đề tài nghiên cứu: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN potx - Pdf 12


1
BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

MÃ SỐ: LH-08-05/ĐHL
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
TS. TRẦN THỊ HUỆ
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HÀ NỘI 2009


TRANGMỞ ĐẦU
4PHẦN THỨ NHẤT: TỔNG THUẬT NỘI DUNG CÁC CHUYÊN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
9PHẦN THỨ HAI: CÁC BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

63

1 Khái niệm chung về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ths. Nguyễn Minh Oanh.

63

2 Ý nghĩa, đặc điểm và xác định chủ thể của trách nhiệm dân sự do tài sản
gây ra
PGS.TS. Đinh Văn Thanh

75

3



8 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ, chồng gây thiệt hại.
Ths. Bùi Thị Mừng
151

9 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcó yếu tố nước ngoài.
TS. Nguyễn Hồng Bắc
163

10 Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về Trách
nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại.
TS. Nguyễn Văn Cường & Ths. Bùi Dung Huyền

173

11 Một số vấn đề thủ tục giải quyết tranh chấp và vấn đề thi hành án về
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
TS. Trần Anh Tuấn

186

12 Những bất cập trong qui định của pháp luật về Trách nhiệm do tài sản
gây thiệt hại và hướng hoàn thiện.
TS. Trần Thị Huệ

204 4
MỞ ĐẦU

chiếm hữu, sử dụng, quản lý, vận chuyển ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng. Vì

5
thế, "Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn"
cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài sẽ có những phân tích, luận giải về vấn đề
nghiên cứu, tìm ra những thiếu khuyết trong qui định đó, đưa ra hướng hoàn thiện
pháp luật về chế định này nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đồng
thời góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể. Trước tình hình
đó,việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do tài
sản gây thiệt hại là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cũng là một trong các nhu cầu
cấp bách đối với khoa học pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH do tài sản gây thiệt hại là
một nội dung rất quan trọng trong pháp luật Dân sự Việt Nam cũng như đa số quốc
gia trên thế giới. Bởi, các quy định của pháp luật trong chế định này đã bảo đảm khả
năng bồi thường cho người bị thiệt hại một cách kịp thời và hợp lý. Vì vậy, đây là
một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà
thực tiễn áp dụng pháp luật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này
hoặc liên quan đến trách nhiệm BTTH nói chung, được thể hiện ở các cấp độ khác
nhau:
2.1. Các bài tạp chí
- Phùng Trung Tập - Lỗi và trách nhiệm ngoài hợp đồng. Tác giả bàn về các
hình thức lỗi ý nghĩa của việc xác định lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
- Nguyễn Thanh Bình – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
vài nét về thực tiễn xét xử và hướng hoàn thiện - Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003, trang
14,15,16.
- Trần Thị Huệ- Cần sửa đổi, bổ sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng- Tạp chí Luật học- Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.
- Trần Ngọc Thành- Một số nguyên tắc đầy đủ trong dân sự- Tạp chí Toà án

Chính trị quốc gia, 2004 556t.
+ Ngô Quỳnh Hoa, Vũ Thu Hiền - Hỏi đáp pháp luật về bồi thường thiệt hại
- Nxb Lao động - Xã hội 412 tr.;
+ Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tìm hiểu pháp luật Huyền
Nga, Hương Lan, Châu Loan sưu tập và hệ thống hoá Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp.
Hồ Chí Minh, 1992.
+ Một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên tại các cơ sở đào tạo luật, (Trách
nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra - Phạm Hương Giang; Năng lực

7
chịu trách nhiệm BTTH trong BLDS - Nguyễn Thị Vinh, Các nguyên tắc BTTH -
Nguyễn Thị Loan,…)
Các công trình nghiên cứu trên đây hoặc mới chỉ dừng lại ở bình diện chung
nhất những qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng hoặc nghiên cứu từng loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
trường hợp cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống qui định của pháp
luật về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại. Đề tài “Trách nhiệm dân sự do
tài sản gây thiệt hại – Vấn đề lý luận và thực tiễn” là một đề tài mang tính mới và
không trùng lặp với các đề tài được thực hiện và hoàn toàn độc lập.
3. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh vấn đề trách nhiệm bồi thường
do tài sản gây thiệt hại. Cụ thể, nghiên cứu các quy định của BLDS tại các điều 623,
625, 626, 627 và các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLDS về loại
trách nhiệm này.
3.2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của những quy định của pháp
luật về loại trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra.
- Tìm hiểu quy định của BLDS và các văn bản pháp luật liên quan về trách

PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG THUẬT
NỘI DUNG CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I. Những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra
1. Khái niệm và đặc điểm Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra.
1.1. Khái niệm trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra
Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền được
bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp… Tại Điều 1, Sắc lệnh 97/SL ngày 22.5.1950 đã
ghi nhận : "Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng
với quyền lợi của nhân dân". Trong Hiến Pháp 1992 (Đạo luật cơ bản của Nhà nước)
đối với tài sản của công dân đã ghi nhận cụ thể: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. BLDS 2005 tại Điều 15 cũng ghi nhận cá
nhân có quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản,
quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.
Như vậy, khi tài sản của pháp nhân, của Nhà nước, hoặc tài sản, tính mạng,
sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng
những biện pháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành vi xâm hại trái pháp
luật nhằm mục đích khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi phục
lại tình trạng vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại. Việc khắc phục những tổn hại
được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra chính là trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng.
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm
pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp
dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…. thì trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng sau đây:
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác
thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản

BLDS 1995 cũng như 2005 không có quy định về khái niệm cũng như không có các
quy định chung về trách nhiệm BTTH do tài sản gây mà chỉ quy định ở các trường
hợp BTTH cụ thể. Qua khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung có
thể hiểu trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng phát sinh khi tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại như hoạt động
của nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, cây cối đổ gẫy gây ra thiệt hại, nhà công
trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại, gia súc gây thiệt hại
1.2. Đặc điểm của Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra

11
Là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên trách nhiệm BTTH do tài
sản gây ra cũng mang những đặc điểm của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói
chung. Tuy nhiên trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra nguyên nhân gây ra thiệt hại
không phải là do hành vi của con người mà là do bản thân tài sản gây ra. Chính vì
vậy, trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra còn có những nét đặc thù riêng:
* Về điều kiện phát sinh trách nhiệm.
Nếu như các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung
bao gồm có 4 điều kiện là: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật; (3)
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; (4) Có lỗi
của người gây thiệt hại thì các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chỉ cần ba điều kiện sau đây:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt
hại thực tế đã xảy ra.
Sẽ là không hợp lý khi một đồ vật gây thiệt hại lại xét đến yếu tố hành vi.
Thuật ngữ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật chỉ đúng khi thiệt hại do con người –
thực thể của quan hệ xã hội và là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự – gây ra. Vì
vậy, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do đồ vật gây ra chỉ cần xác định đúng
sự kiện gây thiệt hại là nguyên nhân trực tiếp làm tổn thất tài sản thực tế, giữa chúng

những thiệt hại loại này xảy ra, nhưng việc quy kết trách nhiệm cho chủ thể phải bồi
thường là rất phức tạp. Không ít trường hợp có thiệt hại xảy ra nhưng không quy kết
được trách nhiệm bồi thường cho ai! Trong những trường hợp này đương nhiên chủ
thể bị thiệt hại phải chịu thiệt thòi.
Vì vậy, để bảo đảm sự công bằng, cần xác định theo tiêu chí sau:
- Tài sản đó xác định rõ chủ sở hữu và chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, thì
chủ sở hữu phải bồi thường.
- Nếu đồ vật được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác quyền chiếm hữu,
sử dụng (thông qua hợp đồng thuê tài sản, thuê khoán…) theo ý chí của chủ sở hữu
cần xác định: Nếu có lỗi của người chiếm hữu, sử dụng, thì người chiếm hữu sử
dụng có trách nhiệm bồi thường; nếu người chiếm hữu, sử dụng không có lỗi mà
thiệt hại do chính đồ vật gây ra (mà người sử dụng không thể biết và luật cũng
không buộc phải biết) như đổ nhà, sập trần, xe ô tô bị bất ngờ gẫy khung xe… thì
chủ sở hữu phải bồi thường.
- Chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý, thì những
người này có trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp này cần quy định là trách
nhiệm liên đới để bảo đảm việc khắc phục được nhanh chóng, bảo đảm lợi ích cho
người bị thiệt hại.

