ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG ĐỨC NGỌC
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG ĐỨC NGỌC
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số
: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
9
1.1.2. Khái niệm phạm tội chưa đạt
18
1.1.3. Phân loại phạm tội chưa đạt
24
Phân biệt phạm tội chưa đạt với một số hình thức phạm tội khác
trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý
28
1.2.1. Phân biệt phạm tội chưa đạt với ý định phạm tội, chuẩn bị
phạm tội, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
29
1.2.2. Phân biệt phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành và tội
phạm kết thúc
35
Các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
về phạm tội chưa đạt
37
47
2.1.1. Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách
mạng tháng 8 năm 1945
47
2.1.2. Giai đoạn từ Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến khi
pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
51
2.1.3. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999
55
Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
phạm tội chưa đạt
58
2.1.
2.2.
2.2.1. Hành vi phạm tội chưa đạt
58
Việc hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
109
3.2.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
109
3.2.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
111
3.2.
Kết luận
118
Danh mục Tài liệu tham khảo
121
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tội danh, số vụ, số bị cáo và tỷ lệ số vụ án trên các bản
82
án hình sự sơ thẩm và các quyết định giám đốc thẩm hình
sự của Tòa án nhân dân
Danh mục các sơ đồ
Số hiệu
Tên sơ đồ
Trang
Cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa đạt tồn tại
79
sơ đồ
2.1
trong thực tiễn
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực hiện tội
phạm do cố ý. Các giai đoạn phạm tội khác nhau chính là ở những yếu tố
hợp nó là một quá trình thỏa mãn dần các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội
phạm cụ thể. Bởi vì, để thực hiện một tội phạm trong nhiều trường hợp người
phạm tội phải tiến hành từng bước, từng bước một, chẳng hạn như: chuẩn bị
công cụ, phương tiện phạm tội, chuẩn bị thực hiện hành vi liền kề và dần tiến
đến thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành từng
bước để thực hiện hành vi phạm tội, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau
không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội mà họ phải dừng lại khi mới
chuẩn bị điều kiện để thực hiện tội phạm hoặc khi chưa thực hiện hoàn thành
tội phạm. Theo đó, về mặt chủ quan hành vi phạm tội bị dừng lại nhưng người
phạm tội đã cố ý thực hiện hành vi đó và vẫn muốn cố ý thực hiện tiếp hành vi
phạm tội của mình, vì trong suy nghĩ, tư tưởng của họ bao giờ cũng mong
muốn thực hiện toàn bộ quá trình đó để đạt được kết quả mong muốn đã được
đặt ra. Mặc dù vậy, thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm cho thấy, có
không ít trường hợp người phạm tội không thực hiện được đầy đủ dự định của
mình hay không tiến hành thực hiện tội phạm được đến cùng vì những nguyên
nhân ngoài ý muốn của họ, mà phải dừng lại ở những thời điểm khác nhau.
Nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong những công
việc quan trọng của Nhà nước, của các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật
và toàn thể xã hội. Để thực hiện nhiệm vụ đó, pháp luật hình sự Việt Nam
không những trừng trị những hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi thực
hiện hoàn thành một tội phạm mà cả điều chỉnh xử lý các hành vi phạm tội
chưa đạt - hành vi chưa hoàn thành. Việc phát hiện, trừng trị những hành vi
phạm tội chưa hoàn thành không chỉ để ngăn chặn tội phạm, mà còn nhằm
hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho xã hội do hành vi phạm tội có
thể gây ra cho xã hội, cho Nhà nước và cho công dân. Điều này còn thể hiện
đường lối xử lý trong chính sách hình sự - không để cho tội phạm gây ra nguy
hiểm cho xã hội thì tốt hơn để cho tội phạm xảy ra mới tìm cách khắc phục,
2
3
đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội chưa đạt theo luật
hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phạm tội chưa đạt là một vấn đề hẹp và thuộc chế định các giai đoạn
phạm tội, đồng thời nó cũng có liên hệ mật thiết đến nhiều quy phạm và chế
định khác trong luật hình sự như: tội phạm, hình phạt, trách nhiệm hình sự,
chuẩn bị phạm tội, tội phạm hoàn thành, tội phạm kết thúc, tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội; v.v... Ngoài ra, mặc dù Bộ luật hình sự năm 1999 đã
có những quy định thay đổi đáng kể về tội phạm và về phạm tội chưa đạt như
tách khoản 2 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985 thành Điều 18 Bộ luật hình
sự năm 1999, khoản 3 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985 (về quyết định hình
phạt) được tách thành Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999 với ba khoản cụ thể
tương ứng với từng hành vi phạm tội ở các giai đoạn phạm tội khác nhau chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt nhưng xung quanh chế định này còn
nhiều vấn đề cần nghiên cứu và đòi hỏi có quan điểm thống nhất.
