LUẬN VĂN: Tranh tụng tại phiên tòa - một số vấn đề lý luận và thực tiễn potx - Pdf 15



LUẬN VĂN: Tranh tụng tại phiên tòa - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập đến vấn đề
tranh tụng trong tố tụng hình sự như: "Tranh tụng trong tố tụng hình sự" của tác giả
Nguyễn Đức Mai trong cuốn kỷ yếu: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố
tụng hình sự Việt Nam" - Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1995; bài "Về tranh tụng
tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân số
5/2003; bài "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự" đăng trong Tạp chí Kiểm
sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại Thắng; bài viết của nhiều tác giả trong Đặc san
nghề luật số 5/2003 về chuyên đề mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên khảo "Cải cách tư
pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do TSKH Lê Cảm và
TS. Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, có nhiều bài viết của các tác giả (Nxb Đại học
quốc gia, 2004) Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định liên
quan tranh tụng và còn khá nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới
hoạt động xét xử của ngành Tòa án Việt Nam theo hướng tranh tụng.
Trước yêu cầu của thực tế, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố
tụng hình sự tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội; đồng thời góp phần làm sáng tỏ
về mặt lý luận, tác giả chọn đề tài: " Tranh tụng tại phiờn tũa - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn " làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý luận và
thực tiễn, bản chất, nội dung của tranh tụng tại phiên tòa, chỉ ra những bất cập còn tồn tại
của việc tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta hiện nay, thông qua đó đề xuất những giải
pháp thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hướng tới xây dựng
một phiên tòa hình sự thực sự công bằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cải cách
tư pháp.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt ra là:
1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa như: khái
niệm, đặc điểm, điều kiện, yêu cầu của tranh tụng tại phiên tòa; Cơ sở pháp lý quy định

pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; phương
pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với những chuyên gia đầu ngành, những người làm công
tác thực tiễn lâu năm); phương pháp khảo sát thực tiễn tranh tụng tại những phiên tòa
hình sự.
5. Những điểm mới của luận văn
Là công trình đầu tiên đề cập và giải quyết vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, luận
văn có những điểm mới sau:
1- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên tòa, góp phần nâng cao nhận
thức về nội dung, bản chất của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.
2- Luận văn khảo cứu các quy định pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa, đánh giá
thực trạng áp dụng các quy định đó khi xét xử và chỉ ra những hạn chế tồn tại trong hoạt
động tranh tụng tại phiên tòa hình sự, cũng như làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tồn
tại đó.
3- Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, về cơ chế tổ chức, về đội ngũ cán bộ
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự mà luận văn đưa ra sẽ
giúp ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng nâng cao hiệu
quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Tranh tụng tại phiên tòa trước yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay.
Chương 2: Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa.


kiến (prejudice) đối với Bồi thẩm đoàn. Việc quyết định bị cáo có tội hay không hoàn
toàn thuộc quyền hạn của Bồi thẩm đoàn. Nếu bị cáo bị tuyên có tội, lúc đó chỉ có Thẩm
phán tiếp tục vụ án với vai trò là người quyết định hình phạt, lượng hình. Nếu bị cáo
được tuyên vô tội, vụ án sẽ chấm dứt ngay và cơ quan công tố cũng không được quyền
kháng nghị phúc thẩm vì nguyên tắc (Hiến pháp) không cho phép xét xử hai lần (Double
jeopardy) đối với một bị cáo về cùng một tội. Việc phúc thẩm chỉ đặt ra đối với cả hai
bên khi bị cáo bị tuyên có tội liên quan đến việc định tội hoặc lượng hình. Các thủ tục tố
tụng như hỏi cung, khám nghiệm, hay các thủ tục tố tụng tại phiên tòa đều phải được ghi
âm hoặc ghi hình và nếu có tranh chấp hay mâu thuẫn giữa các bên về tính đúng đắn và
chính xác thì các bản ghi âm sẽ được đưa ra để Tòa án và các bên cùng xem lại [39].
