Vấn đề lý luận và thực tiễn trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Pdf 95

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
MÃ SỐ: LH-08-05/ĐHL
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
TS. TRẦN THỊ HUỆ
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ NỘI 2009
1
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BCA Bộ Công an
BLDS Bộ luật dân sự
BTC Bộ Tài chính
BTP Bộ Tư pháp
BTTH Bồi thường thiệt hại
CP Chính phủ
GTVT Giao thông vận tải
HN & GĐ Hôn nhân và gia đình
NĐ Nghị định
NQ Nghị quyết
QĐ Quyết định
TANDTC Toà án nhân dân tối cao
TT Thông tư
TTLT Thông tư liên tịch
TW Trung ương
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
2
MỤC LỤC

120
6 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây thiệt hại
Ths. Nguyễn Hồng Hải
134
7 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
và cây cối gây ra.
Ths. Vũ Thị Hồng Yến
142
8 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ, chồng gây thiệt hại.
Ths. Bùi Thị Mừng
151
9 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcó yếu tố nước ngoài.
TS. Nguyễn Hồng Bắc
163
10 Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về Trách
nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại.
TS. Nguyễn Văn Cường & Ths. Bùi Dung Huyền
173
11 Một số vấn đề thủ tục giải quyết tranh chấp và vấn đề thi hành án về
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
TS. Trần Anh Tuấn
186
12 Những bất cập trong qui định của pháp luật về Trách nhiệm do tài sản
gây thiệt hại và hướng hoàn thiện.
TS. Trần Thị Huệ
204
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại của trách nhiệm

thế, "Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn"
cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài sẽ có những phân tích, luận giải về vấn đề
nghiên cứu, tìm ra những thiếu khuyết trong qui định đó, đưa ra hướng hoàn thiện
pháp luật về chế định này nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đồng
thời góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi chủ thể. Trước tình hình
đó,việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do tài
sản gây thiệt hại là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cũng là một trong các nhu cầu
cấp bách đối với khoa học pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH do tài sản gây thiệt hại là
một nội dung rất quan trọng trong pháp luật Dân sự Việt Nam cũng như đa số quốc
gia trên thế giới. Bởi, các quy định của pháp luật trong chế định này đã bảo đảm khả
năng bồi thường cho người bị thiệt hại một cách kịp thời và hợp lý. Vì vậy, đây là
một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà
thực tiễn áp dụng pháp luật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này
hoặc liên quan đến trách nhiệm BTTH nói chung, được thể hiện ở các cấp độ khác
nhau:
2.1. Các bài tạp chí
- Phùng Trung Tập - Lỗi và trách nhiệm ngoài hợp đồng. Tác giả bàn về các
hình thức lỗi ý nghĩa của việc xác định lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
- Nguyễn Thanh Bình – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
vài nét về thực tiễn xét xử và hướng hoàn thiện - Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003, trang
14,15,16.
- Trần Thị Huệ- Cần sửa đổi, bổ sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng- Tạp chí Luật học- Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.
- Trần Ngọc Thành- Một số nguyên tắc đầy đủ trong dân sự- Tạp chí Toà án
nhân dân tối cao, năm 2006.
- Đặng Văn Dũng - Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- Đặc san Toà án nhân dân, năm 2006.