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 ban hành, vấn đề phạm tội chưa đạt
cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo do các tác giả khác
nhau biên soạn như: 1) Chương XII - Các giai đoạn phạm tội của TS. Nguyễn
Ngọc Chí, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung). Tập thể
tác giả do TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001
(tái bản năm 2003, 2007); 2) Chương IX - Các giai đoạn phạm tội của GS.TS.
Nguyễn Ngọc Hòa, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Tập
thể tác giả do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2007; 3) Chương XII - Các giai đoạn phạm tội của GS.TS. Võ Khánh
Vinh, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác giả do
PGS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005;
4) Chương VII - Các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm, trong sách: Giáo
trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa học, (chuyên san Luật học), số
2/2009, của TS. Trịnh Tiến Việt; 9) Chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa
đạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1993, của tác giả Nguyễn Thị Mai; v.v...
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề phạm tội chưa đạt
nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó hoặc chừng mực xem xét qua các
5
trường hợp phạm tội cụ thể hay kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và có hệ thống vấn
đề phạm tội chưa đạt vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức, mặc dù
đây là một giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình đấu tranh
phòng, chống tội phạm, đặc biệt nếu việc phát hiện và ngăn chặn sớm hành vi
phạm tội chưa đạt sẽ làm giảm khả năng gây ra thiệt hại về nhiều hậu quả
như: chính trị, vật chất, thể chất và tinh thần, cũng như tài sản của Nhà nước
và toàn xã hội. Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề
phạm tội chưa đạt cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách
toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm tội chưa đạt là một nội dung tương đối hẹp và phức tạp, nghiên
cứu về chế định này đã có nhiều nghiên cứu chung trong các giai đoạn phạm
tội do cố ý mà ít có nghiên cứu chuyên sâu và riêng rẽ về từng trường hợp cụ
thể của vấn đề phạm tội chưa đạt, nên việc hiểu trong lý luận và vận dụng
trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc. Do đó, phạm vi nghiên
cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết một số vấn đề cơ bản xung quanh
chế định phạm tội chưa đạt như sau:
1) Khái niệm và cơ sở phân chia các giai đoạn phạm tội do cố ý;
2) Khái niệm, các đặc điểm và phân loại phạm tội chưa đạt;
3) Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt;
Cơ sở khoa học của luận văn là quan điểm chính thống của các nhà
làm luật được thể hiện trong Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi
hành về phạm tội chưa đạt, cũng như hệ thống lý luận trong các công trình
khoa học, sách báo pháp lý của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan
đến chế định này.
7
Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn áp dụng việc áp
dụng các bản án của Tòa án nhân dân các cấp trên toàn quốc về phạm tội chưa
đạt theo luật hình sự Việt Nam trong phạm vi khoảng 10 năm gần đây (20002009) và qua đó để rút ra những nhận xét, đánh giá.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
làm rõ khái niệm, cơ sở phân chia các giai đoạn phạm tội, khái niệm, bản chất
pháp lý của phạm tội chưa đạt, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
tội chưa đạt, nội dung và các căn cứ của các trường hợp phạm tội chưa đạt
trên cơ sở xem xét các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành,
đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định tương ứng đó ở khía
cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần
thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như
phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục,
cải tạo người phạm tội hiện nay ở nước ta.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về phạm tội chưa đạt trong luật hình sự.
