Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tham ô tài sản trong luật hình sự việt nam - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TÔ XUÂN TÙNG

MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
VÒ TéI THAM ¤ TµI S¶N TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TÔ XUÂN TÙNG

MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
VÒ TéI THAM ¤ TµI S¶N TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ THỊ SƠN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.2.1. Thời kỳ trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985 ................................ 13
1.2.2. Thời kỳ từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đến nay .................. 18
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 26
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN ................................... 28
2.1.

Các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản .................................. 28

2.1.1. Khách thể của tội tham ô tài sản ........................................................ 28
2.1.2. Chủ thể của tội tham ô tài sản ............................................................ 36
2.1.3. Mặt khách quan của tội tham ô tài sản ............................................... 41
2.1.4. Mặt chủ quan của tội tham ô tài sản................................................... 45
2.2.

Hình phạt đối với tội tham ô tài sản ............................................... 46

2.2.1. Hình phạt chính .................................................................................. 46
2.2.2. Hình phạt bổ sung .............................................................................. 52
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 52


Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI THAM Ô TÀI
SẢN VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN............................... 55
3.1.

Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về
tội tham ô tài sản .............................................................................. 55




DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 3.1: Số vụ và số người bị đưa ra xét xử về tội tham ô tài
sản trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014

55


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Tham ô là căn bệnh "Tứ chứng
nan y" của mọi Nhà nước; là hành động xấu xa nhất của con người; tham ô
là ăn cắp của công thành của riêng, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều
là lợi dụng của chung, của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương
mình, đơn vị mình; tham ô có hại đến sự nghiệp xây dựng đất nước, có hại
đến công việc cải thiện đời sống nhân dân, đạo đức cách mạng, tham ô tài
sản là tội phạm được Nhà nước ta quy định từ rất sớm, ngay sau khi giành
chính quyền. Điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là
cương quyết đấu tranh chống tội phạm này, bởi vì cùng một lúc nó xâm hại
đến hai khách thể quan trọng là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
và quan hệ sở hữu tài sản [27, tr.39].

2. Tình hình nghiên cứu
Tội tham ô tài sản đã được quy định khá sớm trong luật hình sự Việt
Nam. Những năm gần đây càng ngày xuất hiện càng nhiều những vụ án tham
ô tài sản có tính chất nổi cộm, quy mô ngày càng lớn, với mức độ tinh vi,
phức tạp có sự câu kết chặt chẽ, thủ đoạn hơn, nguy hiểm hơn. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về tội phạm này còn khá khiêm tốn.
Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức
độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về tội tham ô tài sản.
Loại tội này được đề cập, phân tích trong một số giáo trình và sách tham
khảo: Giáo trình luật hình sự việt nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
năm 2003, của tập thể tác giả do TSKH. Lê Cảm làm chủ biên; Giáo trình
luật hình sự Việt Nam của tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ

2


biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2006; Bình luận khoa học bộ luật
hình sự phần các tội phạm tập V của tác giả Đinh Văn Quế, nhà xuất bản
thành phố Hồ Chí Minh năm 2003; “Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề chống
tham nhũng” của tác giả Bùi Mạnh Cường, nhà xuất bản lao động và xã hội
năm 2003. Hay một số bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành như “Bàn về
chủ thể của tội tham ô tài sản” tác giả Trương Thị Thanh Hằng đăng trong
Tạp chí Kiểm sát số 06/2006; “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tham
ô tài sản trong cơ chế thị trường” của tác giả Đinh Văn Quế đăng trong Tạp
chí Kiểm sát số 22/2006. Luận văn thạc sỹ “Tội tham ô tài sản trong bộ luật
hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần
Quang Sơn năm 2007; Luận văn thạc sỹ “Đấu tranh phòng chống tội tham ô
tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Vũ Thị Thanh Hà
năm 2009. Những công trình này, tuy đã giúp làm sáng tỏ quy định của luật
hình sự về tội tham ô tài sản nhưng mới chỉ dừng lại phương diện lý luận

- Phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội
tham ô tài sản
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình
sự hiện hành về tội tham ô tài sản.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định về tội tham ô tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử.
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích, lịch sử, so
sánh, và phương pháp tổng hợp.

