa được qui định ở một điều luật nào, chiếm 0 % (0/29 điều luật). Với tư cách là
hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được qui định có khá hơn, chiếm 75,8%, nhưng cũng
như đối với hình phạt tiền là hình phạt chính, thường được qui định dưới dạng lựa
chọn với nhiều hình phạt bổ sung khác như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định,…Còn hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung
độc lập thì chỉ được qui định ở 5 điều luật, chiếm 17 % (5/29 điều luật). Do đó, đối
với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cần mở rộng phạm vi qui định hình phạt
tiền hơn nữa. Đặc biệt, cần nghiên cứu để có thể qui định hình phạt tiền với tư cách là
hình phạt chính duy nhất đối với một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ít nghiêm
trọng. Trước mắt đối với các tội như Tội kinh doanh trái phép (Điều 159), Tội trốn
thuế (Điều 161), Tội cho vay lãi nặng (Điều 163),…khoản 1 cần qui định hình phạt
tiền là hình phạt chính độc lập mà không nên qui định là chế tài lựa chọn với các chế
tài khác như hiện nay. Đối với hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cũng nên qui định
độc lập phổ biến hơn đối với một số tội phạm ít nghiêm trọng. Với trường hợp phải qui
định hình phạt tù thì cần nghiên cứu theo hướng qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ
sung bắt buộc đối với một số tội nhất định.
(2) Sửa đổi một số quy định hiện hành để phù hợp với các yêu cầu của các cam
kết quốc tế
1
Điều 179. Tội vi phạm các qui định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong
lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
2
đổi yếu tố cấu thành cơ bản của hai điều luật trên: từ “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án” thành ”cố ý” và ”với quy mô thương mại”
cho phù hợp với Điều 14 Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Điều 61 Hiệp
định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO.
Đồng thời, bổ sung thêm một loạt hành vi xâm phạm quyền quyền tác giả và quyền
liên quan bao gồm quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền tài sản của người biểu
diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền tài sản của tổ chức phát
sóng, quyền của người phát tín hiệu vệ tinh vào quy định của Điều 131 và chuyển điều
này sang chương XVI. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Sửa đổi Điều 171
theo hướng chỉ quy định xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng bất hợp pháp nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam, còn đối với các hành vi sử dụng bất hợp
pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp khác hoặc giống cây trồng chỉ quy định xử lý
hình sự trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng.
(3) Qui định bổ sung một số tội phạm mới
Do diễn biến của tình hình kinh tế - xã hội, bên cạnh tình hình tội phạm có lúc
tăng lúc giảm thì một số hành vi nguy hiểm xuất hiện đòi hỏi cần được xử lý bằng các
biện pháp hình sự. Trước mắt, chúng ta phải hình sự hoá một số hành vi nguy hiểm đã
xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, xâm phạm đến sự ổn định và phát triển của nền kinh
tế như: một số vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, đất đai; một số vi phạm liên quan
đến việc mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách, ...
16
Báo cáo của Bộ Công an gần đây cho thấy rằng các hành vi vi phạm quy định
về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn trên thực tế đang là vấn đề rất bức xúc,
gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngân sách Nhà nước. Để phòng, chống các hành vi vi
phạm này, hiện nay, chúng ta có Nghị định của Chính phủ số 89/2002/NĐ-CP ngày
7/11/2002 quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn. Nghị định này đã
quy định các biện pháp xử phạt hành chính đối với các vi phạm về in, phát hành, sử
hành vi thao túng giá chứng khoán.
(4) Sửa đổi yếu tố cấu thành của một số tội phạm
Thực tiễn áp dụng một số quy định tội phạm kinh tế như tội đầu cơ, tội vi phạm
các quy định về quản lý đất đai cho thấy cần phải sửa đổi các yếu tố cấu thành của các
tội phạm này để các cơ quan tiến hành tố tụng không bị bó tay đối với một số hành vi
nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân.
Quy định hiện hành tại Điều 160 về tội đầu cơ chỉ trừng trị các hành vi lợi dụng
tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo mua vét hàng hoá có số lượng
lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh.