13
Cần lưu ý rằng, Điều 626 và Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hai
trường hợp không phải bồi thường là: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị
thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng. Đây cũng là một thực tế rất phức tạp, vì
rằng nếu vì sự vô ý của chủ sở hữu hoặc của người được giao quản lý thì cũng rất
khó quy kết trách nhiệm bồi thường. Ví dụ: cây bị mục rễ tự nhiên đổ không phải do
bão, lụt (là những sự kiện bất khả kháng thông thường); hoặc có những công trình
công cộng lâu năm mà sức bền vật liệu hoặc thời hạn sử dụng đã hết… tự nhiên đổ,
thì cũng rất khó khăn khi xác định trách nhiệm. Nên chăng, cần có quy định về trách
nhiệm kiểm tra tài sản định kỳ nhằm phòng tránh rủi ro cho những người xung
quanh.

Theo quy định trên thì người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự gây thiệt hại thì có thể cha, mẹ hoặc người giám hộ phải chịu trách nhiệm BTTH.
Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp thiệt hại là do hành
vi của con người gây ra còn nếu thiệt hại là do tài sản gây ra thì nguyên tắc này
không thể được áp dụng bởi lẽ cha mẹ chỉ có thể bị suy đoán là có lỗi trong việc
giáo dục, quản lý con cái để con cái có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho
người khác. Còn trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu của tài sản vẫn
là người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự và cha mẹ không
bị coi là có lỗi nếu tài sản đang do người khác quản lý. Hơn nữa, trách nhiệm dân sự
là trách nhiệm về tài sản và người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bằng tài sản
của mình. Do đó chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra phải là chủ sở
hữu của tài sản đó hoặc người đang chiếm hữu, quản lý tài sản chứ không thể là cha
mẹ hoặc người giám hộ. Nếu cha, mẹ, người giám hộ cũng là người quản lý tài sản
thì họ cũng có thể là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Mặc dù người
chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự không có năng lực tố tụng
nhưng người đại diện của họ có thể tham gia còn trách nhiệm vẫn phải thuộc về
những người này và họ phải bồi thường bằng tài sản của chính họ. Và nếu tài sản
của họ không đủ để bồi thường thì cha, mẹ, người giám hộ cũng không phải thực
hiện thay.
+ Về đối tượng bị xâm phạm. Nếu đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung có thể là sức khoẻ, tính mạng, tài sản
danh dự, nhân phẩm, uy tín, thì đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi
thường do tài sản gây ra chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe,còn
thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín không thuộc phạm vi tác động gây thiệt hại
của tài sản. Điều này được lý giải theo hướng, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những
giá trị nhân thân gắn liền với từng cá nhân và danh dự, uy tín gắn liền với từng tổ
chức nhất định. Trong trường hợp bị xâm phạm đến các giá trị kể trên thường được
thông qua hành vi của con người dưới dạng hành động ( như thông qua lời nói, chữ
viết, hành vi cụ thể) trong sự tác động của quá trình nhận thức cũng như ý thức tôn


thuyền, chủ ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội.”
Khi xây dựng nhà ở, công trình xây dựng thì chủ sở hữu phải chuẩn bị các
điều kiện cần thiết đảm bảo an toàn trong xây dựng và có biện pháp đề phòng các
trường hợp có thể gây thiệt hại cho tài sản, tính mạng sức khoẻ của người khác. Tuy

