MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM
TỘI CHƯA ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
9
1.1.
Khái niệm, các căn cứ quyết định hình phạt và ý nghĩa của
Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt
25
1.2.2.
Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
30
1.2.3.
Các đặc điểm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
32
1.3.
Khái quát sự hình thành và phát triển của các quy phạm về
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
37
1.3.1.
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước
khi pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
37
1.3.2.
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
đến nay
42
Chương 2: CÁC QUY PHẠM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI,
PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Thực tiễn áp dụng các quy phạm của Bộ luật hình sự Việt
Nam trong trường hợp phạm tội chưa đạt
71
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI,
PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
83
3.1.
Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật
hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt
83
3.1.1.
Về phương diện lập pháp
83
3.1.2.
Về phương diện thực tiễn
88
3.1.3.
Về phuơng diện lý luận
95
3.2.
Giải pháp cụ thể sửa đổi, bổ sung các quy phạm của luật
hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
97
3.2.1.
Nhận xét các quy phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam về
: Quyết định hình phạt
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
Danh môc c¸c b¶ng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thống kê các loại tội phạm theo BLHS Việt Nam năm 1999
48 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm gần đây
thấy rằng tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi, với nhiều
khâu, nhiều thủ đoạn và nhiều giai đoạn khác nhau. Luật hình sự đi vào đời
sống xã hội có vai trò ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống
tội phạm. Một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự là việc quyết
định hình phạt (QĐHP) của Tòa án đối với các trường hợp phạm tội nói
Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng phạm tội đang diễn biến hết sức
phức tạp chính vì lẽ đó mà QĐHP cho những hành vi chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, không thể
không coi trọng. Mặc dù, tội phạm trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt luôn chiếm tỷ lệ không lớn so với các tội phạm hoàn thành, tính
chất và mức độ cũng không nguy hiểm bằng, song không vì thế mà pháp luật
của Nhà nước ta không quan tâm chú trọng.
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay, để đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có
hiệu quả cao, bên cạnh việc cụ thể hóa các căn cứ QĐHP nói chung, việc
nghiên cứu và làm rõ cơ sở pháp lý các quy định QĐHP trong trường hợp đặc
biệt phần nào giải quyết vấn đề đặt ra nêu trên. Mặt khác, hiện nay trong khoa
học luật hình sự Việt Nam, chưa có đề tài nghiên cứu về QĐHP trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt một cách sâu sắc, đầy đủ, có hệ
thống và toàn diện, mà chỉ nghiên cứu trong phạm vi về QĐHP nói chung.
Vì vậy, việc tiếp cận và nghiên cứu đề tài QĐHP trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, những vấn đề lý luận và việc áp dụng
nó trong thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những kiến giải lập pháp hoàn thiện
3
phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, ngăn chặn, hạn
chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội phạm gây ra, điều đó có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn quan trọng. Đây là lý do chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
"Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam" làm
luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trước và sau khi pháp điển hóa lần thứ hai Bộ luật hình sự (BLHS)
Việt Nam năm 1999, các nhà khoa học luật hình sự đã có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu chuyên sâu về QĐHP nói chung, nhưng QĐHP trong
+ TS. Trịnh Tiến Việt: Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức
phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa học (chuyên
san Luật học), số 02/2009.
+ TS. Dương Tuyết Miên: Quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, Tạp chí Luật học, số 4/2001, và "Quyết
định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam", Luận án Tiến sỹ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002.
+ Tác giả Trần Văn Sơn trong: Quyết định hình phạt theo quy định
của Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11/2000.
+ Nguyễn Thị Mai, Chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt, Tạp chí
Toà án nhân dân, số 6/1993, v.v
Ngoài ra, dưới góc độ luận văn thạc sĩ cũng chưa có công trình nào
nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này.
