Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007 – 2011
Đề tài
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CHẾ ĐỊNH TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT
VIỆC
PHẠM TỘI
Giáo viên hướng dẫn
TS. Phạm Văn Beo
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Kiều Trang
MSSV: 5075308
Lớp Luật Tư pháp 3 khóa 33
Cần Thơ 4/2011
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
1
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
1.4. Khái quát chung về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội..............15
1.4.1. Khái niệm....................................................................................................15
1.4.2. Đặc điểm......................................................................................................17
1.5. Phân biệt tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội với phạm tội chưa
đạt...........................................................................................................................19
1.6. Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm ở một số nước
trên thế giới............................................................................................................21
1.6.1. Luật hình sự Liên Bang Nga......................................................................21
1.6.2. Luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định..................21
1.7. Vài nét về quy định của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội từ trước năm 1985 cho đến nay.................................................................22
1.7.1. Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành.............................23
1.7.2. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành và có hiệu lực........23
1.8. Nguyên nhân và ý nghĩa của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội....24
CHƯƠNG 2
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM
DỨTVIỆC PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. Khái quát về miễn trách nhiệm hình sự........................................................26
2.1.1. Khái niệm về miễn trách nhiệm hình sự........................................................26
2.1.2. Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự......................................27
2.2. Các điều kiện để thõa mãn trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội............................................................................................................................27
2.2.1. Việc chấm dứt việc phạm tội phải tự nguyện và dứt khoát............................27
2.2.2. Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể xảy ra trong trường
giúp sức)..................................................................................................................41
CHƯƠNG 3
NHỮNG BẤT CẬP VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỰ Ý
NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN NAY
3.1. Những bất cập trong việc áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội để miễn trách nhiệm hình sự................................................................42
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
4
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
3.1.1. Khái niệm về hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều 19 Bộ luật
hình sự chưa bao quát hết được các chủ thể thực hiện hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt
việc phạm tội...........................................................................................................42
3.1.2. Điều 19 Bộ luật hình sự năm 1999 chưa có quy định cụ thể các giai đoạn mà
người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình
................................................................................................................................43
3.1.3. Điều 18 Bộ luật hình sự chưa có khái niệm pháp lý của hai giai đoạn “phạm tội
chưa đạt chưa hoàn thành” và “phạm tội chưa đạt đã hoàn thành”..........................45
3.1.4. Chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm hình sự của những nguời đồng phạm
khi họ có hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội......................................46
3.1.5. Vấn đề miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 19 Bộ luật hình sự, cho người phạm
tội có những hành động biện pháp tích cực để ngăn chặn hậu quả xảy ra ở giai đoạn
đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành....................................................................46
định miễn trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
trong các giai đoạn thực hiện tội phạm....................................................................53
3.2.7. Cần có văn bản mới duới dạng Nghị định hay Thông tư để huớng dẫn Điều 19
Bộ luật hình sự 1999, tránh tình trạng sử dụng văn bản cũ hướng dẫn cho Bộ luật hình
sự 1985...................................................................................................................54
KẾT LUẬN............................................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
6
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
8
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
9
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
cập khi áp dụng chế định này vào trong thực tiễn. Người phạm tội chưa hiểu rõ trong
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
1
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
trường hợp này thì sẽ được miễn trách nhiệm hình sự nên sợ hãi không dám khai báo
sự thật, hoặc có hành vi trốn tránh gây khó khăn cho việc điều tra, xét xử tìm ra
nguyên nhân sự thật. Chính vì tất cả các lý do nêu trên, nên người viết đã quyết định
chọn vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của mình để hoàn thiện pháp luật, về pháp
luật nói chung và pháp luật hình sự trong chế định này nói riêng. Trong quá trình làm
đề tài, khó tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô để
bổ sung, sửa chữa đề tài hoàn thiện hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Mục tiêu của đề tài là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội
dung cơ bản của chế định “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” theo luật hình sự
Việt Nam. Việc nghiên cứu chế định này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơ bản sau:
*Về mặt lý luận: làm sáng tỏ bản chất pháp lý, từ đó giúp chúng ta xác định
chính xác cơ sở pháp lý của chế định này. Để miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong luật hình sự Việt Nam.
