ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ BÍCH HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền
- 3 -
MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI
VỤ VIỆC DÂN SỰ
5
1.1 Khái niệm đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải vụ việc dân sự 5
1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ việc dân sự 5
1.1.2 Đặc điểm hòa giải vụ việc dân sự 8
1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ việc dân sự 20
Chương 3:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA
GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ
63
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hòa giải vụ việc dân sự 63
3.1.1. Những vướng mắc, bất cập của pháp luật về hòa giải vụ việc
dân sự
65
3.1.2. Hạn chế, vướng mắc về việc thực hiện pháp luật về hòa giải
vụ án dân sự
74
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luật về hòa
giải vụ việc dân sự
83
3.2.1 Kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật về hòa giải vụ việc
dân sự
83
3.2.2 Kiến nghị về việc thực hiện pháp luật 88
KẾT LUẬN
91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
PHỤ LỤC
98
- 6 -
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân
dân các cấp (từ năm 2007 đến năm 2012)
63 - 7 -
MỞ ĐẦU
1.Tình thế cấp thiết của đề tài
Trong xu thế chung của hội nhập toàn cầu, Việt Nam có chủ trương xây
dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện công cuộc cải cách, đổi mới một cách
toàn diện và sâu sắc theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường. Sự thay
đổi đó tạo nên một “bộ mặt” mới cho nền kinh tế. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì các tranh chấp, yêu cầu dân sự,
thương mại, lao động cũng ngày càng gia tăng nhưng hầu hết mọi người đều
tỏ ra e ngại khi phải đưa vụ kiện ra Tòa án. Đa số họ thích hòa giải hơn là
tranh tụng, đặc biệt là đối với các tranh chấp dân sự. Điều này được lý giải là
do Việt Nam cùng với một số nước Châu Á khác chịu ảnh hưởng của triết lý
theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình. Với ý nghĩa là một bộ phận của khoa học luật tố tụng dân sự, hòa
giải vụ việc dân sự đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn
quan tâm. Nhiều công trình về hòa giải đã được nghiên cứu.
Trước khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành có các công trình sau
đây nghiên cứu về vấn đề này:
- Khóa luận tốt nghiệp năm 1995 của Nguyễn Thị Thu Hà về Hòa giải
vụ án dân sự.
- Luận án Thạc sĩ Luật học: “Hòa giải trong tố tụng dân sự, thực tiễn
và hướng hoàn thiện” của Bùi Đăng Huy, 1996.
- Khóa luận tốt nghiệp: “Hòa giải vụ án dân sự” của Đỗ Quốc Chung,
Hà Nội, 1997.
- Luận án tiến sĩ Luật học: “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn” của Trần Văn Quảng, Hà Nội,
2004.
- 9 -
Và sau khi Bộ luật tố tụng dân sự ban hành thì có các công trình sau
đây:
- Khóa luận tốt nghiệp: “Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam” của Nguyễn Kiều Oanh, Hà Nội, 2010.
- Khóa luận tốt nghiệp: “Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” của La Phương Na, Hà Nội, 2011.
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về hòa
giải đối với vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành cũng đã có một số công trình nghiên
cứu về hòa giải vụ án sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện về hòa giải vụ việc dân sự.
2. Mục đích nghiên cứu
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hòa giải vụ việc dân sự theo pháp
luật Tố tụng dân sự Việt Nam.
Chương 2: Hòa giải vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về hòa giải vụ việc dân sự theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam.
- 11 -
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa hòa giải vụ việc dân sự
1.1.1. Khái niệm hòa giải vụ việc dân sự
Luật tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp
luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các
quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự
(TTDS) để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự
nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
tổ chức và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Pháp luật TTDS quy định quyền, nghĩa vụ của Tòa án và các chủ thể
tham gia tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Pháp luật TTDS xác định vai
trò, trách nhiệm chủ động, tích cực của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ
án, đồng thời bảo đảm cho các đương sự trong vụ án có đầy đủ quyền tố tụng
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, trong đó tôn
trọng quyền tự định đoạt của đương sự được xác định là một trong những
quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp. Tuy
nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù
mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có
cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương
và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có
thể phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn.