Qua nghiên cứu thì tố tụng tranh tụng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, điều tra tại phiên tòa là điều tra chính thức và chủ yếu: Tố tụng tranh
tụng là hệ thống tố tụng mà Tòa án là cơ quan xét xử và tiến hành tố tụng chính, sự tập trung
nhất của hệ thống tố tụng. Các hoạt động khác như điều tra của cảnh sát, truy tố của công tố
viên chỉ là những hoạt động mang tính hành chính - tư pháp không được điều chỉnh bởi Luật
tố tụng hình sự [15, tr. 256]. Chỉ có Tòa án mới là chủ thể tiến hành tố tụng với ý nghĩa đầy
đủ nhất theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Vì vậy, mọi điều tra của Luật sư và của
cảnh sát có thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau, với những phương pháp thu thập
chứng cứ khác nhau, nhưng đều phải được kiểm chứng tại phiên tòa và thông qua sự xem xét
đánh giá của Hội đồng xét xử thì mới được công nhận về mặt pháp lý và được phục vụ cho
vụ án, khi đó chứng cứ do các bên cung cấp mới có ý nghĩa đối với phán quyết của Tòa án.
Chính vì việc điều tra tại phiên tòa là chủ yếu, thông qua việc xem xét đánh giá chứng cứ
do các bên đưa ra nên phiên tòa theo thủ tục tố tụng tranh tụng thường rất dài và triệu tập
nhiều nhân chứng.
Thứ hai, trong tố tụng tranh tụng hình thành hai bên với những lợi ích đối kháng
rõ rệt - bên buộc tội và bên bị buộc tội: Trong tố tụng tranh tụng, Viện công tố và Luật sư
hoàn toàn bình đẳng nhau, họ được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng
để có thể điều tra độc lập và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình. Viện
công tố dưới danh nghĩa là người đại diện cho quyền lợi của nhà nước đưa ra các quan

tụng: Quy tắc tố tụng (rule of procedures), quy tắc chứng cứ (rule of evidence) và quy tắc
về ứng xử của Luật sư (rule of counsel). Trong ba hệ quy tắc này, quy tắc về chứng cứ có
ảnh hưởng lớn nhất vì nó kiểm soát loại chứng cứ nào có thể được đưa ra trước những
người có thẩm quyền quyết định (decision maker) hay nói cách khác, nó quyết định
chứng cứ có được chấp thuận hay không. Ngay cả Thẩm phán cũng không được tự do lựa
chọn chứng cứ mà họ thấy thích hợp nhất mà phải tuân theo các quy tắc chứng cứ đã
được quy định. Quy tắc về chứng cứ được đặt ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong tranh
tụng qua việc cấm sử dụng những nguồn chứng cứ không đáng tin cậy, sai lệch hoặc có
thể dẫn đến định kiến cho những người có thẩm quyền phán quyết. Nếu coi tố tụng tranh
tụng là một cuộc đấu giữa hai bên có tranh chấp, thì nó đòi hỏi các bên tham gia tố tụng,
nhất là cơ quan cảnh sát và công tố phải triệt để tuân thủ các quy tắc đã được luật quy
định đó và trao thẩm quyền cho Tòa án là cơ quan phải đảm bảo yêu cầu đó trong quá
trình xét xử.
Tố tụng tranh tụng được thực hiện trực tiếp, bằng lời nói nên nhiều tài liệu trong
tố tụng xét hỏi được xem là những chứng cứ quan trọng của vụ án thì trong tố tụng tranh
tụng lại không được công nhận là chứng cứ. Tuy nhiên, để làm rõ các tài liệu liên quan
đến vụ án, chủ nhân của nó sẽ được mời tham gia tố tụng và trực tiếp trình bày trước tòa.
