ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT THỊ THU HIỀN
CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT THỊ THU HIỀN
CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình
MỞ ĐẦU
C
hư
ơn
g 1:
NH
ƢƢN
G
VẤN
ĐỀ
LÝ
LU
ẬN
VỀ
CH
Ế
ĐIN
H
GIẢ
I
QU
YẾT
6
V
I
Ê
̣
2.1.
ng
Nhữ
2:
ng
sự
NỘI
quy
9
DU
định
Khái niệm, đặc điểm,
NG
chu
cơ sở và ý nghĩa của chế định
YẾ
sự
T
27
VIỆ
2.1.
C
1.
DÂ
Nhữ
N
ng
SỰ
loại
1.2.
PHÁP
sự
20 1.2.4. Ý nghĩa của chế định
giải quyết việc dân sự
LUẬT
TỐ
TỤNG
thuộ
c
thẩm quyền của Tòa án nhân
dân
27 2.1.2. Nguyên tắc giải quyết
việc dân sự
28
4
2.1.3. Người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự
31
2.1.4. Thành phần giải quyết việc dân sự
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT
53
VIỆC DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
3.1.
Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự
3.1.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế định giải
53
53
quyết việc dân sự
3.1.2. Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chế định giải
56
quyết việc dân sự
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện chế định giải
71
quyết việc dân sự
3.2.1. Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
3.1
Tên bảng
Thống kê số lượng các loại việc dân sự Tòa án nhân dân
đã giải quyết từ năm 2008 đến năm 2012
7
Trang
BLTTDS nói riêng, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự đồng thời tạo điều kiện để Tòa án
thực hiện tốt hơn công tác xét xử, ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ chín, Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam khóa XII đã thông qua
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS.
Về thủ tuc giải
sự , Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
c quyết viêc dân
c
của BLTTDS đã sửa đổi, bổ sung một số quy điṇ h của BLTTDS như quy điṇ h
8
về thời hiêụ yêu cầu giai quyết viêc cdân sự ; thủ tục tiến hành phiê n hop giai
quyết viêc dân
sự v .v... làm cho chế định thủ tục giai quyết viêc dân
sự trong
c
c
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được hoàn thiện hơn
. Tuy vậy, để nhâṇ
thức được đầy đủ, đúng và ap dung thống nhất trong thưc tiễn các quy định về
thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLTTDS thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề liên
quan. Với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề liên quan đến thủ tục
giải quyết việc dân sự, tìm ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện chế định
giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, học viên đã
(số 16); "Một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc dân sự theo Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004" của thạc sĩ Vũ Thị Hồng Vân đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân, tháng 5-2006 (số 9); "Một số vấn đề về thủ tục sơ thẩm giải quyết việc dân sự
trong Bộ luật tố tụng dân sự" của thạc sĩ Đặng Thanh Hoa, đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân, tháng 5/2006 (số 9); "Thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự" của tiến sĩ Lê Thu Hà, đăng trên Tạp chí Tòa
án nhân dân, tháng 6-2006 (số 12) v.v... Tuy vậy, các công trình
nghiên cứu này chỉ mới làm rõ được một số vấn đề liên quan đến chế định
giải quyết việc dân sự, mặt khác do được thực hiện trong thời gian Nhà nước
ta chưa ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS nên nhiều
vấn đề liên quan mới nảy sinh từ khi Nhà nước ta ban hành Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLTTDS còn chưa được nghiên cứu giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận
, nội
dung của chế điṇ h giải quyết viêc dân
c s ự và thực tiễn thực hiện chúng từ đó ,
thấy được những vướng mắc , bất cập và đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn
thiện chế định giải quyết viêc cdân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nếu trên, việc nghiên cứu đề tài có
các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận của chế định giải quyết việc dân sự
như khai niêm viêc cdân sự, khái niệm và cơ sở của chế định việc dân sự v.v…
10
đề lý luận , với thực tiễn hoạt động giải quyết việc dân sự tại Tòa án để làm rõ
các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu đề tài.
11
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế điṇ h giai quyết
viêc c dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau khi Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLTTDS được ban hành và có những điểm mới sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm và làm rõ ý nghĩa, cơ sở của chế định giải
quyết viêc dân
c sự.
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định chung của chế định giải
quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và đánh giá
đúng được thực trạng của chúng.
- Đề xuất được những giải pháp cụ thể, góp phần vào việc sửa đổi toàn
diện BLTTDS theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội
nhiệm kỳ khóa XIII.