Cũng có ý kiến cho rằng: “hòa giải là một chế định quan trọng của luật
tố tụng dân sự, là phương pháp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận,
thương lượng của các đương sự” [10]. Quan điểm này đã nêu được vai trò, ý
nghĩa của chế định hòa giải trong TTDS, nhưng chưa phản ánh được bản chất
- 13 -
của hòa giải các vụ án dân sự. Việc giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận
của các đương sự có thể được chia thành hai trường hợp: trường hợp do các
đương sự tự hòa giải và trường hợp do các đương sự hòa giải với sự giúp đỡ
của Tòa án. Hai trường hợp giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương
lượng của các đương sự nêu trên có bản chất khác nhau; bởi lẽ, hai trường
hợp này dẫn đến hai kết quả giải quyết khác nhau về vụ án dân sự. Nếu các
đương sự tự hòa giải thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, còn trường hợp
do Tòa án tiến hành hòa giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về
giải quyết vụ án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó.
Hòa giải vụ việc dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành giúp đỡ các
đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên,
chủ thể của hòa giải lại chính là các đương sự, các đương sự mới là chủ thể có
quyền quyết định và thỏa thuận về giải quyết vụ việc dân sự. Mặc dù không
phải là chủ thể của hòa giải, song Tòa án có vai trò quan trọng trong việc xác
định thời gian, thành phần, địa điểm, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và
nội dung tranh chấp để các đương sự đi đến thống nhất về phương án giải
quyết vụ việc. Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án được khách quan, bảo
dân sự trước khi xét xử sơ thẩm.
1.1.2. Đặc điểm hòa giải vụ việc dân sự
Hòa giải và tự thỏa thuận (tự hòa giải) của các đương sự đều được thực
hiện trên cơ sở thỏa thuận của các bên đương sự. Và khi sự thỏa thuận là tự
nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ ghi nhận
sự thỏa thuận đó. Hòa giải vụ việc dân sự có những đặc điểm đặc trưng sau:
- Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự
Mặc dù hòa giải là một thủ tục do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất
hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự mới có
quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ
- 15 -
việc, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh
chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ. Khi tham gia
vào quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với
nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự
nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của
các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận. Không ai,
bằng bất kỳ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với
nhau giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Khi người đại diện của
đương sự tham gia tố tụng thì họ có quyền thỏa thuận với đương sự phía bên
kia về giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi đại diện. Trong trường hợp
người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia tố tụng thì người đại
diện của đương sự có toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của đương sự nên người
đại diện theo pháp luật của đương sự có quyền tham gia hòa giải. Song đối
với vụ án ly hôn thì người đại diện theo pháp luật không có quyền hòa giải,
bởi quan hệ nhân thân phải do các đương sự tự quyết định. Trong trường hợp
người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng thì người đại
diện của đương sự có các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy
Trọng tài, Tòa án Song, cho dù giải quyết bằng phương thức nào các đương
sự đều có quyền thỏa thuận với nhau để giải quyết quan hệ pháp luật tranh
chấp, bởi họ chính là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung. Mặt khác,
việc hòa giải mang lại nhiều ý nghĩa cả về kinh tế, xã hội và pháp lý. Vì thế,
pháp luật của các nước đều quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải để giúp
đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường
hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải. Theo Điều 23 BLTTDS
năm 2003 của Liên bang Nga quy định về vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền
xét xử của Thẩm phán hòa giải như sau:
1. Thẩm phán hòa giải xét xử ở cấp sơ thẩm những vụ việc sau đây:
- 17 -
1) Vụ việc về ban hành lệnh của Tòa án;
2) Vụ việc ly hôn, nếu các bên vợ chồng không tranh chấp về con cái;
3) Vụ việc về chia tài sản chung của hai vợ chồng không phụ thuộc vào
giá vụ kiện;
4) Những tranh chấp khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân, trừ những
tranh chấp liên quan đến việc xác định cha, mẹ, tước quyền làm cha,
làm mẹ, về nuôi con nuôi;
5) Tranh chấp về tài sản trị giá không vượt quá 500 lần lương tối thiểu
do luật liên bang quy định được tính vào ngày đệ đơn khởi kiện;
6) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động, trừ những tranh chấp về
khôi phục việc làm và tranh chấp lao động tập thể;
7) Tranh chấp về xác định thứ tự sử dụng tài sản.
