Những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo luật hình sự Việt Na - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC LỰC

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH
NHIỆM
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HOẠT ĐỘNG NHẰM LẬT ĐỔ
CHÍNH QUYỀN
NHÂN DÂN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

3
MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mụclục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU
1

Chương1: lý luận chung về trách nhiệm hình sự đối với tội
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
9

27
2.1.1.
Khách thể của tội phạm
27
2.1.2.
Mặt khách quan của tội phạm
28
2.1.3.
Chủ thể của tội phạm
35
2.1.4.
Mặt chủ quan của tội phạm
37
2.1.5.
Hình phạt đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
40
2.2.
Phân biệt cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối tội hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân với một số tội phạm khác trong
chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia
42
2.2.1.
Phân biệt cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội phản bội Tổ quốc
42
2.2.2.
Phân biệt cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội bạo loạn
45


cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân
75
3.1.
Yêu cầu khách quan phải hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng
những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
75
3.2.
Những kiến nghị về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
78
3.3.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
82
3.3.1.
Giải pháp phòng, chống tội phạm
82
3.3.2.
Giải pháp tuyên truyền vạch rõ các âm mưu, phương thức, thủ
đoạn của tội phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân
dân
87
3.3.3.
Giải pháp nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị của đội ngũ
cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng
88

KẾT LUẬN
92

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Số lượng vụ án đã khởi tố, truy tố, xét xử về tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân năm 2000 đến
nay
56
2.2
Số lượng bị can, bị cáo đã bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân từ năm
2000 đến nay
58 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một giá trị thiêng liêng
của bất kỳ ai là công dân của đất nước Việt Nam. Được thành lập và trải qua
hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm, chúng ta đã phải đánh
đổi bằng máu và nước mắt, biết bao nhiêu thế hệ hy sinh cả tuổi thanh xuân,
nhiều người đã để lại một phần cơ thể nơi chiến trường, hay sống một cuộc
sống thực vật, tất cả những hy sinh mất mát đó, chỉ nhằm mục đích, giành

tổ chức phản động cũ như: "Việt Tân", "Việt Cách", hàng loạt các tổ chức
phản động mới cũng ra đời như: "Đảng nhân dân hành động", sau này kết
hợp với "Tập hợp thanh niên dân chủ" và Hoàng Minh Chính lập ra"Đảng
dân chủ Việt Nam". Nguyễn Hữu Chánh với "Đảng dân tộc", Nguyễn
Công Bằng với cái gọi là "Đảng vì dân" …
Các tổ chức phản động không còn hoạt động theo những phương
thức, thủ đoạn trước đây. Chúng hoạt động với những phương thức, thủ
đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, với rất nhiều chiêu bài như: lợi
dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, lôi kéo, kích động
gây hằn thù giữa các tôn giáo, dân tộc, nếu có xảy ra mâu thuẫn thì lợi
dụng vấn đề này, để gây áp lực với Nhà nước ta trên bình diện quốc tế.
Bọn chúng lợi dụng thế mạnh về công nghệ thông tin, lợi dụng kẽ hở về
quản lý hành chính trong lĩnh vực đất đai, để gây chia rẽ, lôi kéo người
vào tổ chức phản động, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Hiện nay, mặc dù đất nước ta đang được hòa bình phát triển đúng
hướng, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, nhưng không vì thế mà chúng
ta chủ quan trước những hoạt động chống phá của các tổ chức phản động.
Hơn lúc nào hết chúng ta phải tăng cường các biện pháp làm thất bại chiến
lược "Diễn biến hòa bình", bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ sự tồn tại và
vững mạnh của chính quyền nhân dân. Trong đó xây dựng và hoàn thiện quy
định của pháp luật về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là một
trong những biện pháp để thực hiện mục tiêu trên. Thực tiễn đấu tranh phòng 3
chống tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân trong thời gian qua ở
nước ta đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết về mặt lý luận
như: trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân
dân, cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân, đường lối xử lý của Đảng và Nhà nước đối với tội