*Về mặt thực tiễn: trên cơ sở phân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những
bất cập của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định “tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội”. Từ đó, đưa ra những bất cập và đề xuất những giải pháp cụ
thể góp phần tiếp tục hoàn thiện chế định này trong thời gian tới. Đồng thời, nhằm tạo
vật lịch sử, luận văn được sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
pháp hệ thống, lịch sử, logic, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh kết hợp với
thực tiễn và một số phương pháp khác mà mà người viết đã vân dụng để hoàn thành
bài luận này.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn thực hiện tội phạm và
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Chương 2: Miễn trách nhiệm hình sự đối với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội trong luật hình sự Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Những bất cập và một số giải pháp hoàn thiện chế định tự ý nửa
chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
3
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHẠM TỘI VÀ
TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT PHẠM TỘI
Việc thực hiện tội phạm là một quá trình thỏa mãn dần các dấu hiệu cơ
bản của cấu thành tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự. Tội phạm diễn ra ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm cho
xã hội cũng khác nhau.
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có những hành vi
tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, nhưng chưa bắt đầu
thực hiện tội phạm đó.
Từ khái niệm trên, có thể nói chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra những
điều kiện cần thiết giúp cho việc thực hiện tội phạm của mình được thuận lợi và
đạt được kết quả như mong muốn. Nó được thể hiện bằng những hành vi cụ thể
được liệt kê tại Điều 17 Bộ luật hình sự như:“tìm kiếm, sửa soạn công cụ,
phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm”. Những
hành này có thể là: lập kế hoạch phạm tội, thăm dò, khảo sát địa điểm phạm tội
làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại. Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn
trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa
thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm. Tức là, chưa có
hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động, chưa xâm phạm đến khách thể được
luật hình sự bảo vệ.
Thời điểm sớm nhất của giai đoạn phạm tội này là thời điểm người phạm tội
bắt đầu có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần, giúp cho việc
thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra và xảy ra được thuận lợi dễ dàng hơn.
Thời điểm muộn nhất là thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện
hành vi khách quan được phản ánh trong cấu thành tội phạm.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
5
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, đòi hỏi chúng ta phải xác định những
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
6
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Hành vi chuẩn phạm tội tuy chưa phải là hành vi trực tiếp, làm biến đổi tình
trạng của đối tượng tác động để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, các khách
thể được luật hình sự bảo vệ. Nhưng đã tạo những điều kiện cần thiết và thuận
lợi cho việc thực hiện tội phạm.
Mục đích phạm tội có đạt được kết quả như mong muốn, của người thực
hiện hành vi phạm tội cũng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Nếu người phạm tội chuẩn bị thực hiện tội phạm một cách kỹ lưỡng, chu đáo thì
nguy cơ có hậu quả xảy ra là rất cao. Chính vì vậy, hành vi chuẩn bị phạm tội là
mối nguy hại đe dọa đến khách thể mà luật hình sự bảo vệ và bị coi là một giai
đoạn của quá trình thực hiện tội phạm. 2 Ví dụ: Do tức giận, nên anh T tát vào
mặt D mấy bạt tay. H là anh ruột của D nhìn thấy rất tức giận nên quyết định trả
thù cho em mình. H ra chợ mua một con dao Thái Lan dấu trong người, chờ gặp
anh T để trả thù. N thấy H đã có rượu lại mua dao và N cũng biết H có tính côn
đồ nên đã báo cho D (em trai của H) biết, để kịp thời ngăn cản. D hay tin đã
ngăn cản và khuyên anh mình về nhà, bỏ ý định giết anh T, H đồng ý và bỏ về.
Tuy H chưa thực hiện ý định giết người, nhưng hành vi chuẩn bị mua dao của H
là có ý định cố ý chuẩn bị từ trước để giết T nếu không có sự ngăn cản kịp thời
của D. Theo quy định của luật hình sự, giết người là tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nhưng chỉ ở mức độ, giai
đoạn chuẩn bị phạm tội.
Người có ý định thực hiện hành vi phạm tội mới chỉ chuẩn bị mà không thực
định thực hiện” 3.