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các sách báo khoa học pháp lý trên
đây đều đề cập đến một số khía cạnh nhất định về QĐHP trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, nhưng chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ
5
là một trường hợp nhỏ trong QĐHP nói chung. Có thể nói, đến nay chưa có
một công trình, hay tài liệu nghiên cứu toàn diện về QĐHP trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Với nội dung đề tài này, tác giả lựa
chọn nghiên cứu làm luận văn của mình, sẽ góp phần làm rõ hơn nữa về việc
QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Trong giai
đoạn hoàn thiện pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
vấn đề QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt càng có
vai trò quan trọng bảo vệ công bằng xã hội, đảm bảo được các nguyên tắc
pháp luật hình sự như: (1) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; (2) Nguyên
tắc công minh; (3) Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm; (4) Nguyên tắc
trách nhiệm do lỗi…
Do vậy, QĐHP đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không
kiến giải hoàn thiện để nâng cao hiệu qủa áp dụng các quy phạm về chế định
này trong luật hình sự Việt Nam, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp từ nay
cho đến năm 2020. Nội dung nghiên cứu của luận văn cũng nằm trong một
mắt xích quan trọng, đó là xem xét hoạt động xét xử của Tòa án đối với việc
QĐHP cho người phạm tội trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình
sự Việt Nam hiện hành, đồng thời luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng
các quy định về QĐHP của Tòa án bằng việc phân tích một số vụ án cụ thể.
5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đề tài luận văn tác giả dựa trên cơ
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
7
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Luận văn cũng vận dụng những luận điểm khoa học
trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên
tạp chí của một số các nhà khoa học hình sự Việt Nam trong và ngoài nước.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp có độ tin cậy cao để làm sáng
tỏ về mặt khoa học cho từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên
cứu như: Lịch sử cụ thể, phương pháp luật học so sánh và phương pháp phân
tích, tổng hợp…
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn tác giả còn vận dụng các
vụ án hình sự và các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để
phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự làm phương pháp
nghiên cứu của luận văn.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM, CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ Ý NGHĨA
CỦA VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt
Khái niệm QĐHP được coi là một trong các khái niệm cơ bản và
quan trọng của luật hình sự Việt Nam, đây là một trong những khái niệm thể
hiện tập trung nhất bản chất giai cấp và chính sách hình sự của Nhà nước ta.
Luật hình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm tới khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, qua đó đưa ra các biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất đối với người phạm tội. Vì vậy, có thể
khẳng định rằng, QĐHP là cầu nối, là một mắt xích quan trọng giữa tội
phạm và hình phạt.
QĐHP là giai đoạn quan trọng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
của Tòa án. Khi chưa có BLHS năm 1985, khái niệm QĐHP chỉ mang ý
nghĩa lượng hình, sau khi có BLHS này ra đời, mới xuất hiện tên gọi quyết
định hình phạt như hiện nay. Mặc dù, là khái niệm quan trọng nhưng cho tới
nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa có một văn bản chính thức để định
nghĩa cụ thể về khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới
góc độ là một khái niệm khoa học luật hình sự mà chưa được quy định trong
hệ thống văn bản pháp lý hình sự có tính chất chính thống.
Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều nhà nghiên cứu về luật hình
sự đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn như:
TS. Nguyễn Ngọc Chí đưa ra định nghĩa về QĐHP:
11
Thứ nhất: Nghĩa hẹp của QĐHP là việc Tòa án ra QĐHP với hình
phạt chính và hình phạt bổ sung.
Thứ hai: Nghĩa rộng của QĐHP là bao gồm cả hình phạt chính và hình
phạt bổ sung, quyết định các biện pháp chấp hành hình phạt, miễn TNHS,
miễn hình phạt hoặc là quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm
mục đích thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt. Ví dụ: Quyết định buộc trả lại
tài sản cho người bị hại, bắt xin lỗi công khai…
Với những nội dung nêu trên thì QĐHP chỉ có thể đặt ra với những
trường hợp người phạm tội phải chịu TNHS và bị áp dụng hình phạt. Trong
hình phạt chính thì đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là chế tài lựa
chọn. Trong khung hình phạt quy định nhiều các loại hình phạt khác nhau thì
QĐHP là sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong phạm vi pháp luật cho phép
để áp dụng pháp luật hình sự với người phạm tội.
Ví dụ: Trường hợp Tòa án QĐHP là tù chung thân hay tử hình thì việc
QĐHP thực chất là việc chọn hình phạt chứ không phải lựa chọn mức hình
phạt cụ thể theo khung hình phạt. Khi áp dụng QĐHP với hình phạt bổ sung
là việc lựa chọn một hay nhiều hình phạt bổ sung mà pháp luật cho phép bổ
sung cho hình phạt chính. Mặc dù vậy, thì hình phạt chính vẫn là một nội
dung quan trọng trong QĐHP mà Tòa án tuyên.