Thứ năm, ở tố tụng tranh tụng thường có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn: Do
vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh tụng là người trọng tài nên thông thường phải
có Bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng. Đoàn bồi thẩm không tham gia vào quá trình tranh
tụng nhưng họ có quyền biểu quyết bị cáo có tội hay không có tội, trên cơ sở đó Thẩm
phán sẽ quyết định về vụ án. Đây là điểm khác biệt so với tố tụng thẩm vấn, trong tố
tụng thẩm vấn Hội thẩm nhân dân tham gia phiên tòa và quyết định cả về việc bị cáo có
tội hay không có tội, quyết định cả về việc lượng hình đối với bị cáo, ở thủ tục tố tụng
thẩm vấn Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có địa vị pháp lý ngang với Hội thẩm nhân dân.
Thứ sáu, yếu tố thú tội và thỏa thuận thú tội (pleas of guilty and plea-
bargaining): ở nhiều vụ án cơ quan cảnh sát và công tố không thể tìm ra đủ chứng cứ để

tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (ở Việt Nam). Và như vậy,
Tòa án sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng nếu bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người
vô tội.
Hệ tố tụng xét hỏi nhấn mạnh phương pháp điều tra, thẩm vấn trong toàn bộ quá
trình tố tụng từ khi khởi tố đến xét xử. Hệ tranh tụng lại chú trọng vào hoạt động đối tụng
giữa các bên trong giai đoạn xét xử với các quy tắc nghiêm ngặt về chứng cứ để đảm bảo
rằng bị cáo được xét xử một cách công bằng. Nếu như ở hệ tố tụng tranh tụng vai trò của
Tòa án là thụ động, quá trình thẩm vấn của Thẩm phán ngay tại phiên tòa cũng chỉ mang
tính chất gián tiếp thì Tố tụng xét hỏi luôn đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán trong
các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Trong hệ tố tụng tranh tụng không có sự phân
chia thành các giai đoạn tố tụng rõ rệt như trong hệ tố tụng xét hỏi nên chứng cứ trong tố
tụng tranh tụng phải tuân theo quy tắc chứng cứ (rule of evidence) ngay cả Thẩm phán
cũng không được tự do lựa chọn chứng cứ mà họ thấy thích hợp nhất.
Viện công tố ở những nước theo thủ tục tố tụng tranh tụng có quyền hạn không
lớn bằng ở những nước theo thủ tục tố tụng xét hỏi nên trong quá trình giải quyết vụ án
nghĩa vụ của các bên đặt ra ngang nhau. Phiên tòa trong tố tụng tranh tụng là một cuộc
đấu giữa hai bên buộc tội - bên gỡ tội, Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn là trọng tài; nhưng
phiên tòa trong tố tụng xét hỏi nhiều khi rơi vào tình trạng diễn lại những gì đã được thực
hiện trước đó, trên cơ sở đó Hội đồng xét xử khẳng định lại các tình tiết, các chứng cứ để
ra bản án. Các nước theo thủ tục tranh tụng gọi phiên tòa của tố tụng xét hỏi là các phiên
họp. Vai trò của Luật sư và những người tham gia tố tụng khác đều bị chi phối thông qua
vai trò của Thẩm phán [41, tr. 5-7]. Thẩm phán trực tiếp xét hỏi và phát triển sự kiện theo
cách của mình còn các bên chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích những gì liên quan đến
các cứ liệu của vụ án.
1.1.2. Tranh tụng tại phiên tòa
1.1.2.1. Đặc điểm phiên tòa trong tố tụng tranh tụng
Tranh tụng tại phiên tòa là quá trình đấu tụng diễn ra giữa hai bên buộc tội và bên

các bên tranh luận tự do là để đảm bảo cho quyền tranh tụng của họ, đảm bảo mọi tình
tiết của vụ án đều được đề cập đến; Tòa án trực tiếp tham gia xét hỏi sẽ bị coi là thiên vị
một bên nào đó. Vai trò của Tòa án tại phiên tòa là trung lập, xem xét đánh giá những
chứng cứ, lập luận của mỗi bên để có quyết định cụ thể.
