Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành hình phạt tử hình - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUT

PH
MT S V C TIN
V T T 

Chuyên ngành: 


















MC LC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
M U 1
Chương 1: MT S V  CHUNG V   
PHT T T T T
VIT NAM 7
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA THI
HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành hình phạt tử hình 7
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc thi hành hình phạt tử hình 13
1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ CÁC QUY ĐỊNH VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG
THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 15
1.3. THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 24
Chương 2: NHNH V T T
   T T T   VIT
NAM HI C TING 29
2.1. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ
HÌNH THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

phạt tử hình 86
3.3.3. Tăng cường công tác hợp tác quốc tế trong thi hành hình phạt
tử hình 90
KT LUN 93
DANH MU THAM KHO 96
DANH MC BNG

Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Số người bị thi hành hình phạt tử hình từ
năm 2008 - 2013
67 1
M U

p thit c 
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta
chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại với nhiều nước trên thế giới. Sự vận hành của nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang đem lại sự chuyển
biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè
quốc tế đánh giá cao.
Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu ở trên, nền kinh tế thị trường cũng
đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến
phức tạp. Các vụ án giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, lừa

người phạm tội là mối đe dọa nghiêm trọng cho an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội, mặt khác đề xuất bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm cụ
thể Trong khi đó, xét về mặt lý luận, chế định thi hành hình phạt tử hình kể
từ khi Luật thi hành án hình sự được ban hành chưa được quan tâm nghiên
cứu một cách xác đáng và xung quanh chế định này còn nhiều ý kiến khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về thi hành hình phạt tử hình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật.
u c 
Việc nghiên cứu về thi hành hình phạt tử hình đã được một số học giả
nghiên cứu như:
* Về sách, đề tài nghiên cứu:
- Tác giả Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng với cuốn sách “Pháp
luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Tư
pháp năm 2006. Trong tác phẩm này, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề

3
lý luận cơ bản về pháp luật thi hành án hình sự, trong đó có các vấn đề như vị
trí, vai trò của pháp luật thi hành án hình sự, các nhóm vấn đề cụ thể của pháp
luật thi hành án hình sự như thi hành án phạt tù, thi hành án tử hình và thi
hành các hình phạt không giam giữ. Công trình cũng đã trình bày về vấn đề
thi hành hình phạt tử hình tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những
vấn đề cơ bản nhất về thi hành án tử hình và cũng chỉ trình bày trong giới hạn
của một chương nằm trong tổng thể cuốn sách.
- Tác giả Phạm Văn Beo với cuốn sách “Về hình phạt tử hình trong
luật hình sự Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2010. Đây là công trình
nghiên cứu cơ bản đầu tiên có hệ thống nhất về hình phạt tử hình trong luật
hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, do chỉ nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự do
đó việc phân tích vấn đề thi hành hình phạt tử hình trong cuốn sách này còn
rất hạn chế.

luật số 2 năm 2006.;
3. Mm v u ca lu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những quy định của luật hình sự Việt Nam về mục
đích, ý nghĩa của hình phạt nói chung, hình phạt tử hình nói riêng; xem xét
thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình cũng như tham khảo pháp luật hình sự của
một số nước trên thế giới quy định về vấn đề này, người viết nhằm lý giải về
sự tồn tại mang tính cần thiết khách quan của hình phạt tử hình trong luật hình
sự Việt Nam. Từ việc phân tích những vấn đề cơ bản về hình phạt tử hình, đề
tài tập trung nghiên cứu về thi hành hình phạt tử hình trong quy định của luật
TTHS và luật THAHS như trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án, kháng
nghị, bác đơn xin ân giảm, quy trình thi hành án tử hình theo quy định của
luật THAHS Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt

5
tử hình và thi hành hình phạt tử hình, đề tài còn phân tích thực trạng tình hình
áp dụng hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình tại Việt Nam hiện
nay. Qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của việc thi hành hình phạt tử
hình, đề tài có đề xuất các phương hướng hoàn thiện quy định của luật TTHS
và luật THAHS liên quan đến chế định thi hành hình phạt tử hình, và các giải
pháp nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức thi
hành hình phạt tử hình.
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của pháp
luật về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt
tử hình của một số nước trên thế giới.
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy
định của pháp luật về thi hành hình phạt tử hình ở nước ta.

Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình với những quy định tương ứng trong
pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị
hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
- Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
6. Kt cu ca lu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thi hành hình phạt tử hình theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Những quy định về thi hành hình phạt tử hình theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện thi hành hình phạt tử hình

7
Chương 1
MT S V CHUNG V T T 
T T T VIT NAM

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA THI
HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1.1m  m ct t 
Để có thể hiểu về khái niệm của thi hành hình phạt tử hình, trước hết
chúng ta cần nghiên cứu về khái niệm hình phạt tử hình. Hình phạt tử hình là
hình phạt nghiêm khắc nhất do Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng (thường gọi là tội chết, tội tử) để loại trừ vĩnh viễn người
đó ra khỏi đời sống xã hội. Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm
tội có tính nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Trong hệ thống hình phạt thì tử
hình là một hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất
của Nhà nước đối với người phạm tội, bởi lẽ nó tước bỏ đi quyền sống của

ta xét thấy không còn khả năng giáo dục, cải tạo họ. Vì vậy, hình phạt tử hình
không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo đối với người bị kết án. Việc tước bỏ
mạng sống của người bị kết án là nhằm loại bỏ hoàn toàn khả năng thực hiện
tội phạm ở họ, đồng thời răn đe mạnh mẽ những người không vững vàng, dễ
bước vào con đường phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội, góp phần nâng cao khí
thế đấu tranh phòng, chống tội phạm của người dân. Cơ sở thực tiễn của việc
duy trì hình phạt tử hình này là thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở
nước ta cho thấy, địa phương nào hữu khuynh, không áp dụng hình phạt
nghiêm khắc nhất đối với những kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với nhiều
tình tiết tăng nặng, thì ở đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp cả về tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và phong trào quần chúng tham gia đấu

9
tranh phòng, chống tội phạm không mạnh. Vì vậy, hình phạt tử hình cần được
áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bị dư luận kịch liệt lên án.
Do những đặc điểm tâm lý, thể chất của người chưa thành niên, phụ nữ có
thai và xuất phát từ quan điểm nhân đạo, luật hình sự Việt Nam quy định
không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Như vậy có thể hiểu hình phạt tử hình là hình phạt đặc biệt, tước đi
mạng sống của người phạm tội và chỉ được áp dụng đối với những người
phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội.
Vấn đề cần làm rõ thứ hai là khái niệm thi hành án hình sự, Hiến pháp
hiện hành của nước ta khẳng định: các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân
đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những
người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh. Yêu cầu mang tính
nguyên tắc hiến định này đã khẳng định hiệu lực thi hành của tất cả các phán
quyết của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật, đồng thời khẳng định ý nghĩa quan

tụng hình sự, phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết
vụ án hình sự.
Hai là, mục đích của hình phạt chỉ có thể được thực hiện thông qua thi
hành án hình sự. Điều đó có nghĩa, thi hành án hình sự chính là quá trình thực
tiễn hóa mục đích của hình phạt. Ngoài ra, thi hành án hình sự còn có mục
đích: đưa vào cuộc sống một cách đúng đắn và đầy đủ mọi nội dung của hình
phạt đã được Tòa án phán quyết trong bản án, quyết định hình sự, khắc phục
hậu quả do chính tội phạm đó gây ra cho xã hội, làm mất khả năng phạm tội
của kẻ phạm tội, giáo dục, cải tạo kẻ phạm tội thành người lương thiện và tái
hòa nhập cộng đồng người đó thành người có ích cho gia đình và xã hội.

11
Ba là, thi hành án hình sự trước hết được điều chỉnh bằng các quy
phạm pháp luật tố tụng hình sự và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành
nhằm bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và công bằng xã hội. Ngoài ra,
do thi hành án hình sự thường diễn ra trong thời gian dài, liên quan đến nhiều
lĩnh vực, cho nên, ngoài các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, cho nên thi
hành án hình sự còn được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật khác như
hành chính, dân sự, lao động
Bốn là, trong quá trình thi hành, các cơ quan thi hành án tác động trực
tiếp tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng biện
pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết
định của Tòa án.
Thi hành hình phạt tử hình cũng là một bộ phận của thi hành án hình
sự. Bởi lẽ, hình phạt tử hình là một hình phạt trong hệ thống hình phạt được
quy định trong BLHS và trên thực tế hình phạt tử hình vẫn được áp dụng trên
thực tế ở nước ta hiện nay. Thi hành hình phạt tử hình cũng có những đặc
điểm chung và đặc điểm riêng như thi hành án hình sự. Từ khái niệm thi hành
án hình sự theo phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tử

