Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 25

1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI LAN NGỌC
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌc
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI

Trách nhiệm hình sự đối với những loại người đồng phạm
33
1.3.1.
Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với những
người đồng phạm trong trường hợp đồng phạm hoàn thành
33
1.3.2.
Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong
trường hợp đồng phạm chưa hoàn thành
35
3.1.2.1.
Trách nhiệm hình sự của người thực hành trong các giai
đoạn thực hiện tội phạm
36
3.1.2.2.
Trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức trong các giai
đoạn thực hiện tội phạm
37
3.1.2.3.
Trách nhiệm hình sự đối với người xúi giục trong các giai
đoạn thực hiện tội phạm
37
3.1.2.4.
Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong các giai
đoạn thực hiện tội phạm
38
3.1.3.
Trách nhiệm hình sự của những loại người đồng phạm trong
trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
39

đến nay
49
2.2.
Các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế
giới về những loại người đồng phạm
58
2.2.1.
Bộ luật hình sự Liên bang Nga
59
2.2.2.
Bộ luật hình sự Trung Quốc
62
2.2.3.
Bộ luật hình sự Nhật Bản
65
2.2.4.
Bộ luật hình sự Vương quốc Bỉ
67
2.2.5.
Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức
69

Chương 3: THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG
PHẠM, VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM
72
3.1.
Thực tiễn xác định những loại người đồng phạm theo quy

Tăng cường giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật
96
3.3.2.
Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức
pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm
phán Tòa án các cấp
97
3.2.3.
Tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên
quan đến những loại người đồng phạm của Viện kiểm sát
nhân dân
99

KẾT LUẬN
102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS
: Bộ luật hình sự
CTTP

74
3.2
Một số nhóm tội, loại tội trong số 196 bản án có đồng
phạm mà tác giả đã nghiên cứu
74
9
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) là do có tính
chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
không những là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản, mà còn là thuộc tính khách
quan, tất yếu và thể hiện bản chất xã hội - pháp lý của từng hành vi phạm tội
cụ thể. Tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tội phạm gây ra
hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đủ tuổi
chịu TNHS thực hiện với hình thức lỗi cố ý và vô ý.
Tội phạm có thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người
thực hiện. Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và trong hành động
của họ có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì được gọi là đồng phạm.
Đồng phạm là hình thức phạm tội "đặc biệt", đòi hỏi những điều kiện riêng,
khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia
phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm
mà cả nhóm hướng tới thực hiện. Trong đồng phạm, mỗi người khi thực hiện
tội phạm giữ vai trò khác nhau. Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người
cùng tham gia thực hiện tội phạm càng củng cố quyết tâm phạm tội đến cùng
của cả nhóm, thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể của những tội

Nam" làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn đề những loại người đồng
phạm nằm trong chế định đồng phạm đã được đề cập trong một số giáo trình,
sách tham khảo do các tác giả khác nhau biên soạn như: 1) TS. Trịnh Quốc
Toản, Chương XIII - Đồng phạm, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Phần chung). Tập thể tác giả do GS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003); 2) Chương X - Đồng phạm, 11
Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Tập thể tác giả do
GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 3)
Chương XIII - Đồng phạm, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,
Tập thể tác giả do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2005; 4) Mục VI - Chế định đồng phạm, Trong sách: Các nghiên cứu
chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, tập IV, của GS.TSKH Lê Cảm, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2002; v.v
Một số nhà khoa học - luật gia hình sự Việt Nam cũng đã quan tâm
nghiên cứu về đề tài này. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một số các công trình
nghiên cứu về chế định đồng phạm nói chung như: 1) Luận án tiến sỹ của tác
giả Trần Quang Tiệp về "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam", trường
Đại học Luật Hà Nội, 2000; 2) GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Mục VI - Chế định
đồng phạm, Chương thứ tư, Trong Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật
hình sự (Phần chung), (Sách chuyên khảo Sau đại học), Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2005; 3) GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Về chế định đồng phạm trong Luật
hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập san Tòa án nhân
dân, số 2/1988; 4) GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Chế định đồng phạm và mô hình
lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
8/2003; 5) TS. Trần Quang Tiệp, Hoàn thiện chế định liên quan đến đồng

tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về những loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, so sánh vấn đề
này với quy định của pháp luật hình sự (PLHS) một số nước trên thế giới.
Ngoài ra, luận văn còn phân tích và đánh giá những vướng mắc trong thực
tiễn áp dụng và tồn tại trong các quy định của PLHS về những loại người
đồng phạm. Trên cơ sở này, luận văn có những đánh giá, đề xuất và đưa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy định của PLHS Việt Nam với mục
đích để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung, tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm nói riêng. 13
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này đúng như tên gọi của nó - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong luật hình
sự Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, do điều kiện và thời gian có hạn, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu những quy định của PLHS Việt Nam từ sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đến nay về những loại người đồng phạm. Bên cạnh đó, luận
văn nghiên cứu về những loại người đồng phạm trong PLHS một số nước để
so sánh với quy định của PLHS nước ta.
Về tư liệu thực tế (các ví dụ chứng minh cho quan điểm, luận chứng
của mình), luận văn nêu ra một số vụ án điển hình trong thực tiễn xét xử trong
thời gian gần đây (2005 - 2011).
4. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Cơ sở khoa học

Là một đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn, nên vấn
đề những loại người đồng phạm mới chỉ được đề cập ở một số ít các bài viết,
bài nghiên cứu, hay chỉ là một phần nhỏ trong một số các công trình nghiên
cứu khoa học. Trong luận văn thạc sỹ của mình, học viên muốn đi sâu tập
trung nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến vấn đề những loại người đồng
phạm trong luật hình sự Việt Nam, từ lý luận, quy định của pháp luật hiện
hành đến thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện các quy định của PLHS hiện hành về những loại người
đồng phạm, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy
định này. 15
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là đề tài nghiên cứu chuyên khảo đề cập một cách tương đối có
hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người
đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học.
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, tác giả luận văn đã làm
rõ khái niệm của người đồng phạm nói chung và từng loại người đồng phạm
nói riêng đồng thời làm rõ bản chất pháp lý của mỗi loại người đồng phạm
cũng như lịch sử phát triển và thực tiễn đánh giá đối với những loại người
đồng phạm theo quy định của BLHS năm 1999. Trên cơ sở, đó luận văn đã
đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định về những loại người đồng phạm
ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần
thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như
phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS trong
việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo
người phạm tội hiện nay ở nước ta.

như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện
một tội phạm".
Từ khái niệm pháp lý trên về đồng phạm và thực tiễn xét xử cho thấy,
đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý về mặt khách quan và chủ
quan như sau:
- Về mặt khách quan
Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực hiện
tội phạm, những người này đều có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS;
những người đồng phạm phải cùng chung hành động, có nghĩa là hành vi của
mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm, hoặc góp phần thực hiện 17
tội phạm; giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội chung
xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả.
- Về mặt chủ quan
Có sự cùng cố ý của tất cả những người phạm tội tham gia vào thực
hiện tội phạm do cố ý với các dấu hiệu sau:
Những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều biết
được hoạt động phạm tội của mỗi người (hoặc một số người trong số họ);
những người đồng phạm đều ý thức được hành vi phạm tội của mình và hành
vi phạm tội của những người khác; những người đồng phạm cùng mong muốn
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Lỗi
của những người đồng phạm là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi
của những người đồng phạm có thể đều là lỗi cố ý trực tiếp hoặc đều là cố ý
gián tiếp và cũng có thể có trường hợp "Trong vụ đồng phạm có thể đồng thời
có cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp" [35, tr. 28].
Tóm lại, theo chúng tôi khái niệm khoa học về đồng phạm có thể được
hiểu như sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia

- Đồng phạm giản đơn: là hình thức đồng phạm trong đó tất cả những
cùng người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều có vai trò là người thực
hành (người đồng thực hành). Có nghĩa là, mỗi người đồng phạm đều thực
hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm (CTTP) của
điều luật được quy định trong Phần các tội phạm.
- Đồng phạm phức tạp: là hình thức đồng phạm có sự phân công vai
trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một
hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của
những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người
giúp sức. Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người
đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả
trong CTTP. 19
c) Căn cứ vào những đặc điểm khách quan và chủ quan của quan hệ giữa
những người đồng phạm, đồng phạm được phân đồng phạm có tổ chức (phạm tội
có tổ chức).
- Phạm tội có tổ chức: là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ
giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999).
Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 thì trong đồng
phạm có tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu
kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính
toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm.
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 khi giải thích khoản 3 Điều 20
BLHS năm 1999 về "Phạm tội có tổ chức" thì phạm tội có tổ chức phải có sự
câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, sự câu kết này,
theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC, có thể thể hiện dưới các

pháp luật hình sự tương ứng quy định) [16, tr. 375].
Như vậy, có thể nói chủ thể của tội phạm đồng phạm là những người
có lỗi cố ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự
quy định là tội phạm, họ có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật
định, một số tội phạm đòi hỏi phải có dấu hiệu chủ thể đặc biệt thì dấu hiệu
này chỉ quy định cho người thực hành.
Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự nước ta cho đến trước thời điểm
BLHS năm 1985 được ban hành cho thấy, chưa có văn bản PLHS nào đưa ra
khái niệm về người đồng phạm.
Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 lần đầu tiên chính thức quy định về
người đồng phạm như sau: "Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức đều là những người đồng phạm". Khoản 2 Điều 20 BLHS
năm 1999 giữ nguyên quy định của BLHS năm 1985 về người đồng phạm. 21
Như vậy, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm khoa học về người đồng
phạm như sau: Người đồng phạm là người thỏa mãn các dấu hiệu chủ thể
của tội phạm, đã cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý cùng với
người khác.
Tóm lại, có thể nói rằng cơ sở để phân biệt những loại người đồng
phạm là vai trò, tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm.
BLHS nước ta đã dựa trên cơ sở khoa học này để quy định những loại người
đồng phạm là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp
sức (khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999).
Việc phân hóa những người đồng phạm thành bốn loại người như quy
định hiện hành của pháp luật hình sự nước ta là hợp lý vì bốn loại người này
giữ những vai trò khác biệt căn bản trong việc thực hiện tội phạm, đặc biệt
người tổ chức là khái niệm không được đề cập trong luật hình sự một số nước
nhưng rõ ràng đây là đối tượng giữ vị trí rất quan trọng trong việc điều khiển

khác nhưng người này không phải chịu TNHS vì những lý do khác nhau. Như
vậy, người thực hiện tội phạm và người thực hành trong đồng phạm giống
nhau về hành vi khách quan. Tuy nhiên, hành vi của người thực hành trong
đồng phạm phải là thực hiện toàn bộ (hoặc một phần) hành vi khách quan
được mô tả trong CTTP của loại tội cố ý, còn hành vi của người thực hiện tội
phạm luôn luôn là thực hiện toàn bộ hành vi khách quan được mô tả trong
CTTP của một loại tội bất kỳ (tội do lỗi cố ý hoặc vô ý). Nếu trong trường
hợp tội phạm đã thực hiện là tội cố ý thì hành vi của người thực hiện tội phạm
giống hành vi của người thực hành trong vụ án đồng phạm có một người thực
hành. Nhưng cơ sở pháp lý (CSPL) xác định TNHS của người thực hiện tội
phạm là điều luật quy định tội phạm cụ thể. Trong khi đó, CSPL xác định
TNHS của người thực hành trong đồng phạm là điều luật quy định về đồng
phạm (Điều 20) và điều luật quy định về tội phạm cụ thể.
Khi nói đến người thực hiện tội phạm trong trường hợp phạm tội do
nhiều người thực hiện không có nghĩa là nói đến tội phạm có đồng phạm, bởi 23
vì ở trường hợp này dù đáp ứng được dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng
phạm nhưng chưa đáp ứng được đầy đủ dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng
phạm. Mỗi người trong số những người thực hiện tội phạm này đều không có
sự cùng cố ý trong việc thực hiện tội phạm, họ chỉ tự mình phạm tội và mong
muốn hoặc có ý thức bỏ mặc hậu quả phạm tội của mình xảy ra mà thôi, họ
phạm tội nhằm đạt được mong muốn, mục đích của chính bản thân mình.
Ví dụ: Nguyễn Văn D điều khiển xe máy trên đường liên xã thuộc địa
phận Huyện Thanh Trì, Hà Nội. Khi thấy anh Nguyễn Đăng H điều khiển xe
máy đi phía trước cùng chiều, mặc dù D biết rõ ổ gà phía trước, nhưng D điều
khiển xe máy vượt lên ép xe máy của anh H, làm xe của anh H phải đi xuống
ổ gà. Anh H điều khiển xe máy vượt lên chửi D. D liền vượt lên trước, ép
chặn xe của anh H lại. Sau đó D và anh H dựng xe máy giữa lòng đường, rồi