Phiên tòa trong tố tụng tranh tụng thường rất dài, triệu tập nhiều nhân chứng:
Trong tố tụng tranh tụng khi đã phải mở phiên tòa có Bồi thẩm đoàn thì cũng có nghĩa là
tính chất phức tạp của vụ án đã thấy rõ. Tại phiên tòa Bồi thẩm đoàn và Thẩm phán mới
được biết chứng cứ, cũng như là các luận chứng mà mỗi bên đưa ra. Vừa do tính phức
tạp, vừa do phải thẩm tra đánh giá chứng cứ một cách tỷ mỉ và công nhận từng phần nên
phiên tòa thường kéo dài, cá biệt có trường hợp phiên tòa tới một năm. Tại phiên tòa việc
điều tra mới chính thức được Tòa án tiến hành nên nhân chứng đã được cảnh sát lấy lời
khai vẫn phải ra tòa làm chứng, đây là những người không thể thiếu trong phiên tòa của
tố tụng tranh tụng, khác hẳn với tố tụng xét hỏi là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể
căn cứ lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra để quyết định, vì vậy tại phiên
tòa sự tham gia của người làm chứng thường là đông, có phiên tòa triệu tập tới 600 người
[13, tr. 6].
Bồi thẩm đoàn và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có vị trí ngồi khác nhau cũng
như chức năng công việc: Trong tố tụng xét hỏi, tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân ngồi cùng một bàn và họ ngang quyền với nhau khi xét xử cũng như khi đưa ra
những phán quyết. Nhưng trong tố tụng tranh tụng, Bồi thẩm đoàn ngồi ở vị trí khác với
Thẩm phán chủ tọa họ chỉ có quyền nghe và công nhận bị cáo có tội hay không có tội,
còn việc định tội danh và quyết định hình phạt là của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
1.1.2.2. Điều kiện để tranh tụng tại phiên tòa
Để xác định sự thật khách quan của vụ án thì phiên tòa phải đảm bảo nguyên tắc
tranh tụng, và như thế cần phải có những cơ chế, điều kiện nhất định để thực hiện:
Trước hết, tham gia vào quá trình tranh tụng bao giờ cũng phải có ba chủ thể
của quan hệ tranh tụng. Một bên là Công tố viên nhân danh Nhà nước thực hành quyền

và bị cáo - Luật sư bào chữa cho bị cáo không có sự chuẩn bị kỹ, không dự trù trước
những tình huống có thể xảy ra trong quá trình tranh tụng thì đến khi tranh luận họ sẽ
có thể bị đuối lý và tất nhiên phán quyết của Tòa án sẽ trên cơ sở của bên thuyết phục.
Vì vậy, tự bản thân hai phía buộc tội và gỡ tội sẽ phải có sự chuẩn bị cho quá trình
tranh tụng của mình và luật pháp cũng có những quy định để đảm bảo cho quá trình
chuẩn bị thu thập chứng cứ của các bên, đảm bảo cho việc tranh tụng đạt kết quả cao
nhất. Hai bên buộc tội và gỡ tội không chỉ chuẩn bị kỹ càng về lý lẽ, về chứng cứ được
thu thập trong suốt quá trình trước khi mở phiên tòa mà còn tự đánh giá xem những
luận điểm nào còn yếu, dự trù những tình huống có thể xảy đến trong quá trình tranh
luận để đến khi ra tranh tụng đạt được kết quả theo mong muốn.
Thứ ba, để quá trình tranh tụng đạt kết quả tốt thì cần có một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo. Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh có vai
trò rất lớn trong việc tạo ra điều kiện cho quá trình tranh tụng, ở những nước áp dụng hệ
thống tố tụng tranh tụng - theo nhiều chuyên gia - là những nước có nền văn hóa pháp lý
cao của toàn xã hội [6, tr. 246-251]; và thực tế cũng cho thấy, để áp dụng được tranh tụng
tại phiên tòa cần có sự đồng bộ của các ngành luật riêng lẻ, đầy đủ và chặt chẽ để tạo ra
cơ chế cho tranh tụng.