hình phạt tử hình. Hiện nay, các luồng quan điểm cho rằng cần loại bỏ hình
phạt tử hình ra khỏi hệ thống hình phạt cũng xuất phát từ quan điểm này khi
cho rằng nếu áp dụng hình phạt tử hình sẽ không thể khắc phục được các sai
lầm (nếu có). Bởi bản chất của hình phạt tử hình nếu đã được thi hành thì
không thể khắc phục được. Điều này cũng là lý do mà khi thi hành hình phạt
tử hình cần những thủ tục hết sức chặt chẽ và có những bước xem xét lại bản
án, đơn xin ân giảm rất phức tạp. Tất cả những hoạt động đó để đảm bảo
nếu đã thi hành hình phạt tử hình thì không có những sai lầm đáng tiếp xảy ra.
Thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tước đi sự sống

13
của người bị kết án, mà còn gây ra nỗi đau thương, mất mát lâu dài cho người
thân của họ, đồng thời có những tác động tâm lý tiêu cực nhất định lên những
cá nhân trực tiếp thực hiện việc thi hành hình phạt tử hình. Đây là đặc điểm
chúng ta cần lưu ý khi thực hiện công tác chính trị, tư tưởng đối với người
thân của người bị kết án, cũng như đối với số cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm
nhiệm vụ tước đi mạng sống của người bị kết án.
Thứ tư, thi hành hình phạt tử hình không có tính linh hoạt trong quá
trình thi hành. Về lý luận cũng như thực tế đã chỉ ra rằng hình phạt tử hình
bản thân nó chứa đựng duy nhất chỉ một mức độ không thể tăng lên hay giảm
xuống trong những trường hợp tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khác
nhau. Bên cạnh đó, việc thi hành hình phạt tử hình cũng chỉ có áp dụng duy
nhất một lần và một mức độ. Hình phạt tử hình khi đã được áp dụng thì không
có các hoạt động miễn, giảm chấp hành án như hình phạt tù chung thân, tù có
thời hạn, cải tạo không giam giữ Chính vì vậy, việc thi hành hình phạt tử
hình cần phải thông qua các bước xem xét, ân giảm cần thiết trước khi đưa ra
thi hành trên thực tế.
1.1.2  a vit t 
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước

hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng.
Việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tố
tụng hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa
nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp
luật nói riêng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp
luật tố tụng hình sự trong lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình. Mặt khác, việc
quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình còn giúp

15
các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó áp
dụng đúng đắn chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, động viên quần chúng nhân dân tham gia tích vào
cuộc đấu tranh này.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ sở
pháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoa
học luật tố tụng hình sự như tội phạm học, tâm lý học tư pháp, khoa học kỹ
thuật hình sự Đối với tội phạm học, chế định thi hành hình phạt tử hình
trong luật tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu về nhân
thân người bị kết án tử hình, từ đó tìm ra quy luật phạm tội của những người
này. Đối với tâm lý học tư pháp, chế định thi hành hình phạt tử hình có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người bị kết án
tử hình ở giai đoạn xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành, cũng
như ở giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, nhất là ở thời điểm trước khi thi
hành án. Kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm lý của những người bị kết án tử
hình trong hoạt động thi hành hình phạt tử hình, sẽ là tài liệu quan trọng phục
vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử những người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng và góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Đối với khoa học kỹ thuật hình sự, việc quy định trình tự, thủ tục thi
hành hình phạt tử hình là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, đề xuất các
hình thức thi hành hình phạt tử hình tiết kiệm, dễ áp dụng, "nhân đạo" nhất

Về hình thức thi hành án tử hình, Thông tư số 498/P-4 ngày 31-6-1946,
Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư số 498, trong đó quy định: "Thi hành hình
phạt tử hình từ nay dùng súng thay máy chém"[13]. Quy định về hình thức tử
hình này thể hiện bản chất nhân đạo của chế độ mới, khác về chất so với hình
thức tử hình dã man dùng máy chém của chế độ thực dân phong kiến.