16
nhiên, nếu xây dựng hoặc phá huỷ công trình xây dựng mà gây thiệt hại thì chủ sở
hữu phải bồi thường. Trường hợp này có hai khả năng xảy ra, thứ nhất khi xây dựng
hoặc phá huỷ công trình mà người trực tiếp làm công việc đó có lỗi để gây ra thiệt
hại. Thứ hai, do người chủ không cẩn thận trong việc ngăn ngừa thiệt hại để cho
công trình xây dựng gây thiệt hại đẫn đến chết người, trường hợp này lỗi của chủ sở
hữu là gián tiếp cho nên chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại, đây là trách nhiệm do
tài sản gây ra.
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên là lỗi vô ý
của chủ sở hữu hoặc lỗi của người trực tiếp xây dựng, của người nhận thầu công
trình và hậu quả là chết người. Mặc dù lỗi của ai nũa thì suy đoán cũng là lỗi của
chủ sở hữu vì người xây dựng là người làm thuê hoặc làm giúp cho chủ sở hữu, cho
nên công việc xây dựng hoặc phá dỡ là của chủ sở hữu, vì vậy chủ sở hữu công trình
và phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu có lỗi vô ý vì cẩu thả “không cẩn thận” sẽ bị xử
tội biếm và phải bồi thường tiền mai táng cho nạn nhân là 5 quan tiền.
Khi xây dựng, phá dỡ công trình, việc gây thiệt hại có thể do thợ xây hoặc
người tháo dỡ công trình xây dựng bất cẩn để xảy ra thiệt hại, trước hết chủ sở hữu
phải bồi thường. Nếu những người trực tiếp thực hiên việc xây dựng, phá dở có lỗi,
thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị hình phạt tương xứng.
Ngoài các công trình xây dựng gây thiệt hại, pháp luật còn qui định các
trường hợp do súc vật gây ra thiệt hại. Điều 581 Luật Hồng Đức qui định:“ Người
thả trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng và đền sự
thiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xéo thì biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu
trâu ngựa lồng lên không kìm hãm được thì được miễn tội trượng”.
Theo qui định trên, người trực tiếp quản lý trâu, ngựa mà vô ý như chăn dắt

“vũ khí” nguy hiểm đẻ tấn công con người hay súc vật khác, nếu cắt bỏ thì khả năng
gây thiệt hại không còn. Nếu ngựa hay đá người thì phải buộc rằng hai chân trước và
sau sao cho có thể đi lại được bình thường nhưng không thể co chân đá người khác
và có nghĩa là nếu co hai chân sau lên cùng đá thì con ngựa sẽ bị ngã, cho nên không
thể gây ra thiệt hại.
Đối với chó hay cắn người thì cắt hai tai, đây là biện pháp trừng phạt theo
cách thức dân gian có hiệu quả. Chó phát hiện ra con người từ hướng nào và chuẩn
bị tấn công người hướng đó là do thính giác, vì thế chó bị cắt hai tai sẽ không phát
hiện ra tiếng động từ phía nào, cho nên nó không chủ động tấn công con người.
Đối với chó dại là nguồn nguy hiểm cho bất cứ ai, nếu không giết ngay sẽ gây
nguy hiểm về tính mạng cho người khác, vì thế chủ sở hữu phải giết chó dại ngăn
ngừa chó căn người, nhưng chủ sở hữu không thực hiện việc phòng ngừa đó, cho
nên phải chịu hình phạt là 60 trượng.
Súc vật không những gây thiệt hại về tài sản, tính mạng sức khoẻ cho con
người, mà còn gây thiệt hại cho những con súc vật cùng loại khác như trâu bò đánh

18
nhau. Đặc biệt trâu mộng là con vật luôn thể hiện mình có sức mạnh nhất mà con
khác phải coi chừng và phải nhường lãnh địa kiếm ăn, vì thế, do bản tính kình địch
thủ, cho nên chúng hay đánh nhau đến chết, do vậy, nếu xảy ra hai trâu đánh nhau
dẫn đến hậu quả một con chết thì được xử lý theo qui định tại Điều 586 LHĐ: “Trâu
của hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng ăn thịt, còn sống hai nhà
cùng cầy. Trái luật xử phạt 80 trượng”.
Con trâu là đầu cơ nghiệp của một gia đình nông dân, điều này vẫn còn phù
hợp đến ngày nay ở nông thôn vùng sâu, vùng xa, nếu không có trâu cày, kéo thì ảnh
hưởng đến kinh tế của gia đình người nông dân, vì vậy Luật Hồng Đức qui định là
nếu hai con trâu đánh nhau mà một con chết thì con chết chia đôi cho mỗi chủ sở
hữu một nửa và con còn sống thuộc sở hữu chung của hai nhà. Qui định này nhằm
đảm bảo cho hai gia đình đều có trâu để cầy, kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp của
mỗi gia đình.