Bên cạnh đó, về cơ sở vật chất như phòng xử án phải đáp ứng các điều kiện về
tính trang nghiêm, đảm bảo các phương tiện kỹ thuật như ánh sáng, âm thanh, đảm bảo
phòng cách ly nhân chứng, bị cáo, thậm chí có cả Camera để đảm bảo tính công khai dân
chủ. Quá trình chuẩn bị phiên tòa phải tốt, bởi lẽ chỉ khi triệu tập đầy đủ những người
tham gia tố tụng đến phiên tòa thì mới có điều kiện đầy đủ để tiến hành việc tranh tụng
được tốt. Trường hợp vắng mặt một số người tham gia tố tụng sẽ gây nên tốn kém, làm
cho phiên tòa phải hoãn hoặc phải xử dài ngày, làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử.
1.1.2.3. Yêu cầu của tranh tụng tại phiên tòa
Tranh tụng tại phiên tòa phải đảm bảo tính dân chủ, công khai nhưng vẫn thể
hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đây là yêu cầu xuyên suốt quá trình tranh tụng, nếu

trả lời chất vấn những nội dung chính của vụ án, có như vậy tranh tụng mới đạt hiệu
quả.
1.1.2.4. Nội dung của tranh tụng tại phiên tòa
Xuất phát từ bản chất, mục đích của tố tụng tranh tụng nên tại phiên tòa phải giải
quyết các nội dung sau:
Thứ nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tọa phiên tòa các bên hỏi và trả lời câu hỏi để
làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tại phiên tòa để làm sáng tỏ sự thật vụ án thì
tranh tụng là quá trình quan trọng, nó bao gồm việc chất vấn liên tục, tranh luận giữa một
bên đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công tố - bên buộc tội, còn bên kia là bên gỡ
tội - bị cáo và Luật sư, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo. Công tố viên nhân
danh Nhà nước sẽ là người đưa ra những chứng cứ, những lập luận để bảo vệ lời buộc tội
(cáo trạng), và đến lượt bị cáo và người bào chữa thể hiện ngay thái độ của họ đối với lời
buộc tội đó. Sau khi xem xét chứng cứ do bên buộc tội đưa ra, Hội đồng xét xử xem xét
đến chứng cứ do bên gỡ tội đưa ra và những lý lẽ để bào chữa. Đây là quá trình mà mỗi
bên đều dùng những lý lẽ, chứng cứ để chứng minh cho luận điểm của mình nên có thể
nói những lý lẽ đó hoàn toàn trên cơ sở ý chí chủ quan của mỗi bên, và chứng cứ là để
phục vụ cho ý chí đó. Vì vậy, cần thiết phải có người đứng ra là trọng tài giữa việc tranh
tụng đó, chỉ có Tòa án mà ở đây là Hội đồng xét xử đảm nhiệm công việc đó là khách
quan và chính xác nhất xét cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Chủ tọa phiên
tòa không chỉ là người điều khiển phiên toà nói chung mà họ cũng là phần quan trọng
không thể thiếu của quá trình tranh tụng. Chủ tọa phiên tòa với vai trò chủ trì, điều khiển
phiên tòa có toàn quyền quyết định nội dung việc xét hỏi, hướng cho hai bên hỏi và trả
lời câu hỏi đi vào trọng tâm của vấn đề, nhằm giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa tạo
điều kiện cho các bên tranh luận không hạn chế nhưng cũng tránh cho các bên đi vào
những tình tiết vụn vặt không có giá trị làm sáng tỏ nội dung vụ án hoặc Chủ tọa phiên
tòa dừng việc hỏi và đáp giữa hai bên hướng sang vấn đề khác nếu nội dung đó đã được
làm sáng tỏ. Trong quá trình đó Hội đồng xét xử luôn thể hiện sự khách quan, tập trung

trước Hội đồng xét xử và những người tham dự phiên tòa. Vì vậy cả hai bên sẽ cố gắng