Luận văn là tài liệu tham khao trong ngh iên cứu, giảng dạy tại các cơ
sở đào tạo luật và trong việc xây dưng
các văn ban hướng dẫn thi hanh c ác
quy điṇ h của chế định giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm BLTTDS và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luâṇ và danh muc c tai liêụ tham khao , nội
dung của luâṇ văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế điṇ h giải quyết viêc dân
quan hệ dân sự không ngừng phát sinh đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp
luật tố tụng dân sự để bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp và các
yêu cầu tại Tòa án nhân dân. Để cụ hóa các nội dung chỉ đạo của Đảng về cải cách
tư pháp ở Việt Nam và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngày 15/6/2004 tại kỳ họp
thứ V, Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTDS của nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
13
Lần đầu tiên khái niệm việc dân sự được quy định tại Điều 311
BLTTDS, theo đó:
Viêc dân
c sự là viêc cá
c nhân , tổ chức không có tranh chấp ,
nhưng có yêu cầu Toà an công nhâṇ hoăc không
công nhâṇ môṭ sự
c
kiêṇ phap lý là căn cứ lam phat sinh quyề n, nghĩa vụ dân sự , hôn
nhân và gia đinh , kinh doanh, thương maị , lao đông của minh hoăc của
c
cá nhân , cơ quan, tổ chức khác ; yêu cầu Toà án công nhâṇ cho
mình quyền về dân sự , hôn nhân và gia đình , kinh doanh, thương
mại, lao đông [22].
Như vậy, viêc dân
c sự được hiểu là viêc mà
c cá nhân , tổ chức không có
tranh chấp vềquyền vàlơịích hơp pháp giữa các bên do các bên đãthoả
thuâṇ đươc với nhau , tuy nhiên , để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
điṇ h về thủ tục giải quyết việc dân sự : "Thẩm phan quyết điṇ h giai quyết cac
viêc dân
sự theo qu y điṇ h của phap luâṭ khi có yêu cầu trong trường hơp
c
không có tranh chấp; căn cứ vao tinh chất của vu c viêc hoăc
tư
c
c cach của người
̀̀
yêu cầu mà vu c viêc thuôc
quyền
quyết điṇ h của Thẩm phan " [16]. Tương tự,
c
c
BLTTDS của Liên bang Nga cũng quy định về thủ tục đặc biệt để giải quyết
các vụ việc dân sự trong trường hợp không có tranh chấp:
3. Trong trường hợp khi thụ lý đơn hoặc khi giải quyết vụ
việc theo thủ tục đặc biệt mà thấy rằng tranh chấp phải được giải
quyết theo thủ tục giải quyết vụ án, thì Tòa án ra quyết định không
xem xét đơn yêu cầu, trong đó có giải thích cho người gửi đơn và
những người khác liên quan quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo
thủ tục giải quyết vụ án [35].
Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mặc dù
không quy định tên gọi là việc dân sự nhưng quy định về trình tự đặc biệt đối
với những loại việc không có tranh chấp:
Tòa án nhân dân áp dụng những quy định của chương này
xử lý những vụ án: vụ án về tư cách cử tri những vụ án tuyên bố
mất tích hoặc tuyên bố tử vong, những vụ án về nhận định công dân
không có năng lực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự hạn
chế và những vụ án về tài sản vô chủ…
hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình Trọng tài thương
mại giải quyết tranh chấp… Qua đó cho thấy, việc dân sự có các đặc
điểm sau:
Thứ nhất, không có nguyên đơn và bị đơn trong việc dân sự mà chỉ có
người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.
Nguyên đơn là người đứng đơn khởi kiện, người được cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật tố tụng đứng đơn khởi kiện để
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của
người đó bị xâm hại và bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá
16
nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện theo quy định của pháp luật khi cho
rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Do
đó, nguyên đơn và bị đơn là chủ thể của trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
dân sự.