Theo kết quả khảo sát của các cơ quan Toà án, Viện Kiểm sát thì hầu như trong các
năm qua chỉ xét xử rất ít các vụ án về đầu cơ. Tuy nhiên, vừa qua, trong tình hình lạm
17
phát, giá cả nhiều mặt hàng lên xuống thất thường, giá tiêu dùng tăng cao, đã xảy ra
nhiều hành vi lợi dụng tình hình khó khăn về kinh tế, găm hàng hoặc mua với số lượng
lớn, chờ khi giá lên bán ra thu lời lớn, do vậy, một số loại hàng hoá như phân bón, vật
liệu xây dựng, sữa và thuốc chữa bệnh đã bị nâng giá quá mức làm ảnh hưởng đến đời
sống nhân dân. Thực chất, các hành vi này là đầu cơ, tuy nhiên, vì Điều 160 không
quy định nên các cơ quan tiến hành tố tụng đành bó tay với các hành vi này. Vì vậy,
nhóm nghiên cứu cho rằng cần bổ sung yếu tố “hoặc tình hình có khó khăn về kinh tế”
vào cấu thành cơ bản của tội đầu cơ để giải quyết bất cập trên đây.
Trong lĩnh vực quản lý đất đai tình hình vi phạm về quản lý đất đai, cụ thể là
các hành vi của những người lợi dụng chức vụ quyền hạn để giao đất, thu hồi đất, cho
thuê đất trái pháp luật đang có xu hướng gia tăng và nhiều lúc, nhiều nơi xảy ra hết sức
nghiêm trọng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quỹ đất đai là tài sản quý giá của Nhà
nước, đồng thời cũng gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Bộ luật hình sự hiện hành
đã có một điều khoản quy định về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều
174), tuy nhiên, trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng không dễ dàng áp dụng
18
Thứ hai, các yếu tố cấu thành của các tội phạm môi trường còn chung chung,
lại chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng nên gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử các loại án này. Đặc biệt, việc xác định dấu hiệu “hậu quả” (nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) là hết sức khó khăn. Dấu hiệu “hậu quả” ở
đây rất đa dạng có thể là hậu quả về môi trường, sinh thái, những thiệt hại về vật chất,
... và đối với mỗi thành phần môi trường bị xâm hại lại có tiêu chí khác nhau để đánh
giá mức độ thiệt hại khác nhau. Ví dụ: hậu quả nghiêm trọng ở tội gây ô nhiễm nguồn
nước (Điều 183 BLHS) hoàn toàn khác với hậu quả nghiêm trọng ở tội huỷ hoại nguồn
lợi thuỷ sản (Điều 188 BLHS); hậu quả gây ô nhiễm môi trường thường khó xác định
được ngay sau khi hành vi vi phạm được thực hiện; thiệt hại môi trường khó định
lượng, không thể cân đo, đong đếm được, có loại thiệt hại gián tiếp, tiềm ẩn thường
phải ước lượng, dự đoán, không có những tiêu chí đánh giá thiệt hại chính xác, ... (Ví
dụ Điều 189 Tội huỷ hoại rừng thì gây thiệt hại nghiêm trọng ở đây là với điện tích
bao nhiêu ha đối với rừng phòng hộ? bao nhiêu ha đối với rừng đầu nguồn, rừng ngập
mặn?...; hay Điều 184 Tội gây ô nhiễm đất “người nào chôn vùi hoặc thải vào đất các
chất độc hại quá tiêu chuẩn cho phép, ...” vậy tiêu chuẩn cho phép là bao nhiêu? căn
cứ vào đâu để đánh giá mức chuẩn?...).
Thứ ba, theo quy định hiện hành thì đa số các hành vi vi phạm pháp luật về môi
trường chỉ có thể bị xử lý về hình sự khi chủ thể tiến hành các hành vi đó “đã bị xử
phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định
của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng”. Việc quy định nhiều điều
kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự như vậy đã thực sự làm cản trở các cơ quan điều
tra, truy tố, xét xử khi thực hiện truy tố các hành vi tội phạm về môi trường và là
nguyên nhân chính của việc hầu hết các quy định này không thể đi vào cuộc sống
được.
