Tài liệu Luận văn " kế hoạch giải quyết việc làm " doc - Pdf 92



Luận văn

Đề tài : " kế hoạch giải quyết việc làm "
KÕ ho¹ch 42B
1
LỜI NÓI ĐẦU
Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính
chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia. Việt Nam trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã đạt được
những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao trong một số năm, giải quyết tốt vấn đề về lương thực...Tuy nhiên Việt Nam
cũng còn phải đối phó với những thách thức to lớn trong quá trình phát triển.
Một trong những thách thức đó là tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm đang
tạo lên sức ép to lớn đối với nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó việc chăm lo giải quyết việc làm đã trở thành nhiệm vụ cơ
bản và cấp bách, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội phải
quan tâm.Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch giải quyết việc làm là nhiệm vụ
hết sức quan trọng và cần thiết. Đây là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội. Nó hỗ trợ, thúc đẩy, xây dựng các kế hoạch bộ phận
khác trong tổng thể hệ thống kế hoạch hoá quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần đưa nước ta có được vị thế mới trên
trường quốc tế.
Qua bài viết này em muốn được tiếp cận sâu hơn về vấn đề này, góp
phần nhỏ bé vào việc giải quyết việc làm cho đất nước.
Kết cấu của đề tài gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về kế hoạch giải quyết việc làm.
Chương II: Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu việc làm trong 3 năm
đầu của kế hoạch 5 năm 2001-2005
Chương III: Các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch lao động việc làm
thời kỳ 2004-2005

được trả công; học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động; những nguời không
hoạt động kinh tế vì những lí do khác.
§Ò ¸n m«n häc
KÕ ho¹ch 42B
3
3. Việc làm.
Có ý kiến cho rằng, việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa
sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của
cải vật chất và tinh thần của xã hội. Như vậy theo quan điểm này khi và chỉ
khi có sự phù hợp về số lượng của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất
thì ở đó có việc làm. Với cách hiểu việc làm như khái niệm trên thì chưa thật
toàn diện. Bởi vì còn một yếu tố thư ba rất quan trọng đó là điều kiện lao
động. Nếu điêù kiện lao động không đảm bảo thì qúa trình lao động cũng
không thể diễn ra được .
Vì vậy, trong điều 13 Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam nêu rõ : “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật
cấm đều đuợc thừa nhận là việc làm.” Các hoạt động được xác định là việc
làm bao gồm: làm các công việc được trả công dưới dạng tiền hặc hiện vật ;
công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình
mình nhưng không được trả công cho công việc đó.
Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động
kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra : đang có việc làm để nhận tiền công ,
tiền lương; đang làm việc nhưng không được hưởng tiền trong các công việc
kinh doanh của hộ gia đình mình hoặc đã có công việc trước đó song tuần lễ
trước điều tra tạm thời nghỉ việc sau đó sẽ tiếp tục làm việc.
4. Thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng có sự tách rời , không phù hợp giữa sức lao động
với tư liệu sản xuất mà sức lao động lại gắn với từng con người cụ thể vì thế
nên người thất nghiệp là người không có phương tiện để sản xuất và đang
muốn tìm việc làm.

