Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sư Việt Nam - Pdf 25

đại học quốc gia hà nội
Khoa luật  Nguyễn Thị Thanh Hoa Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam
Luận văn thạc sỹ Hà nội – 2009

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan Nguyễn thị thanh hoa

Mục lục Trang
mở đầu
1
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật
hình sự Việt Nam
12
1.1. Sơ lược lịch sử xuất hiện chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt
Nam
12
1.2. Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định
thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam
14

119 1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định
thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam là rất cần thiết và quan trọng trên
ba phương diện chủ yếu dưới đây:
Về mặt lý luận: Chế định thời hiệu là một chế định quan trọng trong
luật hình sự Việt Nam. Việc nghiên cứu và làm rõ những vấn đề xung quanh
chế định thời hiệu là rất quan trọng và cần thiết. Hiện nay, trong khoa học
pháp lý hình sự Việt Nam có không nhiều bài viết đề cập, phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm của chế định
thời hiệu được quy định tại bốn điều luật là Điều 23, Điều 24, Điều 55 và
Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 1999, để rồi rút ra những mặt cần phải phát
huy, cũng như những mặt cần phải khắc phục. Thực chất, đây là một công
việc rất có ích về mặt lâu dài vì nó đóng vai trò cơ bản giúp cho các nhà lập
pháp mỗi khi xây dựng hay sửa đổi nhằm hoàn thiện luật, sẽ đưa ra những
quyết định thực sự phù hợp và thiết thực đến quyền lợi của Nhà nước và của
nhân dân, đấy cũng chính là sự đóng góp không thể thiếu của chúng ta vào
tiến trình đi đến một Nhà nước Pháp quyền hoàn chỉnh và phát triển.
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đây là một đối tượng nghiên cứu
mang bản chất khó và phức tạp vì những lý do sau: Lý do thứ nhất, bản thân

phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng và công minh theo đúng pháp luật với
phương châm: “không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan
người vô tội”.

3
Trong lần pháp điển hoá lần thứ hai luật hình sự Việt Nam, lần đầu
tiên, nhà làm luật nước ta đã chính thức ghi nhận chế định thời hiệu bằng việc
quy định bốn điều luật (Điều 23, Điều 24, Điều 55 và Điều 56) nêu lên nội
dung của hai yếu tố cấu thành chế định thời hiệu: đó là thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự. Vì vậy, việc làm
sáng tỏ để áp dụng một cách chính xác các quy phạm này là rất cần thiết và
cấp bách, thêm vào đó sẽ góp phần hoàn chỉnh thêm các vấn đề liên quan đến
chế định thời hiệu.
Về mặt thực tiễn: Trong các báo cáo tổng kết công tác năm của ngành
Toà án nhân dân mấy năm gần đây, khi đề cập đến các vụ án hình sự liên
quan đến vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hết thời hạn thi
hành bản án kết tội, đặc điểm được nhìn nhận chung là tỷ lệ các bản án, quyết
định của Toà án bị huỷ (trong đó có trường hợp huỷ do hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự) ngày một giảm, và trong tổng số 337 bị cáo mà Toà án
chưa ra quyết định thi hành án năm 2005 chỉ còn 72 trường hợp đã quá thời
hạn (tức là hết thời hiệu thi hành bản án kết tội) theo quy định của pháp luật,
giảm hơn rất nhiều so với năm 2004 (năm 2004 là hơn 1000 trường hợp đã
quá thời hạn theo quy định của pháp luật). Như vậy, các Toà án đã khắc phục
được phần nào vấn đề này. Trong quá trình thực hiện công việc của mình, cơ
quan thi hành án hình sự đã đề ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả, rút ra
những bài học kinh nghiệm và phát huy những mặt ưu điểm nhằm hoàn thành
tốt công tác thi hành án hình sự.
Thêm vào đó, nội dung của nhiệm vụ thứ hai trong những nhiệm vụ
trọng tâm công tác của ngành Toà án nhân dân trong năm 2006 có đoạn viết:
“Khắc phục triệt để việc để một số vụ án quá thời hạn xét xử theo quy định

5
giải lập pháp về các quy phạm của chế định này trong luật hình sự Việt Nam.