2.2.2. Thực trạng áp dụng các quy định về tội phạm môi trường và xu hướng
Hiện nay, vấn đề sử dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản
xuất nông nghiệp cũng là vấn đề cần thiết phải có sự quan tâm đúng mức, đặc biệt ở
khu vực nông thôn. Thuốc bảo vệ thực vật được dùng ở Việt Nam từ nhiều năm nay và
số lượng được sử dụng hàng năm vào khoảng 6.500-9000 tấn, chủ yếu là các loại
thuốc có độc tính cao, dễ gây nhiễm độc và chậm phân huỷ trong môi trường như:
DDT, 666 (BHC), Parathion Ethy Polychlorocamphene. Nhiều lô thuốc đã qua hạn
còn tồn đọng trong các kho, nếu không xử lý kịp thời, các lô thuốc này có thể bằng các
con đường khác nhau được sử dụng trở lại, mặt khác do tồn đọng lâu trong các kho sẽ
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng các khu vực xung quanh.
Đáng lo ngại hơn là việc xử lý không đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp
và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết (chất thải sinh hoạt
ở khu vực đô thị, chất thải y tế, chất thải lỏng của ngành công nghiệp và của các bệnh
viện), đã dẫn tới tình trạng đất bị suy thoái và ô nhiễm khá nặng nề. Ô nhiễm đất làm
giảm năng suất và chất lượng cây trồng, huỷ diệt sự sống một số sinh vật trong những
khu vực ô nhiễm nặng, đồng thời còn đe doạ sức khoẻ con người thông qua vật nuôi,
cây trồng, thậm chí gây ra những biến dạng sinh thái và di truyền nặng nề cho hệ sinh
sống.
Thứ hai, tội phạm huỷ hoại các tài nguyên môi trường, vi phạm các chế độ bảo
vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường sẽ gia tăng một cách đáng kể và với
mức độ ngày càng nguy hiểm, mang tính chất hủy diệt.
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về
đa dạng sinh học. Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của nước ta.
Tuy nhiên, thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này và sử dụng một cách hợp lý,
chúng ta đang khai thác một cách quá mức và phí phạm, không những thế nhiều người
còn sử dụng những biện pháp mang tính chất huỷ diệt như các chất độc, kích điện, ...
nhiều loài hiện đã trở nên hiếm, một số loài có nguy cơ diệt vong. Độ che phủ của
rừng Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng
đã bị hạ thấp quá mức, rừng bị suy thoái một cách nặng nề và hết sức trầm trọng, ...
Trong cơ chế thị trường thì mục đích lợi nhuận, lợi nhuận siêu ngạch là mục
đích mà bọn buôn lậu, trốn thuế hướng tới. Chính vì vậy, các loại tội phạm về đốt, phá
vào cuộc sống được, làm giảm đáng kể tác dụng răn đe, phòng ngừa đối với hành vi tội
phạm về môi trường. Vì vậy, trước mắt, Nhóm tác giả cho rằng cần phải loại bỏ các
điều kiện nói trên để mở rộng khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành
vi xâm phạm môi trường, tạo điều kiện tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc khi áp dụng
pháp luật cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
2.2.3.2. Tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường và
bảo đảm sự tương xứng giữa các chế tài của các tội phạm về môi trường.
Nghiên cứu các hình thức trách nhiệm, mức độ trách nhiệm hình sự được quy
định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với các tội phạm về môi trường cho thấy,
Nhà nước ta đã thể hiện thái độ trừng trị nghiêm khắc hơn đối với các tội phạm đó so
với Bộ luật Hình sự năm 1985. Tuy vậy, xuất phát từ nhu cầu đấu tranh đối với các tội
phạm này trong giai đoạn hiện nay, thì sự nghiêm khắc đó vẫn chưa thoả đáng.
Mặt khác, việc quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với các tội
phạm về môi trường trong chương XVII của Bộ luật hình sự hiện hành cũng chưa bảo
đảm sự tương xứng về mức độ nghiêm khắc. Nhóm tác giả cho rằng, cần cân đối lại
mức hình phạt và loại hình phạt áp dụng đối với các tội phạm về môi trường theo
hướng các tội phạm về môi trường có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội tương
đương nhau thì cần quy định những loại và mức hình phạt như nhau.