2. Luật liên bang có thể quy định Thẩm phán hòa giải xét xử cả những
việc khác.
3. Trong trường hợp nhập một số yêu cầu có liên quan với nhau, hoặc
trong trường hợp thay đổi đối tượng tranh chấp hoặc khởi kiện ngược
lại, nếu như có yêu cầu mới thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quận
luật dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động. Do mục đích của hòa giải là
giúp đỡ các bên đương sự giải quyết tranh chấp nên đối với những việc dân sự
mà đương sự yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý như yêu cầu thông
báo một người vắng mặt tại nơi cư trú; tuyên bố một người là mất tích hoặc
đã chết; yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết;
yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
và yêu cầu Tòa án hủy bỏ các tuyên bố đó; yêu cầu Toà án tuyên bố chấm dứt
một quan hệ pháp lý đang tồn tại như yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật; yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì Tòa án không tiến hành hòa
- 19 -
giải. Bởi các sự kiện pháp lý là khách quan nên Tòa án không thể hòa giải để
giúp các đương sự thỏa thuận về một sự kiện pháp lý.
Đối với một số việc dân sự mặc dù các đương sự có mâu thuẫn về quan
hệ pháp luật nội dung nhưng các bên đã thống nhất được phương thức giải
quyết mâu thuẫn và yêu cầu Tòa án công nhận giá trị pháp lý của sự thỏa
thuận đó thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải. Chẳng hạn, đối với yêu cầu công
nhận thuận tình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn thì Tòa án vẫn tiến hành hòa
giải nhằm mục đích giúp các đương sự đoàn tụ với nhau.
Đối với yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận của đương sự như yêu cầu
công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu xác
định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành
án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì Tòa án cũng không
cần thiết phải tiến hành hòa giải bởi bản chất của các loại việc này các đương
sự đã thỏa thuận được với nhau về nội dung tranh chấp và họ chỉ yêu cầu Tòa
án công nhận sự thỏa thuận đó. Tòa án sẽ công nhận yêu cầu của các đương
sự, nếu thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Như vậy, hòa giải được áp dụng đối với các vụ việc dân sự mà bản chất
giữa các đương sự có mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp
tụng dân sự diễn ra tại Hà Nội vào ngày 7,8/9/1998, Ông Jean-Marie- Chánh
án Tòa án Sơ thẩm thẩm quyền rộng Pari nói: “Về vấn đề hòa giải, BLTTDS
mới của Pháp là sự hòa trộn giữa tính hiện thực và tính lý tưởng. Hòa giải
không phải là một giai đoạn của quá trình tố tụng nhưng đối với Thẩm phán
thì bất cứ lúc nào, đây cũng là nhiệm vụ tất yếu gắn liền với chức năng của
họ. Điều này được quy định tại các Điều 21, 58, 127 đến 131 BLTTDS Pháp"
[38].
- 21 -
Ở Nhật Bản, hòa giải qua tòa án là bước củng cố thỏa thuận giải quyết
tranh chấp thông qua sự nhượng bộ của các bên. Hòa giải qua Tòa án có thể
được thực hiện trong thời gian chờ tòa án xét xử (Điều 275). Tòa án có thể
gợi ý các bên hòa giải qua tòa án vào bất cứ lúc nào trước khi Tòa án xét xử
(Điều 89). Hòa giải qua tòa án có hiệu lực tương tự như việc tự định đoạt
quyền hoặc quan hệ pháp luật đối với đối tượng của vụ kiện.