Mặc dầu, Bộ luật hình sự không quy định cụ thể người chuẩn bị phạm một
tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý mới phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện. Nhưng cần hiểu là, chỉ đối với những
tội phạm do cố ý mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, bởi vì chỉ trong trường
hợp cố ý phạm tội, thì người định thực hiện tội phạm mới tìm kiếm, sửa soạn
công cụ phương tiện hoặc tạo ra điều kiện khác để thực hành vi phạm tội. Đồng
thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội phạm rất
nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 7 năm tù
đến 15 năm tù. Và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất
của khung hình phạt từ trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Do đó chỉ người nào chuẩn bị phạm một tội do cố ý mà có mức cao nhất của
khung phạt đối với tội ấy là 7 năm tù đến chung thân hoặc tử hình thì người
chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự. 4 Ví dụ: Tội phản bội tổ
quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự 1999) đây là tội phạm được luật hình sự quy định
phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm chung thân hoặc tử hình). Đây là loại
3
4
Điều 17, Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999, Nxb Chính trị quốc gia Hà
Nội, 2008.
Xem: Nghị Quyết số 01/2000/NQ ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của Phần chung của Bộ luật hình sự 1999.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
8
bảo vệ. Nhưng không thực hiện hành vi đó đến cùng vì những nguyên nhân
khách quan ngoài ý muốn của người đó”.5
5
Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề về giai đoạn phạm tội chưa đạt, Tạp chí khoa học (chuyên san –
Luật), số 4/2002.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
9
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Có ba dấu hiệu xác định trường hợp tội phạm chưa đạt là:
+ Một là, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm.
+ Hai là, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm đến cùng (về mặt pháp
lý). Nghĩa là, hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách
quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Những trường hợp này có thể xảy ra
ở một trong những dạng sau đây:
Chủ thể chưa thực hiện hành vi khách quan mà mới chỉ thực hiện được
hành vi đi liền trước.
Chủ thể đã được thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa thực hiện hết
các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm.
Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa gây ra hậu quả của
tội phạm (ở những tội phạm có cấu thành vật chất).
Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan, có hậu quả xảy ra nhưng không
có quan hệ nhân quả với hành vi khách vi khách quan mà chủ thể thực hiện (ở
+ Lỗi của người phạm tội trong giai đoạn này là lỗi cố ý trực tiếp.
+ Người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội và mong muốn cho hậu
quả xảy ra nhưng hậu quả không xảy ra như dự định của người phạm tội.
So với các hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, thì hành vi phạm tội chưa
đạt nguy hiểm hơn. Nếu ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chủ thể của tội phạm chỉ
thực hiện các hành vi như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện hoặc tạo ra
những điều kiện khác thực hiện tội phạm. Thì các hành vi ở giai đoạn phạm tội
chưa đạt, là các hành vi đã được mô tả trong cấu thành tội phạm như: đâm, chém,
bắn…với mục đích tướt đoạt sinh mạng của nạn nhân trong cấu thành tội giết
người. Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, nhằm chiếm đoạt
tài sản của nạn nhân trong cấu thành tội cướp tài sản…
1.2.3. Dựa vào mặt khách quan và chủ quan phạm tội chưa đạt phân thành hai
trường hợp
1.2.3.1. Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
Là trường hợp, người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi thuộc mặt
khách quan của cấu thành tội phạm. Nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả
không xảy ra (chưa đạt về hậu quả đã hoàn thành về hành vi).
Ví dụ: Vì có mâu thuẫn với nhau, nên anh Nguyễn Văn H cầm sẵn con dao
Thái Lan có mũi sắt nhọn đâm liên tiếp ba nhát vào ngực anh Nguyễn Văn D,
Làm anh D ngã quỵ tại chỗ. Anh H nghĩ D đã chết nên bỏ đi, ngay sau đó có
người phát hiện anh D nằm trên vũng máu vẫn còn thở thoi thóp nên đã kịp thời
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
11
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
6
Đinh Văm Quế, Tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, tr. 118-120.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
12
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Ví dụ: Lan là một cô gái rất xinh đẹp, cô và Hiệp yêu nhau lúc còn học Đại
Học. Khi ra trường đi làm, Lan không còn tình cảm với Hiệp vì Lan đã yêu
Hoàng làm chung cơ quan với Lan. Hiệp ôm hận trong lòng vì bị bỏ rơi nên tìm
cơ hội trả thù. Hiệp nghĩ, nếu như anh không được thì không muốn ai được nên
tìm cơ hội để giết người yêu cũ của mình. Biết Lan đi làm về muộn nên Hiệp đã
chờ sẵn ở đoạn vắng, dấu sẵn dao gâm trong người giả vờ nói chuyện rồi thừa
lúc Lan không để ý để đâm. Nhưng trong lúc xuống tay, thì Hoàng đã xuất hiện
giữ tay của Hiệp lại. Nên Lan tránh được mũi dao nhưng cũng bị mũi dao nhọn
làm sướt cả tay. Trường hợp này, Hiệp phạm tội cố ý giết người nhưng ở giai
đoạn chưa hoàn thành. Vì hậu quả chưa xảy ra theo như dự định của Hiệp vì sự
xuất hiện kịp thời của Hoàng.