4


6. Kết quả và những đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra được phương hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật
hình sự hiện hành về tội tham ô tài sản trên cơ sở làm rõ những vấn đề
chung về tội tham ô tài sản như khái niệm tội tham ô tài sản và khái quát lịch
sử quy định về tội tham ô tài sản trong luật hình sự Việt Nam; phân tích,
đánh giá quy định của bộ luật hình sự hiện hành về tội tham ô tài sản và
đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của bộ luật hình sự hiện hành về tội
tham ô tài sản giai đoạn 2004-2014.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho
không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng
dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc
chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã

6


hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa [37, Điều 8].
Từ quy định này có thể định nghĩa một cách khái quát hơn: tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự do người có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Đây là cơ sở cho việc xác định khái niệm
các loại tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của bộ luật hình sự và là cơ
sở cho việc nhận thức, áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội
phạm cụ thể trong đó có Tội tham ô tài sản được quy định tại chương XXI
“Các tội phạm về chức vụ”.
BLHS 1999 quy định: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm
phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực
hiện trong khi thực hiện công vụ” [37, Điều 277].
Còn theo quy định của Điều 278 BLHS 1999 thì:
Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn
chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai
triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị xử lí kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã
bị kết án về một trong các tội quy định từ điều 278 đến điều 284
BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm [37, Điều 278].
Qua những phân tích trên có thể định nghĩa Tội tham ô tài sản là

Đảng và Nhà nước coi tham nhũng là một trong bốn nguy cơ, cần đấu tranh
để loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Tham ô là một trong những hành vi tham
nhũng và cùng với hành vi nhận hối lộ, là hành vi chủ yếu của tham nhũng,
đặc trưng, điển hình của tệ tham nhũng.

8


Đồng thời, tội tham ô tài sản còn xâm phạm đến sở hữu của cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức xã hội, tức là xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức. Người phạm tội tham ô tài sản
xâm phạm đến quan hệ sở hữu thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản do mình
quản lý. Thông qua hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ chủ sở hữu là
cơ quan, tổ chức thành tài sản của mình hoặc của người khác mà mình quan
tâm đã làm cho chủ sở hữu mất đi khả năng thực hiện các quyền chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt về tài sản của chủ sở hữu.
Thứ hai, tội tham ô được thực hiện do người có chức vụ, quyền hạn
trong quản lý tài sản
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi luật định. Cũng như các tội phạm khác, chủ thể của tội tham ô tài sản
cũng phải đảm bảo các dấu hiệu chung như: có năng lực trách nhiệm hình sự
và đạt độ tuổi luật định. Ngoài ra, người thực hiện hành vi tham ô tài sản còn
phải là người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản. Những người
không có chức vụ, quyền hạn này chỉ có thể là đồng phạm tham ô với vai trò
là người xúi giục, tổ chức hay giúp sức.
Như vậy, đặc điểm đặc trưng về chủ thể của tội tham ô tài sản là đặc
điểm có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản.
Theo quy định tại Điều 277 BLHS1999 thì Người có chức vụ là người
do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng

tài sản
Một trong những đặc điểm nổi bật của tội tham ô tài sản là hành vi lợi
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền
hạn chiếm đoạt tài sản là trường hợp người phạm tội có chức vụ, quyền hạn

10


đã làm trái với nhiệm vụ được giao. Hành vi làm trái với nhiệm vụ được giao
có thể là làm không đúng, không đầy đủ, không kịp thời, trái với quy định của
Nhà nước hoặc Điều lệ, Quy chế của cơ quan, tổ chức. Hành vi lợi dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là cách thức thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý, xâm
phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu.
Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được
giao trong phạm vi thẩm quyền của mình để chiếm đoạt tài sản trong khi thi
hành công vụ. Nếu không có chức vụ, quyền hạn thì họ khó có thể thực hiện
việc chiếm đoạt tài sản. Hay nói cách khác, chức vụ, quyền hạn là điều kiện
thuận lợi để người phạm tội dựa vào đó thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện
bằng nhiều thủ đoạn gian dối khác nhau. Những thủ đoạn gian dối thường gặp
ở tội tham ô tài sản là: lập chứng từ giả, sửa chữa, tẩy xóa sổ sách, giấy tờ, tài
liệu... những thủ đoạn gian dối đó đều sử dụng chức vụ, quyền hạn được giao
như là điều kiện, phương tiện để dễ dàng biến tài sản được giao quản lý thành
tài sản của mình.
Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà
mình có trách nhiệm quản lý thì mới bị coi là phạm tội tham ô tài sản. Nếu
hành vi chiếm đoạt tài sản do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện không
liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn
cũng không bị coi là người phạm tội tham ô tài sản.

hệ nội dung và hình thức. Tính trái pháp luật hình sự tuy có tính độc lập tương
đối những vẫn là dấu hiệu được xác định bởi dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã
hội. Chỉ trên cơ sở thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội, kết hợp tính nguy
hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự mới có thể nhận thức được tính