đề cập đến mọi tình tiết có lợi nhất của vụ án một cách trực tiếp, liên tục. Họ chất vấn
nhau nhưng không phải vô tổ chức mà dưới sự điều khiển của Thẩm phán - Chủ tọa phiên
tòa. Họ có quyền phản đối quan điểm của bên kia đặt câu hỏi, đưa ra những chứng cứ để
chứng minh cho luận điểm của mình phản bác lại bên kia. Trong quá trình đó họ toàn
quyền tranh luận về những vấn đề để làm sáng tỏ vụ án, việc tranh luận không bị hạn chế
nếu như không đi ra ngoài nội dung vụ án. Có quyền vận dụng những quy định của pháp
luật để đề nghị Chủ tọa phiên tòa có những quyết định tại phiên tòa thuận lợi cho việc
tranh tụng và chứng minh sự thật của vụ án. Đây là cuộc đấu giữa hai bên buộc tội và gỡ
tội nên nó có sự đối kháng rõ rệt và phần thắng sẽ thuộc về bên nào có những chứng cứ
thuyết phục, lý lẽ sắc bén hơn để Hội đồng xét xử và người tham dự phiên tòa chấp nhận.
Thứ ba, đảm bảo việc đưa ra xem xét các chứng cứ, tài liệu minh chứng cho luận
điểm của mỗi bên. Trong quá trình tranh tụng, chứng cứ là căn cứ quan trọng để làm sáng
tỏ sự thật của vụ án. Tranh tụng tại phiên tòa là trung tâm của hoạt động tố tụng, ở thủ tục
tố tụng tranh tụng không chia thành các giai đoạn rõ rệt nên cũng không có giai đoạn điều
tra riêng biệt mà chỉ có sự thu thập chứng cứ chuẩn bị của hai bên buộc tội và gỡ tội.
Trên cơ sở sự chuẩn bị ấy, tranh tụng được diễn ra tại phiên tòa. Thông qua phiên tòa Hội
đồng xét xử có phán quyết đối với bị cáo - có tội hay không có tội, ở mức độ nào, hình
phạt ra sao. Quá trình xem xét đánh giá chứng cứ được xác định qua hoạt động tranh
tụng, chứng cứ được đánh giá không đúng làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật
khách quan của vụ án và như vậy hoạt động tranh tụng không còn ý nghĩa. Chủ tọa phiên
tòa sẽ đảm bảo cho việc đưa ra chứng cứ của mỗi bên, thông qua quá trình hỏi đáp, chất
vấn liên tục giữa hai bên buộc tội và gỡ tội Hội đồng xét xử và những người tham dự
phiên tòa có thể thấy được những điểm còn mâu thuẫn của lý lẽ giữa các bên, thấy được
sự không thuyết phục của chứng cứ mà bên nào đó đưa ra. Từ đó xem xét đánh giá chứng
cứ được chính xác. Đây là một cuộc đấu chủ yếu diễn ra giữa hai bên buộc tội và gỡ tội
nhưng để cuộc đấu đó được khách quan và có chất lượng thì phải đảm bảo được sự minh
Trong hoạt động của các cơ quan điều tra thì tình trạng vi phạm tố tụng hình sự
nói chung và tình trạng vi phạm quyền lợi chính đáng của bị can, bị cáo nói riêng còn phổ
biến. Việc dùng nhục hình để bức cung người bị tạm giữ, bị can, bị cáo dẫn đến việc bị
can, bị cáo chết trong trại giam vẫn còn. Điều tra viên không đủ năng lực, trình độ hoặc
do thói quen lề lối làm việc nên còn phổ biến việc mớm cung, dụ cung, ép cung.
Theo báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kì họp thứ 2
Quốc hội khóa XI, trong giải quyết vụ án hình sự vẫn còn hiện tượng để quá hạn điều tra,
truy tố, xét xử; dùng nhục hình và làm sai lệch hồ sơ vụ án. Cũng theo báo cáo này, trong
năm 2002, tội xâm phạm hoạt động tư pháp khởi tố 178 vụ, trong đó có 3 vụ dùng nhục
hình, 2 vụ làm sai lệch hồ sơ vụ án, 2 vụ thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn.
Trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta, tuy không phải là phổ biến nhưng đã
từng tồn tại rất nhiều những vụ việc dùng thủ đoạn phi nhân tính để ép cung bị can, thậm
chí có những trường hợp dùng nhục hình dẫn đến chết người. Vì vậy cho nên ép cung,
dùng nhục hình, không tôn trọng quyền của bị can, bị cáo, không để cho bị can, bị cáo có
cơ hội tự bảo vệ mình cần phải được loại bỏ trong xã hội ngày nay thông qua các quy
định cụ thể của pháp luật và việc tạo ra một cơ chế để triệt tiêu hoàn toàn những khả năng
có thể phát sinh ra những vi phạm đó.
Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã dành hẳn một chương quy định về
vấn đề tranh luận tại phiên tòa, nhưng do nghĩa vụ chứng minh tội phạm vẫn là một trách
nhiệm của Tòa án nên còn có Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa sa đà nhiều quá trong việc
xét hỏi, thẩm vấn mà không dành nhiều thời gian cho việc tranh luận. Nội dung thẩm vấn
và cách đặt câu hỏi của Tòa án chủ yếu dựa vào kết luận điều tra và cáo trạng, ngôn
phong thẩm vấn thể hiện sự truy bức khiến bị cáo vốn đã có địa vị pháp lý thấp kém lại
càng thêm lúng túng khi trình bày trước tòa. Có những trường hợp thay vì phải kiểm tra
tính hợp pháp của các chứng cứ một cách công khai tại tòa, Chủ tọa phiên tòa lại nhắc
hoặc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và cho rằng bị cáo không thành khẩn
khai nhận [35, tr. 4-7]. Do việc xét xử phần lớn và chủ yếu vẫn dựa vào những tài liệu do
cơ quan điều tra thu thập, xây dựng vì vậy chất lượng xét xử phụ thuộc rất nhiều vào kết

nhắc lại mãi cái điệp khúc tôi vẫn bảo lưu quan điểm của mình. Lại có những Kiểm sát
viên ra phiên tòa trong suốt thời gian xét hỏi không xét hỏi một câu nào mà chỉ đọc bản
cáo trạng rồi ngồi xem, đùn đẩy toàn bộ trách nhiệm thẩm vấn lên Hội đồng xét xử, khi
kết thúc phần xét hỏi thì đọc bản luận tội. Có những trường hợp trả lời câu hỏi của Luật
sư thì lại không đi vào trọng tâm vấn đề, khi bác bỏ luận điểm của Luật sư thì không đưa
ra được căn cứ thuyết phục khiến những phiên tòa với sự đối ứng chan chát, những pha
cãi nhau nảy lửa với những đột biến gay cấn, ly kỳ chỉ có thể được chúng ta mục kích
trên phim ảnh nước ngoài.
Những thiếu sót và sai lầm như trên không khỏi khiến cho những người làm công
tác pháp luật và những chuyên gia nghiên cứu pháp luật phải băn khoăn suy nghĩ.