Tương tự như trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, phạm tội chưa
đạt chưa hoàn thành cũng có quan điểm cho rằng: ”người phạm tội chưa thực
hiện được hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả”. Và quan
điểm này chỉ đúng với những trường hợp tội phạm chỉ có một hành vi thuộc mặt
khách quan của cấu thành nhưng lại không đúng với những trường hợp có tự hai
hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành. Như trường hợp đối với tội sửa
trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt”8. Nghĩa là, mọi trường hợp người thực
hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện ở giai đoạn chưa đạt đều phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm đó. Không loại trừ tội phạm đó là tội ít nghiêm trọng,
tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng. Bởi lẽ, so
với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì giai đoạn phạm tội chưa đạt nguy hiểm hơn
nhiều. Ở giai đoạn này, người phạm tội đã có hành vi xâm hại khách thể được bảo
vệ, đã trực tiếp đe dọa gây ra những hậu quả cho xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tế xét xử Tòa án nhân tối cao hướng dẫn “chỉ có khi
đầy đủ chứng cứ chứng minh rằng tội phạm mà người phạm tội không thực hiện
được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ thuộc
khoản nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới áp dụng
điều khoản điều luật tương ứng đó. Trong trường hợp không xác định được tội
phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điều
luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều
luật tương ứng đó”9 . Ví dụ: Một người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đang
phá khóa để trộm cắp chiếc Dream II thì bị bắt (giá trị tài sản được xác định
dưới 50 triệu đồng) hoặc một người chưa có tiền án tiền sự đang trộm cắp tài sản
có giá trị một trăm triệu đồng thì bị phát hiện thì những người này sẽ bị xét xử
theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (điểm c tái phạm nguy hiểm hoặc điểm e
chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai mươi triệu
đồng).
8
Điều 17, Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999, Nxb Chính trị quốc gia
Hà Nội, 2008.
9
Xem: Nghị Quyết số 01/2002/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Phần chung của Bộ luật hình sự 1999.
được tài sản gì thì bị phát hiện và bắt giữ. Trong trường hợp này, không thể xác
định được giá trị tài sản bị chiếm đoạt, do đó áp dụng “khoản 2 Điều 107 Bộ
luật tố tụng hình sự, Điều 18 Phạm tội chưa đạt Bộ luật hình sự” tuyên bố Trần
Văn C không phạm tội “trộm cắp tài sản” mà họ đã truy tố.
1.3. Phân biệt khái niệm phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội được hiểu là trường hợp một người tìm kiếm, sửa soạn
công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác cho
việc thực hiện tội phạm. Đây là giai đoạn đầu của hành động phạm tội, là bước
tiếp theo để cụ thể hóa ý định phạm tội.
GVHD: Ts. Phạm Văn Beo
15
SVTH: Trần Thị Kiều Trang
Lý luận và thực tiễn về TNHS chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Cả hai giai đoạn này đều là những dạng của trường hợp tội phạm chưa hoàn
thành hay theo cách gọi khác của Giáo sư Lê Cảm là “trường hợp hoạt động
phạm tội sơ bộ” 10 .
Hai giai đoạn này là các trường hợp phạm tội đều bị dừng lại là do những
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể thực hiện hành vi. Đồng thời,
do nguyên nhân ngoài ý muốn chính là căn cứ pháp lý chung cho cả hai trường
hợp đã nêu. Cũng như phân biệt với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội.
Ngoài ra, ở trường hợp thứ nhất (chuẩn bị phạm tội), người phạm tội chưa
bắt tay vào việc thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong mặt khách quan
của cấu thành tội phạm. Tương ứng thuộc phần các tội phạm Bộ luật hình sự (có