(DLTK):
“Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về
sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải
trông coi nữa.
Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại. thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi
vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá sự
phỏng đoán đó thì phải có bằng chứng trái lại mới được.
Bấy nhiêu trường hợp như trên đều có trách nhiệm cả, trừ khi người chịu trách
nhiệm đó có bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm ấy mình không thể ngăn
cấm được”.
Đoạn một điều luật trên qui định về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự là
người nào gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường. Mặt khác nếu một người giám
hộ (bảo lỉnh) người khác mà để người được giám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ
phải bồi thường thiệt hại, vì người giám hộ không thực hiện tốt nghĩa vụ giám hộ
của mình nên phải chịu thay người được giám hộ. Ngoài ra đoạn một điều luật còn
qui định trách nhiệm của người trông coi tài sản mà để tài sản gây thiệt hại thì phải
bồi thường thiêt hại. Người trông coi tài sản có thể là chủ sở hữu, hoặc người được
chủ sở hữu chuyển tài sản thông qua hợp đồng như gửi giữ…, người trông giữ
không bảo quản, coi giữ cẩn thận để tài sản gây thiệt hại là do lỗi của người trông
gữi, cho nên họ phải bồi thường thiệt hại.
Đoạn hai điều luật qui định vật vô hồn là các vật như nhà ở, công trình xây
dựng và các tài sản vô chi vô giác khác gây thiệt hại trong hai trường hợp: Thứ nhất,
do người quản lý trông coi, sử dụng tài sản mà có lỗi vô ý, quản lý, trông coi hoặc
khai thác sử dụng không cẩn thận để tài sản gây thiệt hại. Thứ hai là tài sản tự nó

20
gây thiệt hại mà không có hành vi tác động trực tiếp của người quản lý trông coi.
Trường hợp này người quản lý tài sản có lỗi vô ý gián tiếp là không thực hiện tốt các
biện pháp phòng ngừa có khả năng cho phép, cho nên để tài sản gây thiệt hại, vì vậy
chủ sở hữu hoặc người quản lý trông coi tài sản phải bồi thường thiệt hại. Nếu thiệt

21
an toàn như chất lượng vật liệu không tốt, kỹ thuật xây dựng kém hoặc làm nhà tạm
bợ vì không có khả năng kinh tế…những trường hợp trên mà nhà ở gây thiệt hại thì
được coi là lỗi gián tiếp của chủ sở hữu, cần phải biết hoặc buộc phải biết về khả
năng nhà có thể đổ nát khi gặp mưa to, gió lớn, cho nên chủ sở hữu phải bồi thường
thiệt hại.
Các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hai bộ Dân luật Bắc kỳ
và dân luật Trung kỳ đều dựa trên căn cứ vào lỗi trực tiếp hoặc lỗi gián tiếp của của
chủ sở hữu hoặc quản lý sử dụng tài sản. Nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự
dựa trên yếu tố lỗi đảm bảo được việc xác định đúng trách nhiệm dân sự của người
có hành vi trái luật, bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại trong việc khắc phục hậu
quả thiệt hại do người khác gây ra.
2.4. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của Pháp luật Việt
Nam hiện đại.
* Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của Thông tư 173/UBTP
năm 1972
Bộ dân luật Bắc kỳ được áp dụng ở miền Bắc nước ta đến cuối năm 1959 và
sau đó toà án áp dụng đường lối xét xử được Toà án nhân dân tối cao tổng kết kinh
nghiệm xét xử hàng năm và các văn bản hướng dẫn xét xử của Toà án nhân dân tối
cao. Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại có Thông tư 173-UBTP ngày 23/3/1972 (
TT.173) của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng.
Theo Thông tư 173, để xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm dân sự
hay không cần phải căn cứ vào 4 điều kiện sau:
- Phải có thiệt hại
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, cụ thể là các thiệt hại về tài sản, các chi
phí cần thiết và thu nhập bị mất do xâm phạm đến tính mạng sức khoẻ những thiệt
hại xảy ra phải tính toán được bằng một số tiền cụ thể.
- Phải có hành vi trái pháp luật.
Hành vi trái luật có thể là hành vi phạm pháp hình sự hoặc bất kỳ hành vi nào