Từ các định nghĩa khoa học pháp lý nêu trên, theo quan điểm của
chúng tôi, dưới góc độ khoa học luật hình sự thì khái niệm này được hiểu là:
Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức
hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong phạm
vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.
Có thể nói, QĐHP là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
thực định, là một quá trình nhận thức lý luận mang tính logic để Tòa án lựa
chọn loại và mức hình phạt áp dụng với người có hành vi phạm tội theo quy
Vì vậy, QĐHP là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự mà cơ quan làm
nhiệm vụ ra quyết định không thể là cơ quan nào là Tòa án nhân dân. Hoạt
động áp dụng pháp luật này, là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự bao gồm
cả Phần chung và Phần các tội phạm. Đây là việc lựa chọn các mức hình phạt
cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội để đưa ra quyết định cuối cùng nhân
danh Nhà nước áp dụng mức hình phạt và loại hình phạt cho người phạm tội.
Do đó, để có một QĐHP chính xác đòi hỏi sự tư duy lôgic cao độ của Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân trong việc lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể
đối với tội phạm.
1.1.2. Các căn cứ quyết định hình phạt
Trước khi BLHS năm 1999 được ban hành chính thức thì thuật ngữ
"căn cứ quyết định hình phạt" không được dùng trong các văn bản pháp luật
hình sự. Thuật ngữ này chỉ được dùng trong các bài báo, công trình nghiên
cứu của các nhà luật gia, nhà khoa học, báo cáo tổng kết, sơ kết của Tòa án
nhân dân tối cao hay trong nhiều giáo trình, sách tham khảo của các trường
Cao đẳng, Đại học
BLHS Việt Nam năm 1985 đã sử dụng thuật ngữ "nguyên tắc quyết
định hình phạt" tại Điều 37 BLHS năm 1985, bao hàm nội dung chính yếu của
nó chính là "căn cứ quyết định hình phạt". Nghiên cứu tính thống nhất của hai
thuật ngữ này chúng tôi nhận thấy không có sự đồng nhất với nhau, không
nên hiểu hai thuật ngữ này là một. Vì vậy, BLHS Việt Nam năm 1999 đã tách
hai thuật ngữ này và được đưa ra tại Điều 45 BLHS Việt Nam năm 1999.
Đến nay, khoa học luật hình sự vẫn chưa có một khái niệm thống nhất
về căn cứ QĐHP. Hiện có các xu hướng đưa ra khái niệm về căn cứ QĐHP
như sau:
Căn cứ QĐHP "là những yêu cầu cơ bản (là chỗ dựa) buộc Tòa án
phải tuân theo QĐHP đối với người phạm tội" [27].
14
Điều 45 BLHS Việt Nam năm 1999 đã quy định cụ thể là cơ sở pháp
Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung là phần có tính nguyên tắc và
Phần các tội phạm là dựa trên từng quy định của mỗi loại tội phạm và tội
phạm cụ thể có liên quan tới bị cáo. QĐHP khi có đủ căn cứ xác định một
người đã phạm một tội mà BLHS quy định, xâm phạm tới khách thể được
Luật hình sự bảo vệ. Đối chiếu với Phần chung và Phần các tội phạm, tìm ra
mối liên quan giữa các quy định của pháp luật hình sự với việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội của một bị cáo hay nhiều bị cáo. Có thể xem đây như
là đặc điểm cơ bản của các nước theo luật thành văn.
Căn cứ vào Phần chung của luật hình sự Tòa án khi QĐHP bao gồm
hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Áp dụng đúng khung hình phạt, loại
hình phạt mà điều luật quy định, không được áp dụng cao hơn mức cao nhất
của khung hình phạt.
Căn cứ vào các quy định của BLHS là quan trọng nhất trong các căn
cứ QĐHP. Căn cứ này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đặc
biệt trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền. Áp dụng sai điều luật sẽ
làm thay đổi bản chất của hình phạt, mục đích, và dẫn tới những sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
1.1.2.2. Quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội
Thực tế cho thấy, nhiều loại tội phạm khác nhau, tính chất và mức độ
nguy hiểm khác nhau, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS cũng khác
nhau, do đó khi QĐHP cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác
định tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về tính chất và mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhưng đa phần đều có chung một đánh giá
mang tính định lượng nhiều hơn định tính.