12


trái pháp luật hình sự một cách đầy đủ. Một hành vi tham ô tài sản chỉ có thể
được xử lý hình sự khi hành vi đó trái pháp luật hình sự. Quy định này của
luật hình sự là cơ sở và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân khỏi bị
xâm phạm bởi hành vi xử lý tùy tiện mà còn thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp
thời sửa đổi, bổ sung luật phù hợp với sự thay đổi tình hình kinh tế, chính trị,
văn hoá - xã hội.
1.2. Lịch sử quy định về tội tham ô tài sản trong luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Thời kỳ trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.
Nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức với những phẩm chất như: cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư, đồng thời xử lý nghiêm những cán bộ, công chức cố tình lợi dụng địa
vị, chức vụ trong bộ máy chính quyền để mưu lợi cá nhân, tham ô, lãng phí…,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập
Ban Thanh Tra đặc biệt, trong đó có nội dung trao cho Ban Thanh Tra quyền:
Điều tra, hỏi chứng, xem xét các giấy tờ, tài liệu của Ủy ban
nhân dân hoặc của các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công
tác giám sát; đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban
nhân dân hay Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng
Chính phủ hay Tòa án đặc biệt xét xử [13, tr.25].
Văn bản pháp lý này tuy không quy định từng tội danh tham nhũng
nhưng quy định “nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay Chính phủ phạm

được quy định thành một tội riêng. Đây là một bước phát triển mới trong lịch
sử lập pháp hình sự.
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội tham
ô tài sản ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trong thời gian tiếp theo đòi
hỏi Nhà nước từng bước hoàn thiện quy định tội tham ô tài sản, ngày

14


21/10/1970 Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài
sản xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong Pháp lệnh này, tại Điều 8 tội tham ô tài sản
xã hội chủ nghĩa đã được quy định như sau:
1. Kẻ nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
XHCN thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tái phạm nguy hiểm;
b) Có tổ chức;
c) Có móc ngoặc;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Tham ô tài sản với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt;
e) Dùng tài sản tham ô vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ,
đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác; thì bị phạt tù từ 5 năm
đến 15 năm.
3. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm có giá
trị rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung
thân hoặc bị xử tử hình [33, tr.8].
Quy định trên của Pháp lệnh cho thấy: so với Sắc lệnh 223, kỹ thuật
lập pháp hình sự của Nhà nước ta đã có sự phát triển đáng kể. Quy định về
tội phạm này đã tiến bộ hơn quy định tương ứng trong Sắc lệnh 223 thể hiện

10, 17 trong trường hợp có tính chất chuyên nghiệp, thì có thể bị
phạt quản chế, cư trú bắt buộc hoặc cấm cư trú ở một số địa phương
từ 1 năm đến 5 năm.
3. Phạm một trong những tội quy định ở các điều 4, 5, 6, 7, 8,
9, 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17 thì tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của

16


tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính mà có thể bị phạt tiền từ 50
đồng đến 5.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay là toàn bộ tài
sản [33, Điều 20].
Sự phát triển về lập pháp hình sự nêu trên đã tạo ra nhiều thuận lợi cho
việc nhận thức và áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn điều tra, truy
tố và xét xử, đồng thời nó góp phần tích cực trong đấu tranh phòng chống tội
tham ô tài sản.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải
phóng, đất nước thống nhất và có nhiều sự đổi mới về bộ máy chính quyền,
kinh tế, chính trị, văn bản pháp luật mới nên ngày 15/03/1976, Hội đồng
Chánh phủ Cách mạng lâm thời ban hành sắc luật số 03-SL/76 quy định các
tội phạm và hình phạt. Trong đó, tội tham ô tài sản được quy định tại điểm b
Điều 4 của Sắc luật:
Điều 4. Tội xâm phạm đến tài sản công cộng
…b) Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, tham ô, lừa
đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt
tù từ sáu tháng đến bảy năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt
tù đến mười lăm năm. Phạm tội trộm cắp, tham ô, lừa đảo mà số tài
sản chiếm đoạt rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc
gây hậu quả đặt biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến hai mươi năm,
tù chung thân hoặc bị xử tử hình.

đến bảy năm” [34, tr.133]. Nếu theo quy định tại pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản XHCN, người có chức vụ, quyền hạn chỉ cần có hành vi
chiếm đoạt tài sản XHCN không phân biệt tài sản XHCN đó do ai trực tiếp
quản lý hay có trách nhiệm quản lý, thì trong BLHS 1985, phạm vi chiếm
đoạt đã thu hẹp vì những hành vi nào chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa do
người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp quản lý thì mới phạm tội tham ô tài

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status