Khi súc vật gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ cho người khác lỗi lỗi vô ý
của chủ sở hữu hoặc người trực tiếp quản lý sử dụng thì chủ sở hữu hoặc người trực
tiếp quản lý sử dụng phải bồi thường thiệt hại. Nếu súc vật đã chuyển giao cho
người khác thông qua hợp đồng chuyển quyền sủ dụng thì, người chiếm hữu hợp
pháp phải bồi thường thiệt hại. Theo hướng dẫn trên, thì lỗi của người chủ sở hữu
hoặc của người trực tiếp quản lý sử dụng là lỗi vô ý, không cẩn thận trong việc trông
coi súc vật dẫn đến việc súc vật thoát khỏi sự kiểm soảt của chủ sở hữu, người quản

23
lý sử dụng và gây thiệt hại. Ngược lại, do lỗi vô ý để súc vật gây thiệt hại làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì lỗi cố ý cho súc vật phá hoại mùa màng hoa
mầu của người khác thì tất nhiên chủ sở hữu, người quản lý sử dụng phải bồi
thường thiệt hại.
Về nguyên tắc, khi xác định trách nhiệm dân sự của một chủ thể thì cần phải
xác định chủ thể đó có lỗi trong việc gây thiệt hại. Tuy nhiên, một số trường hợp
không cần xác định lỗi của con người, đó là trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra. Nguyên tắc của trách nhiệm này là chủ sở hữu sử dụng tài sản thì
phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trừ trường hợp chứng minh được thiệt hại
xảy ra hoàn toàn do lỗi người bị hại hoặc do bất khả kháng. Trách nhiệm dân sự do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hướng dẫn tại điểm 5 mục B Thông tư 173.
“ Trường hợp thiệt hại xảy ra hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ, không
do lỗi của ai, thì cơ quan quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt
hại ”
Những năm 1970, miền Bắc đã hoàn thành cải tạo XHCN, cho nên phương tiện
giao thông vận tải và các nguồn nguy hiểm cao độ khác chủ yếu thuộc sự quản lý
của các hợp tác xã, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội cho nên
TT.173 hướng dẫn là cơ quan quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt
hại. Thông tư 173 được áp dụng đến ngày Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực.
* Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của Thông tư 03-TATC
ngày 05/04/1983

cho người chiếm hữu phương tiện phải quản lý những người lái xe. Thông tư này
còn xác định người chủ xe là người chiếm hữu xe trừ khi xe đã được chuyển giao
cho người khác thông qua hợp đồng cho mượn, cho thuê không kèm theo người lái,
xe bị trưng dụng theo mệnh lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi xe
chuyển giao thì người được chuyển giao phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu xe
bị huy động phục vụ các nhu cầu của nhà nước như: chống bão lụt, dịch bệnh, thì
chủ phương tiện vẫn phải BTTH nếu xe gây thiệt hại vì chủ phương tiện vẫn được
coi là thực hiện kế hoạch Nhà nưóc, được Nhà nước cung cấp cho kinh phí, nhiên
liệu, v.v Có thể nói, đây là quy định hoàn toàn không phù hợp với lợi ích của chủ
xe mà cần được hiểu rằng trong trường hợp này, xe đã được chuyển giao và Nhà
nước chính là người đang chiếm hữu xe của cá nhân để phục vụ lợi ích công cộng,
không cân bằng giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, dẫn đến hậu quả rất khó khăn
trong việc khuyến khích chủ xe thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
* Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của BLDS 1995 và 2005
Trong Bộ luật dân sự 1995 và được sửa đổi bổ sung năm 2005, các qui định về
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra không thay đổi, bổ sung mà thay đổi số các
điều luật. Qui định bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra gồm các điều luật sau đây:
Điều 627 BLDS 1995 (Đ623 BLDS 2005)-Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra. Điều 628 (624)-Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi

25
trường. Điều 629 (625) -Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Điều 630 (625)-Bồi
thường thiệt hại do cây cối gây ra. Điều 631(626)-Bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra. Những qui định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
trong BLDS dựa trên cơ sở pháp lý là lỗi của chủ sở hữu hoặc của người trực tiếp sử
dụng, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó. Những người này có lỗi vô ý hoặc cố ý
để tài sản của mình gây thiệt hại. Ngoài ra, luật qui định trường hợp không cần xác
định lỗi của chủ sở hữu như trách nhiệm dân sự do ngưồn nguy hiểm câo độ gây ra.
3. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của pháp luật của
một số quốc gia trên thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status