17
Trong Quy tắc trại giam được ban hành ngày 12-6-1951, đã quy định
vấn đề chuẩn bị và kết thúc việc thi hành án tử hình tại Điều 6: "Mỗi khi đưa
phạm nhân ra chịu án tử hình, Ban Giám thị phải xét kỹ căn cước để đề
phòng nhầm lẫn" và tại Điều 21 quy định: "Khi thi hành xong một án tử hình,
Tòa án phải báo cho Ủy ban hành chính sở tại để đăng ký việc tử". Vấn đề
xét ân giảm án tử hình cũng đã được quy định trong Thông tư số 335/TTg
ngày 6-7-1954 của Thủ tướng phủ. Theo đó sau khi Tòa án nhân dân đã lên án
tử hình, phạm nhân vẫn có quyền đệ đơn lên Chủ tịch nước xin ân giảm. Đơn
xin ân xá, ân giảm do Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu chuyển lên Bộ
Tư pháp. Bộ Tư pháp làm tờ trình lên Chủ tịch nước quyết định.
Nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định việc thi hành hình phạt tử
hình trong thời kỳ này, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, pháp luật trong giai đoạn này mang tính chất thời chiến,
nhưng cũng đã kịp thời quy định một số vấn đề cơ bản của việc thi hành hình
phạt tử hình. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thi hành hình phạt tử
hình, góp phần vào cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và tay sai.
Thứ hai, việc thi hành hình phạt tử hình được quy định trong nhiều
văn bản pháp luật dẫn tới khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp
luật. Mặt khác, các văn bản quy định về việc thi hành hình phạt tử hình đều
là những văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành, hiệu lực pháp
lý không cao.
Thứ ba, nhiều vấn đề về thi hành hình phạt tử hình chưa được pháp luật
điều chỉnh như cơ quan chịu trách nhiệm thi hành hình phạt tử hình, trình tự,

Người chứng kiến việc thi hành án là một đại diện của Ủy ban hành
chính cơ sở nơi bố trí pháp trường. Người này có nhiệm vụ lập giấy khai tử
cho kẻ bị áp dụng hình phạt tử hình sau khi bắn.

19
Trước khi đưa phạm nhân ra pháp trường, cán bộ căn cước của Sở, Ty
Công an phải đến trại giam, lập danh chỉ bản mới, đem đối chiếu với danh chỉ
bản cũ và các tài liệu khác đầy đủ, chính xác và xác định phạm nhân đó đúng
là phạm nhân bị kết án tử hình và đúng là kẻ sắp bị thi hành án trong kế hoạch
đã định.[12]
Về trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, Chỉ thị quy định:
4. Sau khi trói tay phạm nhân vào cọc đã trông sẵn, thì đại
diện Tòa án nhân dân công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân và
đọc phần kết luận trong bản quyết định duyệt án tử hình hoặc quyết
định bác đơn xin ân giảm của phạm nhân.
5. Bịt mắt phạm nhân bằng một vải băng đen.
6. Hội đồng thi hành án ra lệnh thì cán bộ chỉ huy lực lượng
thi hành án hô đội viên (5 đội viên bắn giỏi được lựa chọn) bắn một
loạt súng trường nhằm thẳng vào tim phạm nhân. Để kết thúc việc
thi hành án tử hình, cán bộ chỉ huy bắn thêm một phát súng ngắn
vào thái dương của phạm nhân.
7. Bác sĩ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã
chết hẳn.
8. Chôn phạm nhân ngay tại gần nơi thi hành án (không cho
phép thân nhân xin xác đem về chôn); tại mả có cắm một biển gỗ
nhỏ ghi rõ họ, tên tuổi và nguyên quán phạm nhân.[12]
Việc không cho phép thân nhân người bị kết án xin xác về chôn trong
Chỉ thị số 138-KC1 là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh chiến tranh lúc đó.
Đặc biệt, trong Chỉ thị này quy định rất rõ các trường hợp tạm hoãn thi
hành hình phạt tử hình. Đây là những quy định, mặc dù không có trong Bộ

Nhà nước nhất trí tán thành việc bác đơn xin ân giảm thì Chủ tịch Hội đồng
Nhà nước ký nghị quyết (Điều 2). Tuy nhiên, đối với những bản án tử hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status