ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT THỊ THU HIỀN
CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT THỊ THU HIỀN
CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình
1
Chương 1: NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VỀ CHẾ ĐINH
GIẢI QUYẾT
̣
6
VIỆC DÂN SƢ̣ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của việc dân sự
6
1.1.1. Khái niệm việc dân sự
6
1.1.2. Đặc điểm của việc dân sự
9
1.2.
Khái niệm, đặc điểm, cơ sở và ý nghĩa của chế định giải quyết
việc dân sự
Những quy định chung về giải quyết việc dân sự
27
2.1.1. Những loại việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
27
2.1.2. Nguyên tắc giải quyết việc dân sự
28
4
2.1.3. Người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự
31
2.1.4. Thành phần giải quyết việc dân sự
32
2.1.5. Thành phần tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự
33
2.1.6. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
36
53
3.1.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế định giải
quyết việc dân sự
53
3.1.2. Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chế định giải
quyết việc dân sự
56
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện chế định giải
quyết việc dân sự
71
3.2.1. Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự
71
3.2.2. Một số kiến nghị hướng dẫn áp dụng các quy định trong Phần
thứ năm về thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng
dân sự
74
3.2.3. Kiến nghị về bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán và tăng
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Thống kê số lượng các loại việc dân sự Tòa án nhân dân
53
bảng
3.1
đã giải quyết từ năm 2008 đến năm 2012
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
̣ của BLTTDS như quy đinh
̣
8
về thời hiê ̣u yêu cầ u giải quyế t viê ̣c dân sự ; thủ tục tiến hành phiê n ho ̣p giải
quyế t viê ̣c dân sự v .v... làm cho chế định thủ tục giải quyế t viê ̣c dân sự trong
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được hoàn thiện hơn
. Tuy vậy, để nhâ ̣n
thức được đầ y đủ , đúng và áp du ̣ng thố ng nhấ t trong thực tiễn các quy định về
thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLTTDS thì cầ n phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề liên
quan. Với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề liên quan đến thủ tục
giải quyết việc dân sự, tìm ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện chế định
giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, học viên đã
chọn đề tài "Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi BLTTDS mới ban hành, để áp dụng đúng đắn quy định về thủ tục
giải quyết việc dân sự của Bộ luật này năm 2007 Tòa án nhân dân tối cao đã
có công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ với đề tài "Cơ sở lý luận và thực
tiễn thi hành quy định tại Phần thứ năm: Thủ tục giải quyết việc dân sự của
Bộ luật tố tụng dân sự" do tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng làm Chủ nhiệm đề tài.
Ngoài ra còn một số bài viết về vấn đề này như "Một số quy định chung về
thủ tục giải quyết việc dân sự" và "Những vấn đề cơ bản về thủ tục giải quyết
một số việc dân sự" của tác giả Tưởng Duy Lượng trong cuốn Pháp luật tố
tụng dân sự và thực tiễn xét xử do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận
, nội
dung của chế đinh
̣ giải quyế t viê ̣c dân s ự và thực tiễn thực hiện chúng từ đó ,
thấy được những vướng mắc , bất cập và đề xuấ t các giải pháp
nhằm hoàn
thiện chế định giải quyết viê ̣c dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nếu trên, việc nghiên cứu đề tài có
các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận của chế định giải quyết việc dân sự
như khái niê ̣m viê ̣c dân sự, khái niệm và cơ sở của chế định việc dân sự v.v…
10
- Nghiên cứu các quy đinh
̣ chung của chế định giải quyế t viê ̣c dân sự
trong pháp luật Việt Nam hiện hành và các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự tương ứng để so sánh, tham khảo.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện chế định giải quyế t viê ̣c dân sự tại các
Tòa án Việt Nam để nhận diện các bất cập của chế định giải quyế t vi ệc dân sự
và đề xuất được các giải pháp hoàn thiện.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quan điểm của Đảng, Nhà nước về
cải cách tư pháp, những vấn đề về lý luận chế định giải quyết việc dân sự, các
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định chung của chế định giải
quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và đánh
giá đúng được thực trạng của chúng.
- Đề xuất được những giải pháp cụ thể, góp phần vào việc sửa đổi toàn
diện BLTTDS theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội
nhiệm kỳ khóa XIII.