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong từng thời điểm, cũng như
việc phân hóa trách nhiệm hình sự có căn cứ, khách quan và đúng pháp luật.
Hiện nay, các giai đoạn này có nhiều tên gọi khác nhau trong khoa
học và trên các sách báo pháp lý - các giai đoạn thực hiện tội phạm, các giai
đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý; các giai đoạn phạm tội; v.v...
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ "các giai
đoạn phạm tội do cố ý" nhằm mục đích cho đơn giản, ngắn gọn và gắn liền
9
với quá trình (diễn biến khách quan) của chủ thể thực hiện các hành vi phạm
tội trên thực tiễn do cố ý, đồng thời phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội ở
từng thời điểm khác nhau của hành vi phạm tội, cũng như phản ánh có trường
hợp hành vi phạm tội là tội phạm và có trường hợp không phải là tội phạm,
qua đó phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người
thực hiện hành vi đó.
Trước hết, trong khoa học luật hình sự Liên bang Nga quan niệm về
các giai đoạn phạm tội do cố ý là: 1) Các giai đoạn chuẩn bị và trực tiếp thực
hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất (nội dung) của
những hành vi đã được thực hiện và thời điểm chấm dứt xử sự có tính chất tội
phạm (B.V.Zđravômxlôv); 2) Các giai đoạn nhất định của việc chuẩn bị và
thực hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất của những
hành vi được thực hiện và thời điểm chấm dứt những hành vi ấy
(X.G.Kelina); 3) Các giai đoạn của việc chuẩn bị và trực tiếp thực hiện tội
phạm được quy định trong luật và được phân biệt với nhau theo tính chất và
nội dung của hành vi người phạm tội thực hiện, cũng như mức độ kết thúc
hành vi phạm tội (Ê.F.Pobegailô); v.v... [13, tr. 440-441]. Hay trong luật hình
sự Cộng hòa Pháp gọi là "các giai đoạn thực hiện các tội phạm do cố ý" [14,
tr. 60]; v.v...
tội phạm gồm có: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn
thành.
Trong khi đó, cũng khẳng định như vậy, nhưng tác giả Lâm Minh Hạnh
(Viện Nhà nước và pháp luật) lại quan niệm có hai giai đoạn chính trong các
giai đoạn phạm tội: "Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình
thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm việc chuẩn bị phạm tội và thực hiện tội
phạm. Trong giai đoạn thực hiện tội phạm có thể có hai trường hợp hoặc đã
hoàn thành tội phạm hoặc đã phạm tội chưa đạt" [23, tr. 117], vì theo tác giả,
phạm tội chưa đạt và hoàn thành tội phạm chỉ là các trường hợp riêng biệt
trong các giai đoạn thực hiện tội phạm chứ không thể coi là giai đoạn chính
thức được. Quan niệm như vậy có phần đúng, nhưng chưa phân hóa và cá thể
hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng sự khác nhau giữa các giai đoạn là
mức độ thực hiện tội phạm do cố ý.
11
Gần đây, TS. Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)
đưa ra khái niệm các giai đoạn phạm tội phản ánh hình thức lỗi và các giai
đoạn cụ thể trong các giai đoạn phạm tội, nhưng theo chúng tôi cũng cần phản
ánh rõ hơn mức độ nguy hiểm cho xã hội giữa các giai đoạn phạm tội do cố ý
thì sẽ đầy đủ hơn: "Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực
hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội
phạm hoàn thành" [80, tr. 126]; v.v...
Như vậy, về cơ bản, các quan điểm khoa học trong lý luận luật hình sự
Việt Nam đều thống nhất cho rằng, các giai đoạn phạm tội chỉ tồn tại dưới
hình thức lỗi cố ý, không tồn tại dưới hình thức lỗi vô ý, bởi vì, trong lỗi vô ý,
người phạm tội không nhận thức được hành vi mà mình thực hiện sẽ nguy
hiểm cho xã hội, cũng không thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và họ
cũng không mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhận thức được hậu
quả do hành vi của mình có thể gây ra nhưng hậu quả đó không phải là mục
đích chính của người phạm tội. Chính vì không mong muốn gây ra hậu quả
nguy hiểm cho xã hội nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự hay nói cách khác
là không xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt ở đây vì
thái độ của họ là thờ ơ, bỏ mặc. Cho nên, khoa học luật hình sự và thực tiễn
xét xử ở nước ta cho thấy giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
cũng như tội phạm hoàn thành chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp mà thôi.