Nga, Hương Lan, Châu Loan sưu tập và hệ thống hoá Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp.
Hồ Chí Minh, 1992.
+ Một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên tại các cơ sở đào tạo luật, (Trách
nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra - Phạm Hương Giang; Năng lực
6
chịu trách nhiệm BTTH trong BLDS - Nguyễn Thị Vinh, Các nguyên tắc BTTH -
Nguyễn Thị Loan,…)
Các công trình nghiên cứu trên đây hoặc mới chỉ dừng lại ở bình diện chung
nhất những qui định của pháp luật về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng hoặc nghiên cứu từng loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các
trường hợp cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống qui định của pháp
luật về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại. Đề tài “Trách nhiệm dân sự do
tài sản gây thiệt hại – Vấn đề lý luận và thực tiễn” là một đề tài mang tính mới và
không trùng lặp với các đề tài được thực hiện và hoàn toàn độc lập.
3. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh vấn đề trách nhiệm bồi thường
do tài sản gây thiệt hại. Cụ thể, nghiên cứu các quy định của BLDS tại các điều 623,
625, 626, 627 và các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLDS về loại
trách nhiệm này.
3.2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài là:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của những quy định của pháp
luật về loại trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra.
- Tìm hiểu quy định của BLDS và các văn bản pháp luật liên quan về trách
nhiệm BTTH do tài sản gây ra, qua đó, đối chiếu, so sánh giữa quy định của pháp
luật với thực tiễn về loại trách nhiệm này. Từ đó, đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, góp
phần bảo đảm việc nhận thức và áp dụng quy định của pháp luật được thống nhất
trong thực tiễn.

với quyền lợi của nhân dân". Trong Hiến Pháp 1992 (Đạo luật cơ bản của Nhà nước)
đối với tài sản của công dân đã ghi nhận cụ thể: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. BLDS 2005 tại Điều 15 cũng ghi nhận cá
nhân có quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản,
quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.
Như vậy, khi tài sản của pháp nhân, của Nhà nước, hoặc tài sản, tính mạng,
sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng
những biện pháp cưỡng chế nhất định đối với người có hành vi xâm hại trái pháp
luật nhằm mục đích khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi phục
lại tình trạng vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại. Việc khắc phục những tổn hại
được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra chính là trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng.
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm
pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp
dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…. thì trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng sau đây:
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác
thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản
do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương
XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
9
- Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thoả
mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi trái pháp luật,
có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của
người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện
chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại
do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có
thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên.

chung. Tuy nhiên trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra nguyên nhân gây ra thiệt hại
không phải là do hành vi của con người mà là do bản thân tài sản gây ra. Chính vì
vậy, trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra còn có những nét đặc thù riêng:
* Về điều kiện phát sinh trách nhiệm.
Nếu như các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung
bao gồm có 4 điều kiện là: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật; (3)
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; (4) Có lỗi
của người gây thiệt hại thì các điều kiện xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chỉ cần ba điều kiện sau đây:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt
hại thực tế đã xảy ra.
Sẽ là không hợp lý khi một đồ vật gây thiệt hại lại xét đến yếu tố hành vi.
Thuật ngữ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật chỉ đúng khi thiệt hại do con người –
thực thể của quan hệ xã hội và là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự – gây ra. Vì
vậy, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do đồ vật gây ra chỉ cần xác định đúng
sự kiện gây thiệt hại là nguyên nhân trực tiếp làm tổn thất tài sản thực tế, giữa chúng
có mối quan hệ nhân – quả, thì chủ sở hữu tài sản phải là người chịu trách nhiệm bồi
thường.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do đồ vật gây ra , yếu tố lỗi dường như
không được xem xét đến. Theo quan niệm truyền thống yếu tố lỗi chỉ được xem xét
khi gắn với một chủ thể xác định. Vì vậy, người ta cho rằng gắn lỗi cho đồ vật khi
chúng gây thiệt hại là không thể xảy ra. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, lỗi trong
dân sự là lỗi suy đoán cho nên trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu
tài sản luôn bị coi là có lỗi. Nếu chủ sở hữu chứng minh được mình không có lỗi
cũng sẽ không phải chịu trách nhiệm BTTH ví dụ như trong trường hợp bất khả
kháng. Lỗi của chủ sở hữu trong trường hợp này được hiểu là chủ sở hữu quản lý
không tốt hoặc không đúng quy trình … để đồ vật gây thiệt hại. Trong trường hợp
đặc biệt nếu pháp luật quy định phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi thì chủ