Luận văn là tài liệu tham khảo trong ngh iên cứu, giảng dạy tại các cơ
sở đào tạo luật và trong việc xây dựng
các văn bản hướng dẫn thi hành c ác
quy đinh
̣ của chế định giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm BLTTDS và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , nội
dung của luâ ̣n văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế đinh
̣ giải quyế t viê ̣c dân sự.
Chương 2: Nội dung của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự và kiến nghị.
12
Chương 1
NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHẾ ĐINH
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SƢ̣
Lần đầu tiên khái niệm việc dân sự được quy định tại Điều 311
BLTTDS, theo đó:
Viê ̣c dân sự là viê ̣c cá nhân , tổ chức không có tranh chấ p ,
nhưng có yêu cầ u Toà án công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n mô ̣t sự
kiê ̣n pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyề n, nghĩa vụ dân sự , hôn
nhân và gia đin
̀ h , kinh doanh, thương ma ̣i, lao đô ̣ng của miǹ h hoă ̣c
của cá nhân , cơ quan, tổ chức khác ; yêu cầ u Toà án công nhâ ̣n cho
mình quyền về dân sự , hôn nhân và gia đình , kinh doanh, thương
mại, lao đô ̣ng [22].
Như vậy, viê ̣c dân sự được hiểu là viê ̣c mà cá nhân , tổ chức không có
tranh chấ p về quyề n và lơ ̣i ích hơ ̣p pháp giữa các bên do các bên đã thoả
thuâ ̣n đươ ̣c với nhau , tuy nhiên , để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của
mình các bên yêu cầu Toà án công nhận giá trị pháp lý của sự thoả thuận đó .
Hoă ̣c trường hơ ̣p chỉ có mô ̣t bên khi có mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý nào đó làm phát
sinh quyề n và nghiã vu ̣ dân sự hoă ̣c quyề n về dân sự yêu cầ u Toà án xác nhận
sự kiê ̣n pháp lý đó ; công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n quyề n , nghĩa vụ dân sự,
HN&GĐ, kinh doanh, thương ma ̣i và lao đô ̣ng . Khác với vụ án dân sự , việc
dân sự là loại việc mà giữa các chủ thể với nhau không có tranh chấ p về
quyề n và lơ ̣i ích , vụ án dân sự được phát sinh do có tranh chấp về quyền lợi ,
nghĩa vụ giữa các bên (nguyên đơn và bị đơn ) mà tự họ không thể giải quyết
đươ ̣c nên mô ̣t trong các bên đã khởi kiê ̣n yêu cầ u Toà án giải quyế t . Viê ̣c dân
sự đươ ̣c phát sinh chỉ do mô ̣t tuyế n chủ thể , mà khi có một sự kiện pháp lý
nào đó là căn cứ làm phát sinh quyề n, nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương ma ̣i, lao đô ̣ng của mình hoă ̣c của người khác liên quan đế n quyề n lơ ̣i
của mình hoặc của cơ quan , tổ chức khác ; hoă ̣c phát sinh quyề n về dân sự ,
HN&GĐ, kinh doanh - thương ma ̣i , lao đô ̣ng thì chính chủ thể này yêu cầ u
Toà án xem xét để công nhận hay không công nhận các sự kiện pháp lý và các
Trong quá trình xét xử những vụ án theo trình tự của
chương này, trường hợp phát hiện vụ án thuộc về tranh chấp quyền
lợi dân sự thì nên quyết định kết thúc trình tự đặc biệt và báo cho
những người có quan hệ về lợi ích biết để có thể khởi tố theo thủ
tục khác [36].
Như vậy, qua phân tích và nghiên cứu tìm hiểu các quy định về việc
dân sự tại một số nước như trên nhận thấy có sự tương đồng về khái niệm
15
việc dân sự giữa pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam với pháp luật tố tụng
dân sự của một số nước trên thế giới đều là loại việc có bản chất là không có
tranh chấp.
1.1.2. Đặc điểm của việc dân sự
Bản chất việc dân sự là việc không có tranh chấp. Trong các vụ việc
dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa
án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại và lao động
của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận
hoặc không công nhận quyền về dân sự, HN&GĐ, kinh doanh, thương mại và
lao động; yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về quan
hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại và lao động. Từ các vụ việc cụ
thể mà các bên hoặc đã tự thỏa thuận được với nhau về các tình tiết của sự
việc cũng như quyền và lợi ích và cùng yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa
thuận đó (các yêu cầu về HN&GĐ như công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con,
chia tài sản; thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật…) hoặc chỉ
có một bên yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý như yêu cầu xác
định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân; công nhận hoặc không công
nhận quyền về dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại và lao động; yêu cầu
chấp giữa các bên như vụ án dân sự do đó không có nguyên đơn và bị đơn
như trong vụ án dân sự.
