1
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1. Quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. ***** *
Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao
gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm
hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo cách
quan niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là các hành vi thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh) cũng thuộc vào
phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh”[3].
Theo quy định về “cạnh tranh không lành mạnh” của Công ước
Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp[4] (Điều 10bis - được bổ sung
vào Công ước từ năm 1900) thì bất cứ hành vi nào không trung
thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
*Luật Cạnh tranh của Việt Nam quan niệm hành vi cạnh tranh
không lành mạnh bao gồm các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về
đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc
người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh
tranh Việt Nam quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh
2
doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối
hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh
tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất
chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy
Luật Cạnh tranh là tương đối phù hợp, mặc dù có một số hành vi như
"phân biệt đối xử của hiệp hội" và "bán hàng đa cấp bất chính" khi xếp
vào nhóm các hành vi “cạnh tranh không lành mạnh” có thể còn có phần
khiên cưỡng.
2. Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh ***
Xét từ giác độ kinh tế thì* bản chất hành vi cạnh tranh không lành
mạnh về căn bản là các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của
doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi hủy hoại ưu
thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc làhành vi tạo ra ưu thế
cạnh tranh giả tạo.
Hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác,
chẳng hạn bằng cách chiếm đoạt các bí mật thương mại (vốn là các tài sản
mà đối thủ cạnh tranh đã phải đầu tư rất nhiều công sức mới có được)
hoặc hành vi nhái nhãn mác, kiểu dáng, thương hiệu, tạo sự nhầm lẫn
trong khách hàng gây thiệt hại trực tiếp cho đối thủ cạnh tranh.
Hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác như
gièm pha đối thủ cạnh tranh, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp khác v.v. khiến cho đối thủ cạnh tranh bị mất uy tín, mất thời gian
4
công sức để xử lý các vấn đề mới phát sinh cũng gây ảnh hưởng trực tiếp
cho đối thủ cạnh tranh.
Hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo thông qua việc quảng cáo
gian dối, nhái thương hiệu, kiểu dáng sản phẩm của doanh nghiệp khác
v.v. vừa trực tiếp gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh lại vừa gây thiệt hại
cho người tiêu dùng.
Có thể nói, thực hiện 3 loại hành vi kể trên, là một “con đường tắt”
để chiến thắng trong cạnh tranh.
Doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính
là các doanh nghiệp “ăn không” (free riding), hưởng thành quả mà không
nhờ các nỗ lực vươn lên của mình. Sản phẩm của kiểu cạnh tranh này
ung thư”. Ăn nước mắm Chinsu “gây ung thư”, trong bia BIGI (Tiền
Giang) có ruồi, trong chai bia Tiger có gián, băng vệ sinh P&G có chất
amiăng gây hại cho người sử dụng v.v.); “Bán hàng đa cấp bất
chính”(công ty TGM).
Tuy nhiên, hiện tại việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh kể trên nói chung còn hết sức khiêm tốn. Điều này có nguyên nhân
cả từ trong sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật cũng như sự thiếu
kinh nghiệm trong công tác đấu tranh chống các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh.
4. Một số kiến nghị