Vấn đề tiếp theo là các giai đoạn phạm tội do cố ý có thể chỉ được đặt
ra với tội có cấu thành tội phạm vật chất hay cả với những tội có cấu thành
hình thức; có thể chỉ đặt ra với hành vi khách quan được thực hiện ở dạng
hành động hay còn cả ở dạng không hành động. Theo quan điểm được thừa
nhận chung trong khoa học luật hình sự nhiều nước và Việt Nam thì: trong
các tội thực hiện do cố ý trực tiếp chỉ đối với các tội có cấu thành tội phạm
vật chất mới có đầy đủ các giai đoạn thực hiện thành phần (chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành), ví dụ: Tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ
luật hình sự). Còn trong các tội có cấu thành tội phạm hình thức do hậu quả
không phải là điều kiện bắt buộc của tội phạm nên trong các loại tội này chỉ
có thể có tội phạm hoàn thành có chuẩn bị phạm tội mà không có phạm tội
13
chưa đạt. Bởi vì, khi người phạm tội thực hiện hành vi khách quan của cấu thành
tội phạm thì cũng là lúc tội phạm hoàn thành và không thể coi là phạm tội chưa
đạt được. Ví dụ: Tội cướp tài sản (Điều 133), người phạm tội đã thực hiện
hành vi dùng bạo lực tấn công người khác nhưng chưa chiếm đoạt được tài
sản của người đó thì đã cấu thành tội cướp tài sản; hay tương tự là tội phản
bội Tổ quốc (Điều 78), tội gián điệp (Điều 80 Bộ luật hình sự); v.v...
Ngoài ra, riêng đối với tội có cấu thành tội phạm cắt xén thì không có
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được, tuy nhiên loại
tội này chỉ chiếm một tỷ lệ không nhiều trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Ví
dụ: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính
mạng (Điều 102 Bộ luật hình sự); v.v...
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam các giai đoạn phạm
tội do cố ý đều thống nhất là bao gồm - chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
và tội phạm hoàn thành. Với quy định này, việc xác định mức hình phạt áp
dụng đối với người thực hiện những hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt cụ thể hơn và quy định tỷ lệ hình phạt tối đa so với hình phạt có thể
được áp dụng trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Việc quy định các giai
đoạn phạm tội nói chung và quy định chính xác tội phạm chưa hoàn thành nói
riêng (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) trong từng trường hợp cụ thể
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội bao
giờ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng thấp hơn ở giai đoạn
phạm tội chưa đạt và tương ứng như vậy, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt luôn
thấp hơn so với giai đoạn tội phạm hoàn thành.
Quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là cơ sở để truy
cứu trách nhiệm hình sự, xác định đúng mức nguy hiểm cho xã hội của hành
vi nhằm bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ trong quyết định hình phạt một cách
công minh, không để oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm
tội theo đúng cơ sở của trách nhiệm hình sự: "Chỉ người nào phạm một tội đã
được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" (Điều 2 Bộ
15
luật hình sự). Theo đó, quy định cơ sở của trách hình sự như đã nêu chính là
thể hiện các nguyên tắc pháp chế và công bằng trong luật hình sự nước ta. Với
cụ thể là dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả của tội phạm. Theo
đó, tội phạm hoàn thành là tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách
quan được quy định trong luật. Trong khi đó, phạm tội chưa đạt là trường hợp
tội phạm không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý
muốn của người phạm tội ngăn cản, nói cách khác đó là hành vi chưa thỏa
mãn các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm. Còn chuẩn bị phạm tội
là người phạm tội mới tìm kiếm, sửa soạn công cụ thực hiện tội phạm chứ
chưa thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm.