Thứ hai, các đương sự trong việc dân sự không có tranh chấp với nhau
về quyền và nghĩa vụ dân sự.
Như trên đã phân tích, việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khi
có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình một sự kiện
pháp lý để từ đó làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ…
hoặc yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, HN&GĐ, và việc
yêu cầu này được thực hiện với điều kiện do một tuyến chủ thể là một bên yêu
cầu như sự kiện một người bị mất năng lực hành vi dân sự như đã phân tích
trên đây hoặc do cả hai bên yêu cầu nhưng việc yêu cầu phải căn cứ vào sự tự
17
nguyện, thỏa thuận giữa các bên như sự kiện thuận tình ly hôn trong HN&GĐ,
bởi việc ly hôn ở đây là có sự "thuận tình" giữa các bên, là sự tự giải quyết
giữa các bên do các bên đều tự nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt
được và tự nguyện đồng ý về việc ly hôn; cùng thỏa thuận được với nhau về
quyền và nghĩa vụ đối với con cái và tài sản; không yêu cầu Tòa án giải quyết
tranh chấp về con cái và tài sản mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận việc thuận
tình ly hôn để thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự cũng như HN&GĐ. Do đó,
việc dân sự không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu công nhận hoặc không
công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự.
Thứ ba, từ yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ công nhận hoặc không
công nhận một sự kiện pháp lý mà từ sự kiện đó làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ dân sự; từ yêu cầu của đương sự Tòa án công nhận quyền dân sự cho họ.
Sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự có nghĩa là
khi sự kiện đó xảy ra làm thay đổi cơ bản về quyền và nghĩa vụ dân sự của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, do đó, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
1.2.1. Khái niệm chế định giải quyế t viêc̣ dân sƣ̣
Để bảo đảm trật tự xã hội, mọi hoạt động của các cá nhân, tổ chức đều
phải được thực hiện trên cơ sở của pháp luật, mọi hành động xâm phạm lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều
bị xử lý theo pháp luật. Trong trường hợp có vi phạm hoặc tranh chấp các chủ
thể đều có quyền tự quyết định, định đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của họ và
lựa chọn cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của
pháp luật tại Điều 5 BLTTDS "đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện,
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý
giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó" [22] đây là một
trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự và là một trong các yếu
tố phản ánh bản chất của tố tụng dân sự. Theo đó, khi mỗi cá nhân, tổ chức bị
xâm phạm quyền và lợi ích có thể lựa chọn cho mình cách giải quyết tốt nhất,
19
phù hợp với quy định của pháp luật để khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền giải quyết hay còn gọi là tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình,
việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cũng không phải là "tùy tiện" mà
phải theo đúng quy định của pháp luật tố tụng về quyền khởi kiện, phạm vi
khởi kiện, cách thức thực hiện quyền khởi kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện,
thời hiệu yêu cầu… Khi cá nhân, tổ chức mà phát sinh những mâu thuẫn,
tranh chấp thì làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục, trình
tự giải quyết vụ án dân sự; cá nhân, tổ chức không phát sinh tranh chấp
nhưng có yêu cầu ghi nhận về một sự kiện pháp lý nào đó thì làm đơn yêu cầu
định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự và thủ tục giải quyết việc dân sự
tại Tòa án nhân dân.
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, chế định giải quyết việc dân sự
bao gồm các quy định chung tại Chương XX của BLTTDS và các quy định
tại các chương khác của BLTTDS, các quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật
này. Theo đó, nội dung của chế định giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm
BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 gồm có các quy định về nguyên tắc,
thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án; thời hiệu yêu cầu giải quyết
việc dân sự; thủ tục nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự; thủ tục
chuẩn bị xét đơn yêu cầu; những người tham gia phiên họp giải quyết việc
dân sự; thủ tục tiến hành giải quyết việc dân sự; thời hạn kháng cáo, kháng
nghị; thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo,
kháng nghị.