16
Có ý kiến cho rằng: mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội "là tính
nguy hiểm của tất cả các tội phạm cùng loại so với các tội phạm khác loại,
bốn loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, Tội phạm nghiêm trọng, Tội phạm rất
nghiêm trọng và Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Mặt khác, trong một loại tội
phạm thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau nên mức
hình phạt ở mỗi khung cũng khác nhau. Vì vậy, tính chất mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội chính là việc xem xét cách thức thực hiện hành vi của
người phạm tội, thời gian, không gian, địa điểm và đối tượng (khách thể) tác
động tới của tội phạm, động cơ mục đích, mức độ gây thiệt hại cho xã hội và
cho khách thể mà luật hình sự bảo vệ. Khái quát chung, từ những phân tích
nêu trên, tính chất mức độ của hành vi phạm tội là một trong các căn cứ quan
trọng khi QĐHP đối với bị can, bị cáo.
1.1.2.3. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là một phạm trù xã hội phức tạp, nó là đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Trong pháp luật hình
sự hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Trong tập I Tuyển
tập Mác - Anghen từng viết: "Bản thân con người không phải là những cái
trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt trong tính hiện thực của nhóm bản
chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [22, tr. 257].
Có ý kiến cho rằng, nhân thân người phạm tội được hiểu là toàn bộ
các yếu tố về tự nhiên và xã hội có liên quan tới người phạm tội. Còn theo
quan điểm của chúng tôi: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc
điểm mang tính chất xã hội của cá nhân người phạm tội đó, mà những đặc
điểm này có ảnh hưởng đối với việc cá thể hóa TNHS và hình phạt khi Tòa
án áp dụng.
Từ khái niệm nêu trên, thấy rằng nhân thân người phạm tội là tổng
hợp tất cả các đặc điểm có ảnh hưởng nhất định tới hành vi phạm tội và khả
năng cải tạo giáo dục của người đó. Nhân thân người phạm tội còn là cách xét
tổng hợp giữa quan hệ của người đó với xã hội, gia đình và những người xung
18
quanh, cũng như các yếu tố khác bao gồm: Tuổi đời, nghề nghiệp, tình trạng
buộc chữa bệnh (khoản 1 Điều 13 BLHS)… Hoặc không áp dụng hình phạt tử
hình hoặc tù chung thân đối với người phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, không áp
dụng hình phạt tiền đối với người chưa đủ 16 tuổi, không áp dụng hình phạt
tử hình với phụ nữ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi
người đó phạm tội hoặc trong giai đoạn xét xử… Những người có thành tích
xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập và công tác, có nhiều cống hiến
cho quê hương, đất nước khi phạm tội được căn cứ là những tình tiết giảm
nhẹ TNHS.
Thông thường người ta dễ nhầm lẫn giữa nhân thân người phạm tội
với chủ thể của tội phạm, vì nhân thân người phạm tội và chủ thể của tội phạm
đều liên quan tới người phạm tội đó. Nhưng nhân thân người phạm tội và chủ
thể của tội phạm là hai khái niệm khác nhau. Chủ thể của tội phạm là một trong
bốn yếu tố cấu thành tội phạm và là một trong các điều kiện của TNHS. Còn
nhân thân người phạm tội là tổng hợp các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt liên
quan tới một con người, nhân thân nói lên tính chất của con người đó (tốt hay
xấu, có khả năng giáo dục và cải tạo thành người có ích cho xã hội ).
Bên cạnh những yếu tố nêu trên, có những yếu tố mà pháp luật chưa
quy định là yếu tố định tội định khung hình phạt, hoặc là tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ TNHS (nhân thân người phạm tội không mang tính pháp lý) khi
xem xét để QĐHP, Tòa án cần phải căn cứ cả những mặt tốt hoặc các mặt xấu
của người đó để QĐHP. Cần đánh giá một cách nghiêm túc khả năng cải tạo,
giáo dục và nhân cách của từng bị can bị cáo có thể cải tạo trở thành người có
ích cho xã hội.
1.1.2.4. Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự
Tội phạm là một hiện tượng xã hội, tội phạm xảy ra, xâm hại đến các
quan hệ xã hội khác nhau, có tính chất mức độ nguy hiểm khác nhau. Nhưng
20
nếu chúng cùng xâm hại đến một quan hệ xã hội thì mỗi hành vi phạm tội