chủ sở hữu phải bồi thường.
- Chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý, thì những
người này có trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp này cần quy định là trách
nhiệm liên đới để bảo đảm việc khắc phục được nhanh chóng, bảo đảm lợi ích cho
người bị thiệt hại.
12
Cần lưu ý rằng, Điều 626 và Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hai
trường hợp không phải bồi thường là: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị
thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng. Đây cũng là một thực tế rất phức tạp, vì
rằng nếu vì sự vô ý của chủ sở hữu hoặc của người được giao quản lý thì cũng rất
khó quy kết trách nhiệm bồi thường. Ví dụ: cây bị mục rễ tự nhiên đổ không phải do
bão, lụt (là những sự kiện bất khả kháng thông thường); hoặc có những công trình
công cộng lâu năm mà sức bền vật liệu hoặc thời hạn sử dụng đã hết… tự nhiên đổ,
thì cũng rất khó khăn khi xác định trách nhiệm. Nên chăng, cần có quy định về trách
nhiệm kiểm tra tài sản định kỳ nhằm phòng tránh rủi ro cho những người xung
quanh.
Đối với trường hợp tài sản thuộc sở hữu Nhà nước như cây cối trong rừng, thú
dữ, động vật khác gây thiệt hại thì lại có những đặc thù riêng. Do Nhà nước là một
chủ thể đặc biệt có rất nhiều đặc quyền và có thể được miễn trừ trách nhiệm nên
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Nhà nước mới chỉ chịu trách
nhiệm BTTH do hành vi của cán bộ, công chức Nhà nước gây ra. Mặc dù Luật Bồi
thường Nhà nước đang được xây dựng và sắp được Quốc hội thông qua nhưng trong
phạm vi điều chỉnh của Luật này cũng loại trừ trách nhiệm của Nhà nước đối với
trường hợp tài sản của Nhà nước gây ra thiệt hại. Do đó, trong trường hợp tài sản
của Nhà nước gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ hỗ trợ cho người bị thiệt hại mà
không phát sinh trách nhiệm BTTH và người bị thiệt hại sẽ phải gánh chịu một rủi
ro.
*Về năng lực chịu trách nhiệm.
Theo quy định tại Điều 606 BLDS về năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân
thì:

nhưng người đại diện của họ có thể tham gia còn trách nhiệm vẫn phải thuộc về
những người này và họ phải bồi thường bằng tài sản của chính họ. Và nếu tài sản
của họ không đủ để bồi thường thì cha, mẹ, người giám hộ cũng không phải thực
hiện thay.
+ Về đối tượng bị xâm phạm. Nếu đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung có thể là sức khoẻ, tính mạng, tài sản
danh dự, nhân phẩm, uy tín, thì đối tượng bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi
thường do tài sản gây ra chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe,còn
thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín không thuộc phạm vi tác động gây thiệt hại
của tài sản. Điều này được lý giải theo hướng, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những
giá trị nhân thân gắn liền với từng cá nhân và danh dự, uy tín gắn liền với từng tổ
chức nhất định. Trong trường hợp bị xâm phạm đến các giá trị kể trên thường được
thông qua hành vi của con người dưới dạng hành động ( như thông qua lời nói, chữ
viết, hành vi cụ thể) trong sự tác động của quá trình nhận thức cũng như ý thức tôn
14
trọng các quyền tuyệt đối này và ý thức chấp hành pháp luật của con người. Tuy
nhiên. việc xâm phạm các lợi ích này có thể dẫn đến tổn thất về tinh thần cho người
bị thiệt hại hay thân nhân của họ, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc xác
định đối tương bị xâm hại trong trường hợp tài sản gây thiệt hại lại là danh dự, nhân
phẩm, uy tín
2. Lược sử qui định của pháp luật về trách nhiệm BTTH do tài sản gây
thiệt hại.
Sự phát triẻn của pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói riêng gắn liền với lịch sử truyèn thống đạo đức, gắn liền với nền
văn hoá dân tộc và với quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc Việt
Nam. Qua sử liệu cho thấy, trước thời nhà Lê, xã hội Việt Nam đã trải qua các thời
kì: nhà Đinh (967-1909); nhà Lý (1010-1225); nhà Trần (1226-1399); nhà Hồ
(1400-1406).
Việc nghiên cứu cũng như khảo cổ luật của Việt Nam gặp khó khăn trong việc
tìm kiếm tài liệu, các bộ luật chẳng hạn như Bộ luật Hình thư của nhà Lý, Bộ luật

