Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam - Pdf 29


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI ANH TUẤN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Anh Tuấn

Hà nội - 2014 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Bùi Anh Tuấn
1.1.
Khái niệm chế định hoà giải, đặc điểm và ý nghĩa của hòa
giải trong tố tụng dân sự
7
1.1.1.
Khái niệm về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
7
1.1.2.
Đặc điểm của hòa giải trong tố tụng dân sự
11
1.1.3.
Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự
15
1.2.
Cơ sở của việc xây dựng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
17
1.3.
Lược sử các quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam
20
1.3.1.
Giai đoạn từ 1945 đến 1989
20
1.3.2.
Giai đoạn từ 1989 đến 2005
26
1.3.3.
Giai đoạn từ 2005 đến nay
28
1.4.

Các quy định về chủ thể trong hòa giải
42
2.2.1.
Về chủ thể tiến hành hòa giải
42
2.2.2.
Về chủ thể tham gia hòa giải
44
2.3.
Các quy định về phạm vi hòa giải
45
2.3.1.
Những vụ việc dân sự phải tiến hành hòa giải
45
2.3.2.
Những vụ án dân sự không được hòa giải
46
2.3.3.
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được
48
2.4.
Các quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự
49
2.4.1.
Triệu tập đương sự và thủ tục giải quyết trong trường hợp
đương sự vắng mặt
49
2.4.2.
Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải không thành
52


KẾT LUẬN
90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
7
MỞ ĐẦU


chế định hòa giải các vụ việc dân sự nói riêng.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định về hòa giải trong TTDS cho
thấy nhiều quy định của BLTTDS vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót dẫn tới
những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, làm ảnh hưởng không
nhỏ tới hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tiễn tư pháp. Hiện tượng,
các Tòa án lúng túng hoặc thiếu thống nhất trong việc áp dụng các quy định
về hòa giải hoặc các quy định cứng nhắc của pháp luật đã không còn đáp ứng
được đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp là những minh chứng cho thực
trạng này. Do vậy, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm luận giải
cả về lý luận, pháp luật và thực tiễn từ đó đề xuất những giải pháp tháo gỡ
khó khăn là một việc làm hết sức cần thiết.
Với bối cảnh trên, là một cán bộ trực tiếp làm công tác xét xử, tôi
muốn thông quan thực tiễn để xác định những điểm còn chưa hợp lý của các
quy định về hòa giải trong pháp luật TTDS, từ đó có những kiến nghị trong
việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của đời sống kinh
tế, xã hội của nước ta hiện nay và trong thời gian tới. Vì vậy, tôi đã chọn đề
tài "Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải là một cấn đề quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc
dân sự tại Tòa án. Vì vậy, ngoài việc được Nhà nước quan tâm quy định trong
các văn bản về pháp luật TTDS thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này. Có thể thống kê một số luận văn,
luận án tiêu biểu sau đây:
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hòa giải trong tố tụng dân sự - thực tiễn
và hướng hoàn tiện", của Bùi Đăng Huy, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996;

9
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hòa giải trong tố tụng dân sự" của
Trương Kim Oanh, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Trung tâm Khoa

năm 2011. Cho đến nay thì luật pháp và thực tiễn về hòa giải trong TTDS đã
có nhiều thay đổi. Chế định hòa giải vụ việc dân sự được hoàn thành trên cơ
sở kinh tế - xã hội, phản ánh sâu sắc các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội đương thời. Vì vậy, chế định hòa giải luôn vận động và phát triển một
cách khách quan trước yêu cầu của đời sống xã hội. Việc ban hành BLTTDS
là một bước phát triển vượt bậc của hệ thống pháp luật TTDS, trong đó có chế
định hòa giải vụ việc dân sự. Có thể nói, từ khi BLTTDS ra đời đến nay, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu
về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS dưới cả ba góc độ lý luận, thực
trạng chế định và thực tiễn thực hiện chế định.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu làm rõ thêm những
vấn đề lý luận về hòa giải, phân tích làm rõ nội dung của chế định hòa giải vụ
việc dân sự trong BLTTDS, văn bản hướng dẫn cũng như thực hiện áp dụng
những quy định này, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa
giải nhằm nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải trong TTDS.
Để đạt được những mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có những
nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Nghiên cứu bản chất, cơ sở lý luận của việc xây dựng nội dung chế
định hòa giải tại Tòa án; nghiên cứu nội dung các quy định của BLTTDS về
hòa giải vụ việc dân sự.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về hòa giải
vụ việc dân sự tại Tòa án.
- Nhận diện những tồn tại, bất cập của các quy định của BLTTDS về
hòa giải vụ việc dân sự và tìm ra những giải pháp hoàn thiện các quy định của
BLTTDS về hòa giải vụ việc dân sự.