Đình Thụ với các bài: "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, lịch sử, thực
trạng và phương hướng hoàn thiện", Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý, Bộ
Tư pháp, năm 1994. "Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự với các
tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia", Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, năm 1995. "Về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc
gia", Tạp chí Khoa học Công an nhân dân, năm 1995; TS. Trần Đình Nhã
"Về sửa đổi, bổ sung Chương I phần các tội phạm của Bộ luật hình sự ", Tạp
chí Khoa học Công an, năm 1996.
Ngoài ra, một số giáo trình do tập thể tác giả biên soạn phục vụ cho
công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học có đề cập đến tội
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như: Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội do
PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2005;
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Tập I), Trường Đại học luật Hà Nội do
PGS. TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân năm 2005;
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (Phần các tội phạm) do tập thể
TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện… biên soạn, Nxb Công an nhân dân,
năm 2001.
Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân của các tổ chức phản
động luôn là vấn đề thời sự, nổi cộm được quan tâm, nghiên cứu, phản ánh
trên các báo, tạp chí, báo điện tử nêu lên các thủ đoạn, phương thức hoạt
động của những con người và tổ chức phản động, qua đó có biện pháp đấu
tranh chống lại các tổ chức này như các bài:"Nguyễn Sĩ Bình và tổ chức Đảng
nhân dân hành động", " Sự thật về cái gọi là Đảng dân chủ Việt Nam" và
"Trần Anh Kim và bước đường tội lỗi", đăng trên trang
http://www.cand.com.vn. Bài viết "Âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để 5
chống phá cách mạng Việt Nam và một số yêu cầu đặt ra", của Trần Đắc

6
Luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận về trách nhiệm hình sự đối với
tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và thực tiễn điều tra, truy tố,
xét xử tội phạm này qua các vụ án, các bản án đã xét xử.
- Chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, vướng mắc trong việc áp dụng. Đề
ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về
tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, nâng cao hiệu quả áp dụng
những quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm này.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, quy định về tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân theo Luật hình sự Việt Nam.
Nghiên cứu các vụ án, các bản án đã xét xử, tìm hiểu một cách sâu
sắc tội phạm này, cũng như một số tội trong Chương "Các tội xâm phạm an
ninh quốc gia", có dấu hiệu pháp lý khá giống nhau, để thấy được những
điểm khác nhau giữa lý luận và thực tiễn.
-Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của
Nhà nước và những giải thích thống nhất trong thực tiễn xét xử của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có liên quan đến tội
phạm này, những số liệu thống kê, tổng kết trong các báo cáo tổng kết
của ngành Tòa án nhân dân,Viện kiểm sát nhân dân, thông tin trên các
báo, tạp chí, báo điện tử để tổng hợp các kiến thức, lý luận về trách
nhiệm hình sự nói chung, trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân nói riêng.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân theo Luật hình sự Việt Nam trong thời gian từ
năm 2000 đến nay trong phạm vi toàn quốc.

8
- Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng, đề xuất các kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định luật
hình sự về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân để đáp ứng yêu
cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong tình hình mới.
6. Ý nghĩa của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên nghiên
cứu một cách khá có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn
về trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân
dân ở cấp độ luận văn thạc sĩ. Kết quả nghiên cứu và những đề xuất của luận
văn có ý nghĩa tích cực nhất định đối với việc nâng cao hiệu quả việc áp dụng
những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này. Qua kết quả nghiên
cứu và các đề xuất trong luận văn, tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ bé
của mình vào việc xây dựng và phát triển lý luận về tội hoạt động nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân nói riêng và pháp luật hình sự Việt Nam nói
chung.
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các
nhà nghiên cứu luật học, cán bộ nghiên cứu, sinh viên, học viên cao học, cũng
như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm hình sự đối tội hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu

và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được, thì Nhà nước xuất hiện" [1, tr. 394].
Theo Jean Jacques Rousseau trong Khế ước xã hội thì: 10
Nhà nước là sản phẩm của một khế ước (một hợp đồng)
được ký kết trước hết giữa những con người sống trong trạng thái
tự nhiên không có Nhà nước dựa trên cơ sở mỗi người tự nguyện
nhường một phần trong số quyền tự nhiên vốn có của mình giao
cho một tổ chức xã hội đặc biệt là Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích
chung của cả cộng đồng [Dẫn theo 22, tr. 64].
Vì vậy, chủ quyền trong Nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước
phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên trong xã
hội đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ họ.
Thực chất, Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng
đặc biệt với bộ máy thực hiện cưỡng chế và quản lý đời sống xã hội; Nhà
nước có lãnh thổ và thực hiện sự quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính
lãnh thổ; có chủ quyền quốc gia; là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp
luật và đảm bảo sự thực hiện pháp luật; có quyền định ra và thu các loại thuế
dưới hình thức bắt buộc.
Từ các đặc điểm trên đi đến định nghĩa về Nhà nước: "Nhà nước là
hình thức tổ chức xã hội có giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công cộng
đặc biệt, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trước hết của giai
cấp thống trị và thực hiện những hoạt động chung nảy sinh từ bản chất của
xã hội" [22, tr. 87].
Khái niệm Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện
đầy đủ trong Điều 2 Hiến pháp năm 1992: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp

khái niệm này đồng nghĩa.
Việc dùng khái niệm chính quyền nhân dân trong các cấu thành tội phạm
của chương " Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" nói chung, tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân nói riêng, có ý nghĩa nhấn mạnh chính quyền mà các
thế lực thù địch đang âm mưu chống phá không mang ý nghĩa bình thường như 12
các thể chế chính trị khác trên thế giới mà đó là chính quyền của toàn thể dân
tộc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam phải đổ biết bao mồ hôi và xương máu, trải
qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, để
giành độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Chính quyền đó phải mãi
mãi trường tồn. Những hành động xâm phạm đến sự tồn tại, vững mạnh của
chính quyền nhân dân tức là xâm phạm đến toàn thể nhân dân Việt Nam, đi
ngược lại xu thế của xã hội. Những hành động này phải bị nghiêm trị để bảo vệ
sự tồn tại vững mạnh của chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chúng ta cũng cần phải làm rõ khái niệm lật đổ chính quyền nhân dân:
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì:"lật đổ" có nghĩa là "làm cho
sụp đổ bằng bạo lực" một chế độ, một chính quyền, một thể chế quyền lực
này bằng một chế độ, một chính quyền, một thể chế quyền lực khác bằng bạo
lực [36, tr. 495].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Lật đổ chính quyền là dùng sức
mạnh chính trị, vũ trang hoặc các phương pháp đặc biệt khác để xóa bỏ bộ
máy thống trị của một giai cấp, một tập đoàn đang cầm quyền, thay thế bằng
bộ máy thống trị của một giai cấp một tập đoàn khác" [35, tr. 662].
Từ khái niệm lật đổ chính quyền trong Từ điển Bách khoa Việt Nam rút
ra khái niệm lật đổ chính quyền nhân dân: "là việc các thế lực phản động dùng
sức mạnh chính trị, vũ trang hoặc các phương pháp đặc biệt nhằm mục đích lật
đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thiết lập
chế độ, Nhà nước theo hệ tư tưởng mà các thế lực phản động tôn thờ". Việc làm

tuyên truyền lôi kéo người khác vào tổ chức; vạch ra kế hoạch hoạt động của
tổ chức.
Hoạt động tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là
việc gia nhập tổ chức phản động khi biết rõ tổ chức ấy có mục đích lật đổ
chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, tán thành, tích cực
hoạt động theo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức đó. Một người bị coi là phạm
tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân phải thỏa mãn đầy đủ các dấu
hiệu của tội phạm. Theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với
năm dấu hiệu của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm 14
cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c)
bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình
sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [4, tr. 102].
Trên cơ sở phân tích trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như sau: Tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân là hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực
hiện nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân.
1.2. TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HOẠT ĐỘNG NHẰM LẬT
ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN
1.2.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là khái niệm cơ bản của Luật hình sự, quan
điểm và nhận thức vầ khái niệm này là cơ sở lý luận cho việc xây dựng các
khái niệm khác của luật hình sự là khái niệm dùng để chỉ hậu quả pháp lí bất
lợi mà một người phải gánh chịu trước Nhà nước và xã hội vì họ đã thực hiện
những hành động mà pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện nhĩa vụ mà
pháp luật hình sự bắt buộc phải thực hiện. Nhà nước bảo vệ những quan hệ
xã hội này bằng việc quy định những cấu thành tội phạm cụ thể và hình phạt

Tuy nhiên, các quan điểm này đều thống nhất trách nhiệm hình sự là
một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý của việc phạm tội. Trách
nhiệm hình sự được thực hiện trong phạm vi quan hệ pháp luật hình sự giữa
một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội. Nhà nước có quyền truy
tố, xét xử và buộc người phạm tội phải chịu hình phạt nhất định tương xứng
với tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ thực hiện và phải mang
án tích trong một thời hạn nhất định sau khi đã chấp hành xong hình phạt.
Như vậy, có thể hiểu: “ Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của
việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối với người
phạm tội”.
1.2.2. Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân 16
Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là hành vi thành lập
hoặc tham gia tổ chức phản động, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
thực hiện nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân.
Trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân cũng biểu hiện đầy đủ những đặc điểm của trách nhiệm hình sự nói
chung đó là:
Trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi thành lập hoặc tham
gia tổ chức phản động hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Ví dụ: Nguyễn Đan Quế (tên gọi khác là Nguyễn Châu), trước năm
1975 là bác sĩ làm việc tại Bệnh viện Chợ Rãy, là người lớn lên và được nuôi
dưỡng dưới chế độ tư bản nên Nguyễn Đan Quế tiếp thu ý thức hệ tư sản
muốn lật đổ chính quyền nhân dân thiết lập Nhà nước theo độ tư bản. Năm

nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và được thể hiện bằng việc áp dụng một
hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định đối
với người phạm tội”.
Để kết luận hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức phản động hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có phạm tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân hay không, hình phạt áp dụng đối với họ như thế nào?
cần phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm
tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được quy định trong Bộ luật
hình sự chưa. Nếu thỏa mãn tức là người ấy đã phạm tội hoạt động nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân.
Như vậy, cấu thành tội phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân.
1.3. NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HOẠT ĐỘNG
NHẰM LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN 18
Nội dung trách nhiệm hình sự đối với tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân chính là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
này, là việc người thực hiện hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức phản
động hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân chịu bị kết tội, phải chịu
biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và chịu mang án tích.
Trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi thành lập hoặc tham
gia tổ chức phản động hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân bắt đầu
kể từ thời điểm Tòa án nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật mà trong đó khẳng định người
đã thực hiện hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức phản động hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành
tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và phải chịu trách nhiệm

hành như thế, đó chính là trách nhiệm hình sự mà người đó phải chịu.
Ví dụ: Trong bản án hình sự sở thẩm số 42/2009/HSST ngày 28
tháng 12 năm 2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử bị cáo Trần
Anh Kim phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được tuyên như
sau:
“…Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh Kim phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân”
2. áp dụng khoản 1 Điều 79, Điều 92, các điểm p, s khoản 1 và khoản
2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Anh Kim: 05 (năm)
năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
07/7/2009.
- Phạt quản chế bị cáo Trần Anh Kim 03 (ba) năm tại địa phương nơi
bị cáo cư trú trước khi phạm tội kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.
- Tước quyền ứng cử và bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước
các cấp dối với bị cáo Trần Anh Kim trong thời hạn 03 (ba) năm, kể từ ngày
chấp hành xong hình phạt tù”. 20
Thời điểm chính thức người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
về một tội phạm nói chung, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
nói riêng là thời điểm ra Quyết định thi hành án, kể từ thời điểm đó người
phạm tội chính thức phải chịu hình phạt trong bán án hình sự mà Tòa án nhân
danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên đối với người
phạm tội.
Theo tiểu mục 1.1. mục 1 Phần I Nghị quyết số 02 /2007/ NQ- HĐTP
ngày 02 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần
thứ năm “ Thi hành bản án quyết định của Tòa án” của Bộ luật tố tụng hình

Trong các vụ án xét xử về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân người phạm tội không những phải chịu hình phạt chính (thường là
hình phạt tù) còn phải chịu một số hình phạt bổ sung như: phạt quản chế, bị
tước quyền ứng cử và bầu cử cơ quan quyền lực Nhà nước các cấp trong một
thời hạn nhất định.
Đổi với việc chấp hành hình phạt quản chế thì hai tháng trước khi hết
hạn chấp hành án phạt tù đối với người phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân bị tuyên hình phạt bổ sung là hình phạt quản chế, Giám thị
trại giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú
để chấp hành hình phạt quản chế.
Khi phạm nhân bị kết án về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân chấp hành xong hình phạt tù, Giám thị trại giam nơi phạm nhân bị kết
án về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có hình phạt bổ sung
là hình phạt quản chế phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người đó về cư trú chấp hành án quản chế. Trại giam phải giao người bị quản
chế kèm theo bản sao bản án, quyết định thi hành án, giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu liên
quan cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tại trụ sở ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú. Cơ quan thi hành án hình sự Công an

Trích đoạn NGHĨA CỦA VIỆC NGHIấN CỨU TRÁCH NHIỆM HèNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HOẠT ĐỘNG NHẰM LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ TỘI HOẠT ĐỘNG NHẰM LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN Giải phỏp phũng, chống tội phạm Giải phỏp tuyờn truyền vạch rừ cỏc õm mƣu, phƣơng thức, thủ đoạn của tội phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chớnh quyền nhõn dõn Giải phỏp nõng cao trỡnh độ nghiệp vụ, bản lĩnh chớnh trị của đội ngũ cỏn bộ trong cỏc cơ quan tiến hành tố tụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status