nên công việc xây dựng hoặc phá dỡ là của chủ sở hữu, vì vậy chủ sở hữu công trình
và phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu có lỗi vô ý vì cẩu thả “không cẩn thận” sẽ bị xử
tội biếm và phải bồi thường tiền mai táng cho nạn nhân là 5 quan tiền.
Khi xây dựng, phá dỡ công trình, việc gây thiệt hại có thể do thợ xây hoặc
người tháo dỡ công trình xây dựng bất cẩn để xảy ra thiệt hại, trước hết chủ sở hữu
phải bồi thường. Nếu những người trực tiếp thực hiên việc xây dựng, phá dở có lỗi,
thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị hình phạt tương xứng.
Ngoài các công trình xây dựng gây thiệt hại, pháp luật còn qui định các
trường hợp do súc vật gây ra thiệt hại. Điều 581 Luật Hồng Đức qui định:“ Người
thả trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng và đền sự
thiệt hại. Nếu cố ý thả cho dày xéo thì biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu
trâu ngựa lồng lên không kìm hãm được thì được miễn tội trượng”.
Theo qui định trên, người trực tiếp quản lý trâu, ngựa mà vô ý như chăn dắt
trâu ngựa trông coi không cẩn thận để trâu, ngựa phá hoại hoa mầu, mùa màng thì bị
phạt 80 trượng và phải đền bù toàn bộ thiệt hại. Trường hợp cố ý cho trâu, ngựa phá
hoại mùa màng, hoa mầu thường là những hành vi mang tính trả thù. Trường hợp
này, việc phá hoại mùa màng không những vi phạm trật tự an ninh xã hội mà còn
làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực của chủ sở hữu, cho nên pháp luật áp
dụng các chế tài nghiêm khắc đối với người vi phạm.
Nếu do bản tính hung dữ, trâu, ngưạ lồng lên mà người chăn dắt không kìm
hãm được việc phá hoại của trâu, ngựa thì chủ sở hữu không có lỗi trong việc trông
coi, cho nên không phải chịu trách nhiêm hình sự, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự
vẫn phải bồi thường thiệt hại.
16
Trâu, ngựa là loại súc vật to lớn giúp con người trong sản xuất kinh doanh, vì
vậy người nông dân thường phải lựa chọn những con súc vật này có tính hiến lành,
không hung dữ, như thế mới có thể điều khiển được chúng. Tuy nhiên, có những
trường hợp trâu, ngựa phá hoại mùa màng là do hành vi bất cẩn của con người hoặc
do hành vi cố ý sử dụng trâu, ngựa làm phương tiên, công cụ để phá hoại mùa màng
của người khác, cho nên chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm

thủ, cho nên chúng hay đánh nhau đến chết, do vậy, nếu xảy ra hai trâu đánh nhau
dẫn đến hậu quả một con chết thì được xử lý theo qui định tại Điều 586 LHĐ:
“Trâu của hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng ăn thịt, còn sống hai
nhà cùng cầy. Trái luật xử phạt 80 trượng”.
Con trâu là đầu cơ nghiệp của một gia đình nông dân, điều này vẫn còn phù
hợp đến ngày nay ở nông thôn vùng sâu, vùng xa, nếu không có trâu cày, kéo thì ảnh
hưởng đến kinh tế của gia đình người nông dân, vì vậy Luật Hồng Đức qui định là
nếu hai con trâu đánh nhau mà một con chết thì con chết chia đôi cho mỗi chủ sở
hữu một nửa và con còn sống thuộc sở hữu chung của hai nhà. Qui định này nhằm
đảm bảo cho hai gia đình đều có trâu để cầy, kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp của
mỗi gia đình.
Qua những điều luật trên, Luật Hồng Đức đã qui định tương đối đầy đủ trách
nhiệm dân sự của chủ sở hữu khi các loại tài sản của mình gây thiệt hại cho người
khác. Điều này chứng tỏ các nhà làm luật đã dự liệu được các trường hợp tài sản có
thể gây ra thiệt hại và thể hiện cái nhìn tương đối toàn diện về trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đương thời.
2.2. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo Luật Gia Long
Những thành quả của Luật Hồng Đức đã không được kế thừa trong luật của
nhà Nguyễn. Vấn đề này do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do
nhà Nguyễn bị ảnh hưởng, phụ thuộc nhiều vào chế độ phong kiến phương Bắc, cho
nên trong Hoàng Việt Luật lệ (Luật Gia Long), cấu trúc của Luật Gia Long hoàn
toàn khác so với Luật Hồng Đức. Trong chế định bồi thường thiệt hại thì các qui
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra không có qui định cụ thể
mà chủ yếu qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi con người gây ra
(quyển 6 Hộ luật). Trong quyển 6, chủ yếu qui định về các hành vi gây thiệt hại về
tài sản của Vua hoặc quan lại triều đình mà không có qui định về bồi thường thiệt
hại tài sản của công dân. Điều này có thể được giải thích là trong xã hội nhà Nguyễn
pháp luật bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của giai cấp thống trị nhằm củng cố địa vị của
giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động.
2.3. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của các Bộ Dân luật

Đoạn hai điều luật qui định vật vô hồn là các vật như nhà ở, công trình xây
dựng và các tài sản vô chi vô giác khác gây thiệt hại trong hai trường hợp: Thứ nhất,
do người quản lý trông coi, sử dụng tài sản mà có lỗi vô ý, quản lý, trông coi hoặc
khai thác sử dụng không cẩn thận để tài sản gây thiệt hại. Thứ hai là tài sản tự nó
19
gây thiệt hại mà không có hành vi tác động trực tiếp của người quản lý trông coi.
Trường hợp này người quản lý tài sản có lỗi vô ý gián tiếp là không thực hiện tốt các
biện pháp phòng ngừa có khả năng cho phép, cho nên để tài sản gây thiệt hại, vì vậy
chủ sở hữu hoặc người quản lý trông coi tài sản phải bồi thường thiệt hại. Nếu thiệt
hại xảy ra không phải do lỗi của người quản lý tài sản mà do hành vi trái luật trực
tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh khi người quản lý, trông coi
tài sản chúng minh được việc gây thiệt hại đó là bất khả kháng. Vì trường hợp này
người quản lý không có lỗi trong việc trông coi tài sản, thiệt hại xảy ra nằm ngoài
khả năng kiểm soát của con người, cho nên họ không phải chịu trách nhiêm dân sự.
Trách nhiệm dân sự về thiệt hại do súc vật gây ra được qui tại Điều 715
(DLBK) và Điều 766 (DLTK):
“ Người chủ con vật hay người dùng nó, trong khi nuôi nó mà nó làm tổn hại
sự gì phải chịu trách nhiệm dù khi đó mình có giữ nó hay nó trốn di mặc lòng”.
Súc vật là những con gia súc nuôi trong nhà như trâu, bò, lợn, chó đây là
những con thú dữ đã được thuần hoá, nhưng do bản năng hung dữ có thể xuất hiện
bất cứ khi nào, vì vậy chủ sở hữu, người sử dụng súc vật phải có biện pháp trông coi
cẩn thận, tuy nhiên có trường hợp chủ sở hữu đã áp dụng các biện pháp cho phép để
trông giữ nhưng súc vật vẫn trốn khỏi sự kiểm soát của chủ sở hữu hoặc người sử
dụng nó và gây thiệt hại cho người khác. Súc vật gây thiệt hại có thể do hành vi bất
cẩn của người quản lý nó hoặc do người quản lý đã không lường hết được các khả
năng sẽ gây thiệt hại thì những trường hợp này suy đoán là ngươì quản lý có lỗi
trong việc trông coi, quản lý súc vật để nó gây thiệt hại, vì thế chủ sở hữu hoặc
người quản lý sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại.
Tài sản lớn có giá trị của cá nhân là nhà ở, tài sản này có thể gây thiệt hại do