và tiền tệ. Có kế hoạch sẽ giúp phủ ngăn chặn được sự mất ổn định của nền
kinh tế, giúp phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. Thông qua kế hoạch trực
tiếp, chính phủ sử dụng có cân nhắc nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước để
§Ò ¸n m«n häc
KÕ ho¹ch 42B
5
thực hiện dự án đầu tư và để huy động, chuyển các nguồn lực khan hiếm vào
các lĩnh vực có thể mong đợi là đóng góp lớn nhất vào việc thực hiện mục
tiêu kinh tế lâu dài. Kế hoạch gián tiếp giúp chính phủ đưa ra các chính sách
để kích thích và hướng dẫn kiểm soát các hoạt động kinh tế một cách hiệu quả
nhất.
2. Vai trò của kế hoạch việc làm trong hệ thống kế hoạch quốc gia
2.1. Kế hoạch việc làm là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
Kế hoạch việc làm là bộ phận rất quan trọng trong kế hoạch tổng thể phát
triển nền kinh tế quốc dân. Để thực hiên các mục tiêu phát triển không những
cần phải đảm bảo các nguồn lực về tài chính mà còn cả các nguồn lực về con
người (lao động). Kế hoạch giải quyết việc làm nhằm xác định nhu cầu về
nguồn lao động trong tương lai. Nhu cầu sử dụng lao động có sự khác biệt rất
lớn về kỹ năng, kiến thức, giới tính, lứa tuổi và phụ thuộc vào mức trả công
lao động. Không giống như nguồn lực về tài chính, nguồn lao động không
phải lúc nào cũng sử dụng được ngay. Một trong những nội dung rất quan
trọng của kế hoạch việc làm là phải bao gồm kế hoạch về đào tạo và kế hoạch
phát triển nguồn nhân lực.
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, kế hoạch giải quyết việc làm có vai
trò khác nhau. Trong thời kỳ những năm 60, kế hoạch giải quyết việc làm chỉ
được xem như là một trong những biện pháp để có số lao động cần thiết hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất trong thời kỳ trước mắt mà không chú trọng đến xu
hướng và các biện pháp phát triển nguồn nhân lực trong tương lai. Đa số các
nỗ lực của nhà hoạch định chính sách chỉ tập trung xây dựng chiến lược lao
động kèm theo. Từ những năm 80 đến nay, kế hoạch giải quyết việc làm được

hàng hoá tồn kho theo sự biến động của giá cả. Kế hoạch khối lượng vốn đầu
tư là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch phát triển, nó xác định quy mô cơ
cấu tổng nhu cầu đầu tư xã hội cần có và cân đối các nguồn bảo đảm nhằm
thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế trong thời kỳ kế hoạch.
§Ò ¸n m«n häc
KÕ ho¹ch 42B
7
Có việc làm là một trong những điều kiện hình thành quá trình lao động, cũng
là một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội. Có việc làm là điều
kiện tiền đề cơ bản khiến người lao động có tư liệu tiêu dùng, từ đó bắt đầu
quá trình tiêu dùng, đây là biện pháp mưu sinh của người lao động. Lưu
chuyển sức lao động là yêu cầu tất yếu của xã hội hoá nền sản xuất lớn, là
điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế hàng hoá. Quá trình đầu tư về khoa học
công nghệ gia tăng góp phần không ngừng nâng cao trình độ sức sản xuất kết
cấu sản phẩm, tất nhiên đòi hỏi phải có sự lưu chuyển tương ứng sức lao
động. Ngoài ra, sự diễn biến của kết cấu tự thân sức lao động cũng là một
nhân tố không thể bỏ qua. Vì vậy đảm bảo việc làm cho người lao động đồng
thời phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất đó là yêu cầu cơ bản của kế
hoạch việc làm và kế hoạch vốn đầu tư trong quá trình thực hiện kế hoạch
tăng trưởng kinh tế.
2.2.3. Kế hoạch việc làm và kế hoạch nguồn lao động
Kế hoạch việc làm chủ động đặt ra yêu cầu cần thiết cho kế hoạch nguồn lao
động. Từ nguồn lực lao động sẵn có xác định khả năng hiện tại về việc làm
cho người lao động để quyết định xây dựng các kế hoạch biện pháp khác
trong tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho phù hợp. Kế hoạch việc
làm chủ động đưa ra các chính sách, giải pháp để phát triển nguồn lao động
đất nước.
Căn cứ vào số lao động có việc làm ở kỳ kế hoạch là cơ sở để đảm bảo đời
sống vật chất, tinh thần, môi trường xã hội, thu nhập bình quân đầu người...
Người lao động có việc làm thì đời sống của họ được nâng cao. Vấn đề quan