Như vậy, các giai đoạn phạm tội là những thang bậc khác nhau của quá trình
thực hiện tội phạm, mỗi thang bậc này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội không giống nhau và được xếp theo trật tự nhẹ, nặng: từ chuẩn bị phạm
tội đến tội phạm hoàn thành. Nói một cách khác, các giai đoạn phạm tội phản
ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm ở từng thời điểm. Trên quan
điểm này, về mặt nội dung, một hành vi phạm tội được coi là hoàn thành khi
đã có những đặc điểm thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội
của mọi loại tội phạm cụ thể, còn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội
chưa thể hiện hết tính chất nguy hiểm của một loại tội phạm.
Thứ hai, ngoài dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả, khi phân chia
các giai đoạn phạm tội do cố ý, luật hình sự nước ta còn căn cứ vào tính chất
khách thể tội phạm. Tính chất của quan hệ xã hội bị hành vi phạm tội xâm hại
phần nào phản ánh tính chất nguy hiểm của tội phạm. Tính chất nguy hiểm
cho xã hội của tội được xác định bằng nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có
yếu tố khách thể của tội phạm - những quan hệ xã hội được luật hình sự xác
lập, bảo vệ và bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến. Vì vậy, để bảo
vệ các quan hệ xã hội quan trọng một cách nghiêm ngặt, luật hình sự quy định
thời điểm hoàn thành của tội phạm sớm hơn [16, tr. 226-227]. Do đó, việc
phân chia các giai đoạn phạm tội cũng rõ ràng và chính xác hơn.
17
18
đạt, theo bản tổng kết chuyên đề của Tòa án nhân dân tối cao: "Tội giết người
hoàn thành khi người bị nạn chết đối với trường hợp giết người nhưng không
chết nên thống nhất gọi là phạm tội chưa đạt".
Việc sử dụng thuật ngữ "toan phạm tội" trước đây có thể dẫn đến sự hiểu
nhầm về bản chất đó là cho rằng toan phạm tội là mới có ý định mà thôi và
như vậy cho rằng luật hình sự đặt vấn đề trách nhiệm hình sự với cả "tư
tưởng" cái không phải là hành vi. Tuy nhiên, thực sự ở đây người phạm tội
không chỉ mới có ý định phạm tội mà đã bắt tay vào thực hiện hành vi phạm
tội. Điều này có nghĩa, nguyên tắc "hành vi" được luật hình sự Việt Nam tôn
trọng triệt để và chấp hành nghiêm chỉnh, nhưng mặt khác để tránh sự hiểu
nhầm trên nên trong Bộ luật hình sự đầu tiên và trong Bộ luật hình sự hiện
hành của Việt Nam đều dùng thuật ngữ "phạm tội chưa đạt".
Về quá trình phát triển chế định này sẽ được tác giả đề cập trong
Chương 2 luận văn này, tuy vậy, dưới góc độ lập pháp, trong Bộ luật hình sự
đầu tiên của nước ta năm 1985, lần đầu tiên khái niệm phạm tội chưa đạt được
quy định cụ thể - "Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không
thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người
phạm tội" (khoản 2 Điều 15) và đến Bộ luật hình sự năm 1999 (Điều 18) về
cơ bản cũng không có gì thay đổi ngoài tách nội dung việc quyết định hình phạt
đối với trường hợp này thành một khoản trong điều luật mới (Điều 52). Như
vậy, bản chất của giai đoạn phạm tội chưa đạt thể hiện ở chỗ - đây là giai
đoạn tiếp sau chuẩn bị phạm tội và là một giai đoạn phản ánh việc người phạm
tội đã bắt đầu có hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ. Nói một cách khác, khách thể của tội phạm được luật hình sự bảo vệ đó bị
đe dọa thực tế gây ra thiệt hại, nhưng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn
của người phạm tội nên thiệt hại thực tế có thể không xảy ra hoặc có thể xảy ra.
Trong trường hợp gây ra thiệt hại thì đó không phải là thiệt hại mà người
Tương tự, GS. TS. Võ Khánh Vinh (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
định nghĩa: "Phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai của quá trình thực hiện tội
20