Chúng ta có thể kể đến như: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định
thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa
trực thuộc (Trường thành viên) năm 2001 của tập thể tác giả Bộ môn Tư pháp
hình sự của Khoa luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do TSKH. Lê Cảm
chủ trì. Hà Nội, năm 2002; Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một
số nước trên thế giới. TSKH Lê Cảm chủ biên. Thông tin Khoa học pháp lý,
năm 2002; Chương IV – Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách
nhiệm hình sự. (Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999,
tập I – Phần chung) của TSKH. Lê Cảm. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội,
năm 2001; hay chúng ta có thể kể đến các nghiên cứu chuyên khảo về Phần
chung luật hình sự (Tập IV) của TSKH. Lê Cảm. NXB Công an nhân dân. Hà
Nội, năm 2002; Về áp dụng pháp luật trong các trường hợp không xử lý hình
sự của ThS. Chu Thị Trang Vân. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2005;
Về thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 của Trịnh Tiến Việt. (Trong sách Pháp luật hình sự và
thực tiễn áp dụng của chính tác giả Trịnh Tiến Việt). NXB Giao thông vận tải,
2003; Chế định nhiều tội phạm – những vấn đề lý luận và thực tiễn của TS.
Lê Văn Đệ. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2003; Một số vấn đề lý luận về
chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam của TS. Trần Quang Tiệp. Tạp
chí Toà án nhân dân, tháng 2/2006 (Số 4); Một số vấn đề về thi hành án hình
sự của TS. Trần Quang Tiệp. NXB Công an nhân dân. Hà Nội, 2002, v.v…
Tuy nhiên, khái quát tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả
cho thấy các công trình này mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên tạp chí
khoa học pháp lý chuyên ngành, với việc giải quyết một nội dung tương ứng
xem xét nội dung của chế định này như khối kiến thức cơ bản của một phần,

6

nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lược khảo chế định thời hiệu
trong luật hình sự Việt Nam, phân tích khái niệm, các đặc điểm cơ bản của
chế định thời hiệu, những trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội trong Bộ luật hình sự năm 1999
hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và nội dung cơ bản của chế định
thời hiệu theo luật hình sự Viêt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự về chế định thời hiệu trong thưc tiễn áp dụng pháp luật hình
sự nước ta, đồng thời phân tích những tồn tại trong các quy định của chế định
thời hiệu và thực tiễn áp dụng chúng nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết
phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
phạm về chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của chế định
thời hiệu nói chung (mà bao gồm hai chế định nhỏ thuộc nó là chế định thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án kết
tội) như:
1. Khái niệm và đặc điểm của chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt
Nam;
2. Bản chất pháp lý của phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự” và phạm trù “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”;

8
3. Khái niệm, đặc điểm, cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự, đồng thời so sánh chế định này với phạm trù có mối liên quan rất mật thiết
với nó – phạm trù “truy cứu trách nhiệm hình sự”;
4. Khái niệm, đặc điểm, cách tính thời hiệu thi hành bản án kết tội,
đồng thời so sánh chế định này với phạm trù có mối liên quan rất mật thiết
với nó – phạm trù “thi hành bản án kết tội”;

tác động qua lại và liên quan đến đối tượng cần nghiên cứu của luận văn này,
đồng thời không quên đặt nó trong một tiến trình lịch sử và phát triển.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,
phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, v.v…trong sự nhìn nhận tổng
thể và khách quan, không phiếm diện một chiều.
Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật
của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực
tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Toà án nhân dân tối cao hoặc
(và) của các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương ban hành có liên quan
đến chế định thời hiệu; dựa vào những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm
trong các báo cáo của ngành Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân để
phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn
đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự
Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận

10
và thực tiễn về chế định thời hiệu ở cấp độ một luận văn. Trong luận văn này,
tác giả đã giải quyết về mặt lý luận những vấn đề sau:
1. Phân tích một cách tương đối có hệ thống và tương đối toàn diện
những vấn đề lý luận về chế định thời hiệu như: Khái niệm, bản chất pháp lý
và các đặc điểm cơ bản của chế định thời hiệu; Bản chất pháp lý của hai phạm
trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản
án kết tội”; khái niệm và các đặc điểm cơ bản của thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội, phân biệt thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội trong luật hình sự
Việt Nam, v.v…
2. Hệ thống hoá lịch sử phát triển các quy phạm về chế định thời hiệu

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn
những điều kiện cụ thể của từng trường hợp áp dụng chế định thời hiệu trong
thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như
đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định thời hiệu ở khía
cạnh lập pháp, để giúp việc áp dụng chúng trong thực tiễn ngày một hoàn
thiện hơn.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần
thiết cho các nhà khoa học, luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học
viên cao học chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như phục vụ cho công tác
lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu
tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người
phạm tội ở nước ta hiện nay.

12
7. Bố cục của luận văn
Theo quan điểm của tác giả, luận văn là hợp lý và lôgic khi được sắp
xếp theo trình tự sau đây:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
sẽ bao gồm ba chương, đó là:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật
hình sự Việt Nam.
Chương II: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi
hành bản án kết tội trong luật hình sự Việt Nam.
Chương III: Hoàn thiện chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999.

13
Chương 1
Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu
trong luật hình sự Việt Nam

“Không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tính từ ngày tội phạm được thực
hiện đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các tội phạm ít nghiêm
trọng mà Bộ luật quy định hình phạt từ 2 năm tù trở xuống hoặc hình phạt
khác nhẹ hơn; b) 10 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy
định hình phạt tù trên 2 năm; c) 15 năm đối với các tội phạm nghiêm
trọng…” (Điều 45. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự); “Không buộc
người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các trường hợp xử
phạt từ 5 năm tù trở xuống; b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên
5 năm đến 15 năm; c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15
năm đến 20 năm…” (Điều 46. Thời hiệu thi hành bản án).
Do vậy, so với Bộ luật hình sự năm 1985, chế định thời hiệu trong Bộ
luật hình sự năm 1999 hiện nay của chúng ta đã được xây dựng theo hướng
hợp lý hơn, hoàn chỉnh hơn: Lần đầu tiên định nghĩa pháp lý của khái niệm
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và của khái niệm thời hiệu thi hành
bản án hình sự đã được đề cập tại Bộ luật hình sự năm 1999, ngoài ra các mức
thời hạn khác nhau tương ứng với các loại tội phạm trong thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự, và tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt
trong thời hiệu thi hành bản án kết tội cũng được quy định rõ ràng và tỉ mỉ
hơn,.v.v…

15
Ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, trên các trang web
luật học thường xuất hiện những câu hỏi của người dân và những câu trả lời
tư vấn của các nhà luật học về những quyền lợi và nghĩa vụ mà người dân
được hưởng và phải thực hiện, một trong số đó là việc hưởng chế định nhân
đạo khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản
án hình sự [15, 16]. Điều đó đã giúp chúng ta phần nào hiểu rằng: Cuộc sống
luôn vận động không ngừng đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn suy nghĩ, tìm ra
các giải pháp ngày càng hợp lý và hoàn thiện hơn cho chế định thời hiệu nói

và được thể hiện bằng việc quy định trong pháp luật hình sự một thời hạn
nhất định mà khi hết thời hạn đó, thì người phạm tội không bị truy cứu trách
nhiệm hình sự và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu
lực pháp luật đã được tuyên”[11]