Ở Việt Nam, Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định:
“Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các
đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này” [30]. Và khoản 2 Điều 179 BLTTDS cũng quy định: Trong
thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:
a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, hòa giải được tiến hành như một thủ
tục, có tính bắt buộc đối với hầu hết các vụ việc dân sự trước khi mở phiên
tòa sơ thẩm. Khi hòa giải thành, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự. Ở các giai đoạn khác của quá trình tố tụng, Tòa án có
trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết
hòa giải, Tòa án chủ động giải thích pháp luật liên quan đến những quan hệ
tranh chấp, pháp luật của Nhà nước, động viên, khuyên giải, giúp đỡ họ tháo
gỡ những vấn đề vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình để họ thỏa thuận
với nhau giải quyết các vấn đề của vụ việc. Đây chính là những yếu tố quyết
định đến sự thành công hay không của việc hòa giải. Và do vậy, việc hòa giải
giữa các đương sự, mặc dù dựa trên sự tự nguyện và ý chí của đương sự
nhưng lại được bảo đảm phù hợp với pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội.
- 23 -
Như vậy, Tòa án là một chủ thể không thể thiếu giữ vai trò trung gian giúp đỡ
các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự. Đặc điểm này
là dấu hiệu để phân biệt hòa giải với trường hợp các đương sự tự thỏa thuận
(tự hòa giải), đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải là trách nhiệm bắt
buộc của Tòa án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ trường hợp không được
hòa giải và không hòa giải được; Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp tham
gia với vai trò giải thích, động viên các đương sự tự thỏa thuận. Bên cạnh đó,
ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các đương sự cũng có quyền tự hòa giải.
Sau khi thụ lý vụ việc thuộc thẩm quyền của mình, nếu các đương sự đã tự
thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ việc thì Tòa án ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, bởi trong trường hợp này đối
tượng mà Tòa án đang xem xét giải quyết không còn nữa do các đương sự đã
tự giải quyết được với nhau. Trong trường hợp, nếu sau khi Tòa án thụ lý vụ
việc và trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các đương sự tự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ việc dân sự và yêu cầu Tòa án
công nhận sự thỏa thuận đó thì Tòa án phải lập biên bản về sự thỏa thuận đó
và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Như vậy, ở giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau
và thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì sẽ
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Mặc dù, đối với trường hợp hòa giải và tự hòa giải có kết quả giống
nhau là “tranh chấp dân sự đã được giải quyết bằng thương lượng” nhưng kết
quả tự hòa giải của đương sự là do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt
của mình và Tòa án không hề tác động gì. Còn đối với trường hợp hòa giải do
Tòa án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hòa giải nhưng kết
quả hòa giải có vai trò rất lớn của Tòa án. Khi tiến hành hòa giải giữa các
- 25 -
đương sự, Tòa án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Tòa án như một người “trọng
tài” giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau trong việc chủ động xác định
thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hòa giải, số lần hòa giải, giải thích
pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…để từ đó các
đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thỏa
thuận.
- Hòa giải các vụ án dân sự được tiến hành theo thủ tục do pháp luật tố
tụng dân sự quy định
Hòa giải vụ án dân sự, cũng như các thủ tục tố tụng khác do Tòa án tiến hành
trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc quy định thủ tục hòa giải các vụ việc
dân sự nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng, bảo đảm sự bình đẳng của
các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các quy định của pháp luật
TTDS về thủ tục hòa giải là cơ sở để tiến hành hòa giải các vụ án dân sự và
bắt buộc Tòa án và những người khác tham gia hòa giải các vụ án dân sự phải
tuân thủ các quy định về thủ tục triệu tập các đương sự tham gia hòa giải,
thông báo hòa giải, trình tự tiến hành hòa giải và thủ tục ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Với ý nghĩa là một nguyên tắc, thủ tục
TTDS, thủ tục hòa giải vụ việc dân sự đều được pháp luật TTDS của các nước
điều chỉnh, mặc dù thủ tục hòa giải của mỗi nước khác nhau là khác nhau phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của nhà nước đó. Chẳng hạn, thủ tục hòa