1.2.2. Đặc điểm của chế định giải quyết việc dân sự
Bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp, chứng cứ rõ ràng,
không cần nhiều thời gian để thu thập chứng cứ và các bên đã tự nguyện, thỏa
thuận… nên đòi hỏi pháp luật tố tụng dân sự cần phải quy định một chế định
riêng để giải quyết các yêu cầu phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội sao
cho phù hợp với bản chất của nó. Theo đó, các nhà làm luật đã căn cứ vào bản
21
chất của việc dân sự quy định cách thức, trình tự giải quyết việc dân sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án một cách mềm dẻo, linh hoạt, đơn giản để
mang lại hiệu quả thiết thực cho cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng và
có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thời hạn tố tụng giải quyết việc dân sự được quy định ngắn
hơn so với thời hạn tố tụng giải quyết vụ án dân sự.
và cho thi hành ở Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài thì do một
Hội đồng gồm ba Thẩm phán giải quyết không có Hội thẩm nhân dân. Trong
khi đó thành phần giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 52 BLTTDS
thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm nhân dân,, trong trường hợp đặc biệt thì gồm hai Thẩm phán và
ba Hội thẩm nhân dân. Như vậy, với quy định về thành phần giải quyết việc
dân sự như trên nên thủ tục xem xét và ra quyết định của BLTTDS đơn giản
và nhanh chóng hơn rất nhiều so với thủ tục nghị án và tuyên án trong phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Thứ ba, quy định Tòa án mở phiên họp để giải quyết việc dân sự mà
không phải là phiên tòa như như đối với giải quyết vụ án dân sự.
Phiên tòa được hiểu là phiên xét xử trong vụ án dân sự để giải quyết
tranh chấp giữa các bên, có sự tham gia của một bên khởi kiện là nguyên đơn
và một bên bị kiện là bị đơn, do đó có sự đối kháng giữa các bên; có sự tham
gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và có
phần tranh luận giữa các bên với nhau. Trong khi đó việc giải quyết việc dân
sự không có phần tranh luận do bản chất của việc dân sự là không có tranh
chấp nên không có sự đối kháng về quyền lợi giữa các bên, không có sự tham
gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu hay
người có liên quan do đó không có phần tranh luận, việc giải quyết được thực
hiện như một cuộc họp giữa một bên là Thẩm phán và một bên là người yêu
cầu, Thẩm phán không phải đánh giá chứng cứ và phân xử giữa các bên, chỉ
nghe lời trình bày của người yêu cầu, những lời khai của người làm chứng,
người giám định (nếu có) và xem xét tài liệu, chứng cứ liên quan rồi ra Quyết
23
định, do đó BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã
quy định là phiên họp giải quyết việc dân sự.
định hoặc nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc ngày được thông
báo, niêm yết và mười lăm ngày đối với kháng nghị của Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp kể từ ngày Tòa án ra quyết định, do đó, ngắn hơn so với quy
định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm là mười lăm
ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bản án được giao và ba mươi ngày kể
từ ngày tuyên án đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Thứ bảy, thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị không phải tiến hành mở phiên tòa, không phải
triệu tập các đương sự trừ khi thấy cần thiết.
Bởi bản chất việc dân sự chỉ là yêu cầu nhằm công nhận hoặc không
công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền dân sự mà không có tranh
chấp; chỉ có một bên chủ thể đến Tòa án để đưa ra yêu cầu, do đó thủ tục
phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ là phiên họp để xem
xét lại nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với Quyết định giải quyết việc dân
sự, chẳng hạn đối với yêu cầu tuyên bố một người là mất tích Tòa án sẽ xem
xét lại tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự đó hoặc xem xét có hay
không việc vi phạm thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của
pháp luật tố tụng, do đó, với ý nghĩa là một thủ tục đơn giản nên BLTTDS
quy định thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị không phải mở phiên tòa mà là phiên họp, không phải
triệu tập các đương sự trừ khi thấy cần phải xác định rõ về nội dung kháng
cáo của đương sự.
Thứ tám, không quy định tái thẩm đối với một số quyết định giải quyết
việc dân sự.
Thủ tục tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới mà làm thay đổi cơ bản
nội dung của bản án, quyết định đó mà Tòa án và bản thân các đương sự đã
không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Đối với một số việc dân
25