trong hai thành phần kinh tế cơ bản: Quốc doanh và Hợp tác xã trong thời kỳ
kế hoạch hoá tập trung, thì nay quan điểm của Đảng và Nhà nước ta có nhận
thức hoàn toàn mới: Cùng với Nhà nước, mỗi công dân, mỗi gia đình, mỗi tổ
chức đều có thể và được phép tạo mở việc làm, được làm việc trong các thành
phần kinh tế bao gồm mọi hình thức tổ chức kinh doanh từ các doanh nghiệp
lớn đến các loại quy mô vừa và nhỏ, kinh tế hộ gia đình, các hoạt động trong
khu vực phi kết cấu.
Nhà nước có định hướng rõ ràng chính sách phát triển nguồn nhân lực. Sự
phát triển nhanh và bền vững phải bao trùm mọi mặt đời sống xã hội trong đó
kinh tế là trung tâm, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện công bằng và
tiến bộ xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là
một trọng điểm trong thập kỷ tới, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá khai
thác phát triển lợi thế về điều kiện sinh thái phù hợp với nhu cầu thị trường
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng quỹ sử
dụng thời gian lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn. Phát
§Ò ¸n m«n häc
KÕ ho¹ch 42B
10
huy trí tuệ con người thông qua phát triển giáo dục đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực, đuổi kịp trình độ tiên tiến của cả nước và khu vực, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự nghiệp đổi mới, hội
nhập quốc tế.
II. Mục tiêu và phương hướng giải quyết việc làm của kế hoạch
5 năm 2001-2005 ở Việt Nam
1/Mục tiêu
a.Mục tiêu cơ bản lâu dài :tạo việc làm mới và đảm bảo việc làm cho người lao
động có khả năng lao động có yêu cầu việc làm. Thực hiện các biện pháp để
trợ giúp người thất nghiệp nhanh chóng có việc làm, người thiếu việc làm có
đủ việc làm, đặc biệt có chính sách trợ giúp cụ thể các đối tượng yếu thế trong
thị trường lao động. Thông qua đó giải quyết hợp lí mối quan hệ giữa tăng

làm mới và thu hút ngày càng nhiều lao động.
2.2. Cải tiến và đổi mới cơ cấu đầu tư
Sử dụng nguồn vốn đầu tư của khu vực Nhà nước theo hướng chủ yếu dành
để xây dựng cấu trúc hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần
kinh tế khác đầu tư phát triển vào các khu vực, các ngành kinh tế có khả năng
tạo thêm được nhiều chỗ làm việc hơn, khả năng sinh lời và quay vòng vốn
nhanh hơn.
Tăng nguồn vốn trung hạn và dài hạn hỗ trợ cho nhân dân, đặc biệt ở nông
thôn trong quá trình tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Chuẩn bị tốt các điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực kết hợp với
đổi mới quan hệ kinh tế đối ngoại cởi mở, thông thoáng. Tập trung và đổi mới
công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động, hình thành và phát triển các ngành
nghề chế biến nhằm tăng quy mô, tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế
biến, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô. Đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu
nhưng cần tập trung vào các sản phẩm có dung lượng lớn như: dệt may, giày
dép, chế biến lương thực thực phẩm, gia công cơ khí điện tử... tìm kiếm và
mở rộng thị trường đồng thời làm tốt các công tác đào tạo nghề để đẩy mạnh
xuất khẩu lao động và chuyên gia.
§Ò ¸n m«n häc
KÕ ho¹ch 42B
12
III. Tình hình giải quyết việc làm giai đoạn 2001-2003
Tổng số lao động có việc làm mới trong 2 năm 2001-2002 là 2,82 triệu
người,đạt 101,4% kế hoạch,trong đó các chương trình phát triển kinh tế xã
hội thu hút 2,064 triệu người(bằng 22,8%) Xuất khẩu lao động đạt 8,2 vạn
người (bằng 3,9%)so với tổng số chỗ làm việc mới .
Hệ thống các trung tâm dịch vụ làm hàng năm đã tư vấn nghề và tư vấn đào
tạo cho 30 vạn lượt người ,đào tạo ngắn hạn và bổ túc nghề cho 10 vạn người
,giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho 8 vạn người .Vốn vay giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status