Từ định nghĩa khoa học này, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của
chế định thời hiệu như sau:
Thứ nhất, đây là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật
hình sự, kết luận này đúng vì bản thân sự tồn tại chế định thời hiệu trong luật
hình sự Việt Nam đã đưa đến cho người thực hiện tội phạm hy vọng có thể
được miễn việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên nếu như người phạm tội đó đáp
ứng được đầy đủ căn cứ pháp lí chung và những điều kiện cụ thể do pháp luật
hình sự quy định (mà sẽ được phân tích chi tiết tại chương 2 dưới đây).
Thứ hai, thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là một khoảng thời
gian nhất định. Trong khoảng thời gian đó, các cơ quan tư pháp hình sự có
thẩm quyền của Nhà nước bao gồm: cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án

17
và cơ quan thi hành án hình sự được Nhà nước trao cho quyền truy cứu trách
nhiệm hình sự và thi hành bản án kết tội đối với người thực hiện tội phạm
theo quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003. Còn nếu nằm ngoài khoảng thời gian đó thì các cơ quan tư pháp hình sự
có thẩm quyền của Nhà nước không còn những quyền này nữa, đồng thời
người phạm tội hoặc người bị kết án thoả mãn đầy đủ các điều kiện luật định
(được định cụ thể tại khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 55) thì điều đó đồng
nghĩa với việc người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa
và người bị kết án cũng không phải chấp hành bản án đã tuyên. Ví dụ: trên
một trang web của Sài Gòn, có một bạn hỏi rằng: vào năm 1977, Toà án Việt
Nam đã kết án bạn 25 năm tù , nhưng trong lúc toà xử thì bạn đó đã sang Mĩ.

pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật hình sự,
được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và
triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toà án trong thực tiễn điều tra,
truy tố và xét xử, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào sự
nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật, sức
mạnh và uy tín của bộ máy công quyền, tính nhân đạo và dân chủ của xã hội
dân sự và Nhà nước pháp quyền nói chung” [1]. Tư tưởng bảo vệ các quyền
con người được phản ánh thông qua từng điều luật trong Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999. Các quy định về chế định thời hiệu cũng không là ngoại lệ, tư
tưởng bảo vệ các quyền con người được phản ánh qua khái niệm của nó, bản
chất pháp lý của nó và các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của nó.
1.3. Bản chất pháp lý của hai phạm trù “hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”

19
Khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản
án kết tội – sau đây gọi chung là hết thời hiệu – theo quy định tại khoản 1
Điêu 23 và khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999, người thực hiện tội
phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án không phải
chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên. Vậy thì tại sao
nhà làm luật nước ta lại quy định như vậy và thực chất của phạm trù “hết thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và phạm trù “hết thời hiệu thi hành bản án
kết tội” là gì (?). Chúng ta sẽ lần lượt giải đáp từng câu hỏi này.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự có nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề này: Quan điểm thứ nhất của GS.TS. người Nga
I.U.M.Tkatrepxki cho rằng: “Việc người phạm tội không bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án đã tuyên khi hết thời hạn
được pháp luật hình sự quy định là do hành vi phạm tội không còn nguy hiểm
cho xã hội nữa hoặc mức độ nguy hiểm cho xã hội còn không đáng kể” [47];
Quan điểm thứ hai của một số nhà luật học Liên Xô cũ cho rằng: “Sở dĩ khi

khẳng định rõ vấn đề này trong Bộ luật hình sự năm 1999, để làm căn cứ pháp
lý thống nhất khi áp dụng các quy định này vào trong thực tiễn. Đây cũng
chính là quan điểm của tác giả Trịnh Tiến Việt được thể hiện trong bài viết
“Về một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về miễn trách
nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam”. Tác giả Trịnh Tiến Việt đã
đưa ra mô hình lý luận của các quy phạm về chế định miễn trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật hình sự, trong đó tác giả có đưa ra một điều luật quy định
việc miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:
“Điều… Miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự (mới): Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu tính từ

Trích đoạn nhận xét chung về chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 dưới góc độ so sánh với Bộ luật hình sự Việt Nam Mô hình lý luận về chế định thời hiệu trong pháp luật hình sự Việt Nam Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status