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp
nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp
lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ... do đó, với
bản chất là không có tranh chấp, do một tuyến chủ thể yêu cầu khi có những
sự kiện xảy ra làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của một bên
hoặc làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của một bên, chẳng hạn như sự kiện tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp
pháp và nghĩa vụ dân sự của một bên là vợ, chồng đối với một bên là vợ,
chồng bị tâm thần như cần phải được chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh, cần
phải có người đại diện trong các giao dịch dân sự, cần phải có người quản lý tài
sản một cách hợp pháp… thì một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố
người vợ hoặc người chồng đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy,
đương sự trong việc dân sự chỉ là một bên yêu cầu, không có tranh chấp giữa các
cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án
công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý đó để tránh sự xáo trộn
trong trong quan hệ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh, thương mại, lao động của
cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp cũng
như nghĩa vụ họ. Ví dụ, anh Nguyễn Văn A là quản đốc phân xưởng phụ
trách một dây chuyền sản xuất thiết bị tại nhà máy sản xuất bóng đèn X bị tâm
thần đã được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận, không thể làm chủ được
hành vi của mình, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại đối với nhà máy X… do đó
theo yêu cầu của Nhà máy X yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Văn
A mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền,
Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Văn A bị mất năng lực
hành vi dân sự và đồng thời trong Quyết định đó Tòa án quyết định người đại diện
theo pháp luật cho anh Nguyễn Văn
18
A và phạm vi đại diện theo quy định tại Điều 321 BLTTDS để bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn A trong quan hệ lao động với nhà
máy X nói riêng và quan hệ dân sự, HN&GĐ nói chung… đồng thời Quyết định
tuyên bố anh A mất năng lực hành vi dân sự làm phát sinh nghĩa vụ giám hộ
đương nhiên của vợ hoặc cha, mẹ hoặc anh, chị em ruột đối với anh Nguyễn Văn A
như việc chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho anh A, đại diện cho anh A trong
các giao dịch dân sự, quản lý tài sản riêng của anh A và bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp khác của anh A theo quy định tại Điều 67 Bộ luật dân sự (BLDS) năm
2005. Và cũng xuất phát từ việc nhà máy X yêu cầu Tòa án công nhận anh
Nguyễn Văn A là người bị mất năng lực hành vi dân sự mà làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ lao động của nhà máy X; cũng như quyền và nghĩa vụ dân sự
của những người thân trong gia đình anh A đối với anh A.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH
vụ án dân sự; cá nhân, tổ chức không phát sinh tranh chấp nhưng có yêu cầu
ghi nhận về một sự kiện pháp lý nào đó thì làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết
theo thủ tục, trình tự giải quyết việc dân sự. Để bảo đảm việc giải quyết nhanh
chóng và đúng đắn vụ việc dân sự, pháp luật tố tụng dân sự quy định các thủ
tục tố tụng tương ứng với vụ, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án, theo đó có các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự và các
quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự.
Trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói
riêng chưa có một văn bản hoặc điều luật nào định nghĩa thế nào là chế định
giải quyết việc dân sự. Từ khi BLTTDS được ban hành và có hiệu lực cho đến
nay tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thủ tục giải quyết việc
dân sự nhưng các công trình đó cũng mới chỉ phân tích về khái niệm việc dân sự,
nêu lên phạm vi áp dụng, những vấn đề thuộc về chủ thể, nội dung và thủ tục
giải quyết việc dân sự mà chưa đưa ra được khái niệm về chế định giải quyết
việc dân sự. Theo Từ điển tiếng Việt thì chế định là "Đặt ra, quy định thành thể
lệ, chế độ. Chế định một bộ luật"; "Toàn bộ nói chung những quan hệ pháp lý
được quy định về một vấn đề. Quyền sở hữu là một chế định của ngành luật dân
sự" [38, tr. 149]. Theo Từ điển Luật học thì "chế định" là tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, có cùng tính chất trong
phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định. Ví dụ:
20
ngành luật dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp
đồng, chế định thừa kế, chế định quyền tác giả…[34, tr. 122]. Như vậy, tổng hợp
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nguyên tắc, thẩm quyền, thời
hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, thủ tục nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết
việc dân sự, thủ tục chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thủ tục tiến hành giải quyết việc
dân sự v.v...có thể trở thành một chế định của pháp luật tố tụng dân sự - Chế định
Theo quy định của BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự
được quy định là bốn tháng kể từ ngày thụ lý, đối với các vụ án có tính chất
phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì thời hạn xét xử được gia hạn không
quá hai tháng là sáu tháng. Thời hạn mở phiên tòa được quy định là một tháng kể
từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong trường hợp có lý do chính
đáng thì thời hạn này là hai tháng.
Thời hạn tố tụng giải quyết việc dân sự ngắn hơn so với thời hạn tố
tụng giải quyết vụ án dân sự, ví dụ: Thời hạn chuẩn bị phiên họp giải quyết
yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực
hành vi dân sự, tuyên bố một người là đã chết là 30 ngày kể từ ngày thụ lý
đơn, trong thời hạn này Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự
phải ra một trong các quyết định: đình chỉ, tạm đình chỉ, mở phiên họp xét đơn
yêu cầu. Thời hạn mở phiên họp được quy định là mười lăm ngày kể từ ngày ra
quyết định mở phiên họp.
Bên cạnh đó, đối với thủ tục yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú và thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích
thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là hai mươi ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý
đơn yêu cầu.
Thứ hai, quy định thành phần giải quyết việc dân sự ở cấp sơ thẩm do
một Thẩm phán giải quyết, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.
Xuất phát từ bản chất việc dân sự là không có tranh chấp, do các bên tự
nguyện yêu cầu hoặc thỏa thuận, chứng cứ rõ ràng do đó, pháp luật tố tụng
22
dân sự quy định về thành phần giải quyết việc dân sự ở cấp sơ thẩm đơn giản
hơn, do một Thẩm phán giải quyết, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân
dân, trừ những yêu cầu công nhận và cho thi hành ở Việt Nam hoặc không
công nhận những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc công nhận