Theo Thông tư 173, để xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm dân sự
hay không cần phải căn cứ vào 4 điều kiện sau:
- Phải có thiệt hại
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, cụ thể là các thiệt hại về tài sản, các chi
phí cần thiết và thu nhập bị mất do xâm phạm đến tính mạng sức khoẻ những thiệt
hại xảy ra phải tính toán được bằng một số tiền cụ thể.
- Phải có hành vi trái pháp luật.
Hành vi trái luật có thể là hành vi phạm pháp hình sự hoặc bất kỳ hành vi nào
vi phạm pháp luật nói chung hoặc vi phạm một qui tắc sinh hoạt xã hội.
- Phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
21
Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của của hành vi trái luật, hành vi
trái luật là nguyên nhân chủ yếu có tính quyết định làm phát sinh hậu quả cụ thể.
- Người gây thiệt hại có lỗi.
Người gây thiệt hại nhận thức hoặc cần phải nhân thức hành vi của mình là trái
luật và có thể gây ra thiệt hại cho người khác. Lỗi của người gây thiệt hại có thể là
cố ý hoặc vô ý.
Khi có thiệt hại xảy ra, cần phải xem xét thiệt hại do hành vi trực tiếp hoặc
gián tiếp của con người. Hành vi trực tiếp gây thiệt hại là hành của một người đã xác
định được, hành vi đó là trái luật. Hành vi gián tiếp gây thiệt hại là do ngưòi đó
không thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa việc gây thiệt hại, như không
có các biện pháp phù hợp bảo quản tài sản dẫn đến việc tài sản gây thiệt hại Đối
với những trường hợp hành vi trực tiếp gây thiệt hại cần xác định ý thức chủ quan
của người gây thiệt hại là biết, hoặc không biết hành vi của mình là sai để xác định
người thực hiên hành vi đó có lỗi cố ý hay vô ý. Trường hợp tài sản gây thiệt hại do
nguyên nhân chủ quan của người quản lý sử dụng tài sản, thì cần phải xác định lỗi
của người chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng thể hiện như thế nào trong từng
trường hợp cụ thể.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được hướng dẫn tại Mục B
điểm 4 của Thông tư 173 như sau:

giao thông vận tải và các nguồn nguy hiểm cao độ khác chủ yếu thuộc sự quản lý
của các hợp tác xã, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội cho nên
TT.173 hướng dẫn là cơ quan quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt
hại. Thông tư 173 được áp dụng đến ngày Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực.
* Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của Thông tư 03-TATC
ngày 05/04/1983
Thông tư 173 được ban hành trong điều kiện nền kinh tế - xã hội còn chưa phát
triển, trình độ và kỹ thuật lập pháp còn đạt ở mức độ khiêm tốn; vì thế, những qui
định trong Thông tư này chưa thực sự toàn diện, thiếu vắng những qui định liên
quan đến trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, quan hệ xã hội phát sinh
ngày càng nhiều và phong phú hơn trong đời sống dân sự, vì thế, yếu tố khách quan
này đòi hỏi cần có sự hướng dẫn cụ thể hơn. Thực trạng đó đã đưa đến cuộc trao đổi
thống nhất giữa VKSNDTC, Bộ GTVT và với TANDTC. Thông tư số 03-TANDTC
ngày 05/04/1983 được ban hành, hướng dẫn một số quy định về BTTH trong tai nạn
ô tô. Vào thời điểm Thông tư 173 được ban hành thì ở Việt Nam ô tô chỉ thuộc sở
hữu nhà nước, các cá nhân không có quyền sở hữu đối với các loại ô tô, vì thế, trong
mọi trường hợp, chủ sở hữu là nhà nước phải BTTH. Thời gian sau đó, ở Việt Nam,
ô tô không chỉ thuộc sở hữu của nhà nước mà còn thuộc sở hữu của tư nhân. Điều đó
chứng tỏ trong xã hội, khả năng kinh tế của mỗi cá nhân có độ chênh lệch, bởi thế,
23
các nhà lập pháp đã có cách nhìn nhận mới trong việc quy định trách nhiệm BTTH
do tai nạn ô tô. Trên cơ sở kế thừa những quy định của Thông tư 173 về cơ sở để
xác định việc bồi thường cũng dựa vào 4 điều kiện. Tuy nhiên, trong khi quy định về
trách nhiệm BTTH trong tai nạn ô tô đã quy định khá cụ thể về lỗi của từng chủ thể
(lỗi của phía ô tô, lỗi của nạn nhân, lỗi của người thứ 3). Ngoài ra, còn có dự liệu
khi ô tô va chạm mà gây thiệt hại và chỉ có 1 bên có lỗi thì bên có lỗi phải BTTH
còn nếu cả 2 bên có lỗi thì xác định trách nhiệm liên đới. Nếu trong trường hợp tự
thân hoạt động của ô tô mà gây thiệt hại thì phía ô tô phải bồi thường. Trong trường
hợp bất khả kháng như: do cây đổ, đá lở, sét đánh, v.v thì phía ô tô không phải bồi
thường. Người phải BTTH cũng phải xác định tương đối cụ thể trong Thông tư 03,

để tài sản của mình gây thiệt hại. Ngoài ra, luật qui định trường hợp không cần xác
định lỗi của chủ sở hữu như trách nhiệm dân sự do ngưồn nguy hiểm câo độ gây ra.
3. Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo quy định của pháp luật của
một số quốc gia trên thế giới.
3.1. Pháp luật của Cộng hoà Pháp
Pháp luật luật dân sự của Pháp ảnh hưởng mạnh đến pháp luật dân sự của nhà
nước phong kiến Việt Nam thời kỳ thuộc địa, vì thế các qui định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung trong các Bộ dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đều
giống Bộ luật dân sự Pháp.
Điều 1384 Bộ luật dân sự Pháp qui định:
“Mỗi người phải chịu trách nhiệm không những về thiệt hại do mình gây ra
mà cả về thiệt hại do những người mà mình chịu trách nhiệm hoặc những vật mà
mình coi giữ gây ra”.
Điều 1385 BLDS Pháp: “ Chủ sở hữu con vật hoặc người sử dụng con vật ấy
phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do con vật gây ra, dù nó đang được coi giữ hoặc
bị xổng ra”.
Điều 1386 BLDS Pháp: “Chủ sở hữu công trình xây dựng phải chịu trách
nhiệm vè thiệt hại gây ra do công trình bị đổ vì thiếu bảo dưỡng hoặc vì khuyết tật
trong khi xây dựng”.
Các qui định trong Bộ dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đã đựợc phân
tích tại phần đầu.
3.2. Pháp luật của Nhật Bản
Trong Bộ luật dân sự Nhật Bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định
tại Chương V- Hành vi không hợp pháp. Chương này qui định về bồi thường thiệt
hại do hành vi không hợp pháp của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại.
Người có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì cần phải xác định người chủ sở hữu, người trực
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status