2.2.3.3. Tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực môi
trường
Nghiên cứu diễn biến của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
cần được pháp luật hình sự bảo vệ và các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về
các tội phạm môi trường, Nhóm nghiên cứu thấy rằng, việc bảo vệ bằng pháp luật hình
21
sự đối với các quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vẫn chưa đầy đủ, chưa bao
quát hết chiều sâu và chiều rộng của loại quan hệ đang phát triển rất nhanh này. Do
vậy, việc nghiên cứu bổ sung một số tội phạm mới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là
cán bộ, công chức phải chí công, vô tư, không được lợi dụng chức vụ để trục lợi,
nhưng trong cơ quan, tổ chức nào đó có cán bộ đã tham ô, nhận hối lộ, hoặc lấy
tiền của cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để đưa hối lộ... là đã xâm phạm
đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đó. Có thể nói, những hoạt động
đúng đắn của cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do các tội phạm về chức vụ gây ra,
chính là những quy định của pháp luật hoặc của điều lệ buộc phải làm mà không
làm, cấm không được làm thì lại làm. Những quy định cụ thể này được thể hiện
3
Nhóm nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “loài ngoại lai xâm hại” cho phù hợp với thực tiễn cũng như
Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008
22
trong từng hành vi phạm tội cụ thể trong từng tội phạm về chức vụ trong chương
này.
Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng
hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao
thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện
công vụ.
Nếu căn cứ vào quy định tại Điều 277 Bộ luật hình sự thì các tội phạm về
chức vụ quy định từ Điều 278 đến Điều 291 Bộ luật hình sự có một số trường hợp
không thoả mãn khái niệm như: tội đưa hối lộ quy định tại Điều 289, tội làm môi
giới hối lộ quy định tại Điều 290 Bộ luật hình sự, không chỉ người có chức vụ
thực hiện mà còn bao gồm cả những người không có chức vụ thực hiện, mặc dù
hành vi của họ cũng xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Như vậy, tên chương và khái niệm các tội phạm về chức vụ không phù hợp
với nội dung của một số tội phạm được quy định trong chương này. Mặt khác, do
pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,
kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Như vậy, Luật phòng, chống tham nhũng đã quy định 12 hành vi tham
nhũng, trong đó có hành vi đã được quy định tại mục A - Các tội phạm về tham
nhũng của chương XXI Bộ luật hình sự, có hành vi được quy định trong các tội
phạm khác, tại chương khác của Bộ luật hình sự.
Thứ hai, về các tình tiết là yếu tố định tội cũng như định khung hình phạt
quy định đối với một số tội chưa hợp lý, một số tình tiết rất khó áp dụng. Ví dụ
như: tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết định tội đối với các tội:
tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi
dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh đối với người khác để trục lợi, nhưng nếu “gây
hậu quả nghiêm trọng khác” thì lại là tình tiết định khung hình phạt của chính các
tội phạm đó trong khi khó có thể phân biệt sự khác nhau giữa hậu quả nghiêm
trọng với hậu quả nghiêm trọng khác của cùng một hành vi phạm tội; ...
Mức trị giá tài sản để làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội và
hành vi vi phạm khác cũng không còn phù hợp, vì tình hình kinh tế-xã hội đã khác
nhiều so với cuối thế kỷ 20.
Thứ ba, về khung hình phạt cũng như mức hình phạt đối với các tội phạm
về tham nhũng, nói chung là nghiêm khắc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
cần phải xem xét lại để quy định khung hình phạt cũng như mức hình phạt cho
phù hợp hơn như: giữa tội tham ô và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt
tài sản tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không có gì khác nhau,
thậm chí tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản còn nghiêm trọng hơn
tội tham ô tài sản, nhưng khung hình phạt và mức hình phạt quy định đối với tội
tham ô nặng hơn đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; giữa
tội nhận hối lộ với tội đưa hối lộ, tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau nhưng
khung hình phạt và mức hình phạt lại như nhau v.v…
2.3.2. Thực trạng áp dụng các quy định về tội phạm chức vụ
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì trong năm 2007, qua công tác thanh
tra đã phát hiện vi phạm với tổng giá trị lên tới hơn 8.000 tỷ đồng và hơn 1 triệu