1.2.2. Đổi mới pháp luật trước yêu cầu hội nhập quốc tế
Cách thức của sự phát triển luôn là sự phủ định cái cũ để tìm đến cái mới ưu việt
hơn, pháp luật cũng vậy những quy định đã lỗi thời cần phải được thay thế bởi những quy
định phù hợp hơn với thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, sự phủ định ấy không phải là sự phủ
định sạch trơn mà trên cơ sở kế thừa cái cũ. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì hiện nay tồn
tại hai hệ thống tố tụng cơ bản đó là hệ thống tố tụng xét hỏi và hệ thống tố tụng tranh
tụng. Hệ thống tố tụng xét hỏi thường tồn tại ở những nước theo hệ thống luật dân sự
Civil Law - Việt Nam chúng ta cũng được nhận định là theo hệ tố tụng này; hệ thống tố
tụng tranh tụng được áp dụng rộng rãi ở các nước theo truyền thống luật án lệ Common
law (Anh là đại diện điển hình). Mỗi hệ thống tố tụng có những đặc điểm riêng với những
ưu điểm và nhược điểm của nó. Khi so sánh giữa các ưu điểm và nhược điểm của hai loại
hình tố tụng, nhiều quan điểm (như Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí) cho rằng, tố tụng tranh
tụng có nhiều ưu điểm hơn bởi so với các kiểu tố tụng khác thì tố tụng tranh tụng đề cao
quyền con người hơn, và biểu hiện của việc phát huy tối đa tinh thần dân chủ trong hoạt
động tố tụng, cơ chế vận hành của nó hạn chế đến mức tối đa các trường hợp kết án oan
người không có tội, nó là biểu hiện của một nền văn hóa pháp lý cao ở một quốc gia [6].
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải còn cho rằng, theo quá trình lịch sử, tố tụng xét hỏi đã tồn tại

chuyên gia khác nhau bàn về bản chất của hệ tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay.
Hầu hết ý kiến của các chuyên gia đều thống nhất cho rằng, hệ tố tụng hình sự ở
Việt Nam tuy có chứa đựng yếu tố tranh luận nhưng không mang đặc trưng của tố tụng
tranh tụng bởi lẽ phán quyết của Tòa án không dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên
và quyền lực tại phiên tòa cũng không được san sẻ cho những ngời tham gia tố tụng.
Theo nhận định của tiến sĩ Lê Hữu Thể thì cần phải thống nhất một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ tố tụng hiện nay ở nước ta thuộc hệ tố tụng thẩm vấn (tất nhiên là
so với các quốc gia cũng theo hệ tố tụng thẩm vấn khác, thì ở Việt Nam có những đặc thù
riêng).
Thứ hai, mặc dù hệ tố tụng ở nước ta là hệ tố tụng thẩm vấn, nhưng bản thân nó
có chứa đựng những hạt nhân hợp lý của hệ tố tụng tranh tụng.
Tiến sĩ Lê Hữu Thể cho rằng, sẽ là không có cơ sở nếu khẳng định hệ tố tụng
hình sự ở nước ta không phải là hệ tố tụng thẩm vấn mà cũng chẳng phải là hệ tố tụng
tranh tụng [40].
Không đồng tình với quan điểm của tiến sĩ Lê Hữu Thể, thạc sĩ Ngô Huy Cương
lại có một cách nhìn nhận khác về bản chất của hệ tố tụng hình sự tại Việt Nam. Ông cho
rằng, các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đều là các tầng nấc khác nhau và
cao hơn liên tiếp của hoạt động buộc tội. Song ở đây cần phải lưu ý rằng, Thẩm phán của
Việt Nam chưa phải là nhân vật quan trọng dẫn đầu như vị thế của các đồng nghiệp của
họ ở các nước theo hệ tố tụng thẩm vấn khác, bởi vì hoạt động của họ bị giám sát hay
kiểm sát bởi Viện kiểm sát - nơi mà các quan chức tư pháp giữ quyền công tố trong phiên
xét xử do chính họ là Chủ tọa. Do vậy, thạc sĩ cho rằng, tố tụng hình sự của Việt Nam
không có các đặc trưng quan trọng của tố tụng tranh tụng và cả tố tụng thẩm vấn mà thực
chất đây là một hệ tố tụng riêng biệt có tên gọi là tố tụng buộc tội [8].
Dung hòa giữa hai quan điểm trên, theo ý kiến của bản thân, tác giả cho rằng nếu
chỉ dựa vào một số điều luật quy định không rõ ràng và quá sơ sài mà đã cho rằng hệ tố
tụng Việt Nam có chứa đựng những hạt nhân hợp lý của hệ tranh tụng thì thực sự là chưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status