11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về hòa giải,

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự.
Chương 2: Nội dung chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
và một số kiến nghị.

13
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM CHẾ ĐỊNH HOÀ GIẢI, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA
HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
Từ xưa đến nay, trong bất kỳ xã hội nào, để tồn tại và phát triển, con
người đều phải tham gia vào các quan hệ xã hội ở các mức độ khác nhau. Khi
tham gia vào các quan hệ xã hội, mâu thuẫn về quyền, lợi ích là điều khó có
thể tránh khỏi. Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng
đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên
gia tăng không ngừng. Nếu các mâu thuẫn, tranh chấp này không được giải
quyết kịp thời, thỏa đáng sẽ để lại nhiều hệ lụy không tốt cho các bên tham
gia quan hệ pháp luật cũng như cho toàn xã hội.
Trong xã hội dân sự việc các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp
luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động cũng có thể nảy sinh các
tranh chấp, xung đột về quyền lợi ích hoặc ngay cả khi các bên không có
tranh chấp về lợi ích thì mối bất hòa giữa các bên cũng cần được giải quyết để
ổn định trật tự của các quan hệ pháp luật. Để giải quyết các mâu thuẫn, tranh
chấp hoặc bất hòa này thì các chủ thể có thể lựa chọn nhiều phương thức giải

một ít" [40, tr. 410]. Còn theo Từ điển luật học Black Law thì hòa giải là: "sự can
thiệp, sự là trung gian hòa giải, là hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa
hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục, dàn xếp tranh chấp giữa họ" [40, tr. 152].
Như vậy, có thể thấy định nghĩa hòa giải của Rothenberg đã nêu được
bản chất của hòa giải nhưng vẫn chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của
bên thứ ba trong hòa giải. Trong khi đó, Từ điển Luật học Black Law lại bao
quát được các nội dung này.

15
Nếu xét theo nghĩa Hán - Việt thì hòa giải là phương thức giải quyết
tranh chấp bằng con đường hòa bình. Theo nghĩa này thì hòa giải còn bao
hàm cả việc giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các bên thông qua vai trò
hướng dẫn, dàn xếp của bên thứ ba là trọng tài nhằm giúp các bên tranh chấp
giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp. Tuy
nhiên, việc hòa giải thông qua trọng tài không phải là hòa giải trong TTDS.
Các giáo trình về TTDS hiện nay chỉ đề cập tới vấn đề hòa giải trong
các vụ án dân sự mà không đưa ra khái niệm về hòa giải trong TTDS. Tiến sĩ
Hoàng Ngọc Thỉnh đề cập tới vấn đề hòa giải dưới góc độ là một hoạt động
tố tụng. Theo đó, "Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến
hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân
sự" [9, tr. 257].
Dưới góc độ thủ tục tố tụng, nếu xét theo nghĩa rộng thì hòa giải
không những chỉ là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án cấp sơ thẩm tiến
hành trước khi có quyết định giải quyết vụ việc mà còn bao hàm cả việc các
bên đương sự tự hòa giải với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ việc
dân sự và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu xét theo nghĩa hẹp
thì hòa giải trong TTDS là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành
trước khi quyết định đưa vụ việc ra giải quyết bằng một phiên tòa xét xử hoặc
một phiên họp theo quy định của pháp luật. Theo đó, hòa giải là một thủ tục
do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa

chỉnh bao gồm chủ thể hòa giải, nguyên tắc hòa giải, phạm vi hòa giải, thủ tục
tiến hành hòa giải và hệ quả pháp lý của việc hòa giải.
Chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam có nguồn gốc từ
truyền thống dân tộc. Từ xưa, người Việt Nam đã nhận thức được rằng chỉ có
đoàn kết mới có thể đấu tranh chiến thắng thiên tai để tồn tại và phát triển.
Trong cuộc sống hằng ngày, mâu thuẫn, tranh chấp là điều không thể tránh
khỏi, với lối sống cộng đồng, hòa giải đã trở thành giải pháp quan trọng để

17
giải quyết mọi tranh chấp quyền lợi ích hoặc bất hòa. Người Việt Nam vốn có
truyền thống yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, có tinh thần đoàn kết, hòa thuận
từ ngàn xưa. Do vậy, ngay từ khi pháp luật chưa ghi nhận thì vấn đề hòa giải
đã tồn tại. Khi có tranh chấp xảy ra thì hàng xóm, láng giềng, những người
cao tuổi, có uy tín sẽ dàn xếp, phân tích trên cơ sở tình làng nghĩa xóm, giúp
các bên tranh chấp thông cảm, thỏa thuận với nhau để giải quyết mâu thuẫn
một cách êm đẹp.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước
ta đã luôn coi trọng vấn đề hòa giải trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh
từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Dưới góc nhìn
luật học thì việc coi hòa giải là một chế định quan trọng trong pháp luật TTDS
xuất phát từ đặc thù của quan hệ pháp luật nội dung là các quan hệ được thiết
lập trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận giữa các chủ thể. Bản thân
các đương sự là những người có quyền, lợi ích tranh chấp cho nên có thể tự
định đoạt về việc giải quyết quyền, lợi ích của mình. Nếu nhìn rộng ra thì
không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, chế định hòa giải đã được quy định
trong pháp luật TTDS ở nhiều nước và hòa giải trở thành một thủ tục bắt buộc
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Từ các phân tích trên, có thể rút ra khái niệm chế định hòa giải như
sau: Chế định hòa giải trong TTDS là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh quan hệ pháp luật TTDS giữa Tòa án với các đương sự, người đại diện