Dạng thứ nhất, người thực hành tự mình trực tiếp thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội như trực tiếp cầm dao chém nạn nhân hoặc cầm súng
bắn nạn nhân, trực tiếp cướp tài sản… Thực tiễn xét xử cho thấy đây là dạng
người thực hành thường hay gặp nhất.
Trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, có những
trường hợp người phạm tội thực hiện trọn vẹn các dấu hiệu của hành vi phạm
tội cụ thể nhưng cũng không ít trường hợp có nhiều người thực hiện và mỗi
người chỉ thực hiện một phần hành vi phạm tội và tổng hợp các hành vi đó
thỏa mãn các dấu hiệu CTTP cụ thể.
Trong trường hợp đồng phạm có một người thực hành tức là người
thực hành thực hiện toàn bộ hành vi được mô tả trong CTTP. Khi đó, các
hành vi thực hiện tội phạm của người thực hành có nhiều điểm giống như
hành vi của người thực hiện tội phạm riêng lẻ nhưng phải kể đến vai trò của
những người tham gia khác trong vụ án có đồng phạm.
Trường hợp vụ án đồng phạm có nhiều người thực hành (gọi là người
đồng thực hành), khi này có thể hành vi của một người trong số họ đã có đầy
đủ các dấu hiệu của một CTTP cụ thể hoặc cũng có thể tổng hợp các hành vi
của tất cả người đồng thực hành mới đáp ứng được dấu hiệu của tội phạm, có 25
nghĩa là tác dụng gây ra hậu quả của tội phạm ở hành vi của mỗi người thực
hành có thể khác nhau nhưng hành vi của họ đều nằm trong giới hạn thuộc
mối quan hệ nhân quả của CTTP được điều luật tại Phần các tội phạm của
BLHS quy định. Tuy nhiên, khi nói đến trường hợp đồng phạm có nhiều
người thực hành, chúng ta phải xét đến hai hình thức đồng phạm: đồng phạm
giản đơn (gồm nhiều người thực hành) và đồng phạm phức tạp (có nhiều
người thực hành và có cả những người tham gia, có thể là người tổ chức,
người xúi giục hoặc người giúp sức).
Đối với trường hợp những tội đòi hỏi phải có dấu hiệu chủ thể đặc biệt,

về việc gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Một người cầm dao kè
vào cổ một người thanh niên và yêu cầu người thanh niên đó hiếp dâm một
phụ nữ.
+ Sử dụng người dưới quyền thực hiện mệnh lệnh không hợp pháp của
mình, mà người thi hành mệnh lệnh không được biết tính chất không hợp
pháp của mệnh lệnh và cũng không có nghĩa vụ phải biết tính chất đó nên
không phải chịu TNHS.
Đối với những tội phạm đòi hỏi chủ thể phải trực tiếp thực hiện tội
phạm như: Tội hiếp dâm (Điều 111), tội loạn luân (Điều 150), tội đào ngũ
(Điều 325), thì không thể có trường hợp người thực hành sử dụng hay lợi
dụng người khác thực hiện tội phạm.
b) Người thực hành phải cùng chung hành động với người đồng thực
hành hoặc người đồng phạm khác. Trong đồng phạm giản đơn, những người
đồng thực hành cần phải có hành vi cùng thực hiện tội phạm. Còn trong đồng
phạm phức tạp cần phải có hành vi cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm
của những người đồng phạm khác với người thực hành, đó là các hành vi như
tổ chức, xúi giục, giúp sức. Hành vi của những người thực hành là nguyên
nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả chung còn hành vi của những người khác
thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả đó.

Trích đoạn Bộ luật hình sự Trung Quốc Bộ luật hình sự Nhật Bản Bộ luật hình sự Vương quốc Bỉ Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức Thực tiễn xét xử những loại người đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status