pháp luật, giúp đương sự hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình để có những
quyết định phù hợp không trái pháp luật.
Đặc điểm này đòi hỏi Tòa án không được dùng bất kỳ hình thức nào
để cưỡng ép, bắt buộc đương sự phải hòa giải với nhau. Nếu các Thẩm phán
không nắm vững nghiệp vụ, không có đạo đức nghề nghiệp sẽ dễ dẫn tới việc
không đảm bảo tính tự nguyện của đương sự khi hòa giải, vi phạm quyền tự
định đoạt của đương sự.

19
- Hòa giải trong TTDS được tiến hành sau khi Tòa án thụ lý vụ án
theo sáng kiến của Tòa án, do Tòa án trực tiếp tiến hành hoặc theo sáng kiến
của chính các đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự
Theo pháp luật TTDS Việt Nam, hòa giải được coi là một nguyên tắc,
là một thủ tục bắt buộc mà Tòa án phải tiến hành trước khi đưa vụ việc được
đưa ra phiên tòa, phiên họp sơ thẩm (trừ trường hợp pháp luật quy định không
được hòa giải và những trường hợp không tiến hành hòa giải được). Tòa án
giữ một vị trí đặc biệt, với vai trò là trung gian có nhiệm vụ tổ chức cho các
bên đương sự gặp nhau để thương lượng, thỏa thuận về quyền lợi của họ. Khi
hòa giải, Tòa án giải thích cho đương sự về các quy định của pháp luật liên
quan tới các vấn đề tranh chấp, các chính sách của nhà nước, động viên, giúp
đỡ họ tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình. Tòa
án có trách nhiệm ghi nhận quan điểm của các đương sự bằng một văn bản
pháp lý. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hòa giải trong TTDS bao
hàm cả việc hòa giải theo sang kiến của Tòa án và sáng kiến của các bên
đương sự, do các bên đương sự tự tiến hành thương lượng, đàm phán mà
không có sự can thiệp của Tòa án.
Dấu hiệu về vai trò của Tòa án là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hòa
giải trong TTDS do Tòa án tiến hành với trường hợp các đương sự tự hòa
giải. Tuy nhiên, xét về thực tế thì kết quả thỏa thuận mà các bên đạt được
nhiều khi là hệ quả gián tiếp từ việc giải thích pháp luật hoặc hoạt động hòa

hành sẽ tạo sự linh hoạt, chủ động cho các Thẩm phán và phát huy được tác
dụng của hoạt động hòa giải trong thực tiễn, đồng thời nó đảm bảo cho giai
đoạn thi hành án được tiến hành thuận lợi hơn.
- Việc hòa giải phải vừa tích cực, vừa kiên trì
Đặc điểm này được thể hiện đối với các vụ việc mà Tòa án chủ động
tiến hành hòa giải. Để việc hòa giải có thể đạt được hiệu quả, bên cạnh sự
thiện chí và tích cực của các đương sự, thì người Thẩm phán tiến hành hòa
giải cũng cần có sự tích cực, kiên trì thực hiện trách nhiệm của mình. Tích

21
cực để đảm bảo việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng, có hiệu quả,
nhưng nội dung không được trái với pháp luật. Tòa án không được tiến hành
hòa giải một cách qua loa đại khái, không đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng
của đương sự hoặc giải thích pháp luật không rõ ràng làm cho đương sự
không hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình, dẫn tới hòa giải không thành,
mâu thuẫn của các bên không được giải quyết.
1.1.3. Ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự
- Ý nghĩa về mặt tố tụng
Việc hòa giải thành có một ý nghĩa rất lớn về mặt tố tụng. Việc hòa
giải thành giúp Tòa án giải quyết vụ việc mà không phải mở phiên tòa, phiên
họp tránh được việc kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, góp phần giảm bớt
việc kéo dài những giai đoạn tố tụng không cần thiết như phúc thẩm, tái thẩm
hay giám đốc thẩm. Đồng thời việc hòa giải thành cũng giải quyết dứt điểm
vụ việc. Đối với trường hợp hòa giải thành, mỗi bên đương sự đều thỏa thuận
trên cơ sở ý chí tự nguyện và phù hợp với lợi ích của mình, nên họ sẽ tự
nguyện trong việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, việc
hòa giải thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án, tránh được
những phức tạp nảy sinh trong quá trình thi hành án dân sự.
Trong trường hợp hòa giải không thành thì công tác hòa giải cũng
giúp cho Thẩm phán nắm vững hơn về vụ việc, hiểu rõ hơn tâm tư tình cảm

người Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tìm hiểu cuộc sống, nhân
thân của các đương sự, phải có đạo đức nghề nghiệp, và phải có phương pháp.
Vì vậy, hòa giải thành còn là tiêu chí để đánh giá năng lực của cán bộ Tòa án.
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phải giải thích cho các đương sự
về các chính sách của nhà nước, những quy định của pháp luật, động viên
khuyến khích họ… Bởi vậy, công tác hòa giải đã giúp đương sự hiểu biết hơn
về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của mình. Hiểu biết pháp luật sẽ giúp cho

23
họ có khả năng bảo vệ quyền lợi của chính mình, có cách cư xử phù hợp với
các quy định của pháp luật, tránh những hành vi vi phạm pháp luật.
Hòa giải thành sẽ giúp các đương sự hiểu biết, thông cảm cho nhau,
khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh
thần cởi mở, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội. Trong một số việc
dân sự việc hòa giải thành sẽ giúp đương sự tiếp tục duy trì được quan hệ giữa
các bên. Như vậy, hòa giải đã củng cố tình đoàn kết trong nhân dân, giảm bớt
những mâu thuẫn, góp phần vào việc giữ gìn an ninh trật tự, công bằng xã hội,
đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển lành mạnh.
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ
- Chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở đường lối của Đảng về
cải cách tư pháp
Với những ý nghĩa về mặt tố tụng, ý nghĩa về mặt kinh tế và ý nghĩa
về mặt xã hội nêu trên, việc xây dựng chế định hòa giải trong TTDS là hết sức
cần thiết. Nội dung chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở quán triệt, bám
sát tư tưởng chỉ đạo của Đảng được ghi nhận tại Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
"khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa
giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó" [8].
Bên cạnh đó, nội dung chế định hòa giải phải bao quát được những điểm cơ

nước về việc bồi thường hoặc áp dụng một chế tài nào khác; càng không có
chuyện hòa giải giữa nhà nước với công dân vi phạm pháp luật.
- Chế định hòa giải được xây dựng trên cơ sở quyền quyết định và tự
định đoạt của các đương sự trong TTDS
Quyền quyết định và tự định đoạt của các bên trong TTDS được ghi
nhận là một nguyên tắc cơ bản của TTDS, có nguồn gốc từ nguyên tắc tự do,
tự nguyện, cam kết thỏa thuận trong các quan hệ pháp luật nội dung. Quyền
định đoạt này bảo đảm sự tự nguyện đích thực, thể hiện sự dung hòa ý chí và

25
nguyện vọng của các đương sự. Do vậy, các quy định về hòa giải phải ghi
nhận theo hướng Tòa án không thể tự mình quyết định giải quyết vụ việc hoặc
áp đặt ý chí đối với các đương sự khi tiến hành hòa giải.
- Chế định hòa giải trong TTDS được xây dựng phải bảo đảm bảo vệ
có hiệu quả và hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong TTDS
Tòa án có nhiệm vụ xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự nhằm bảo
vệ có hiệu quả quyền lợi của các bên, thiết lập lại trật tự của các quan hệ pháp
luật nội dung. Để có thể nhanh chóng bảo vệ một cách có hiệu quả quyền lợi
của các bên, thiết lập lại trật tự của các quan hệ pháp luật nội dung thì Tòa án
có nhiệm vụ giúp đỡ các bên thương lượng, tìm kiếm một giải pháp ít tốn kém
và hiệu quả nhất trong việc thực thi các quyền dân sự theo nghĩa rộng. Tòa án
phải tạo mọi điều kiện cần thiết, hướng dẫn, giúp đỡ để các bên có thể thương
lượng với nhau trên cơ sở bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể trong TTDS,
không chỉ là quyền lợi của nguyên đơn, bị đơn, mà còn là quyền lợi của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đương sự trong việc dân sự.
Theo góc nhìn trên thì khi xây dựng các quy định về hòa giải cần phải
tính đến sự tham gia hay có mặt của đương sự, nghĩa vụ triệu tập các đương sự
của Tòa án trước khi tiến hành hòa giải và Tòa chỉ công nhận kết quả hòa giải
khi việc thỏa thuận là tự nguyện, không xâm hại quyền lợi của chủ thể khác.
- Chế định hòa giải trong TTDS được xây dựng trên cơ sở bảo đảm


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status