VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRẦN THANH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN
MA TÚY THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRẦN THANH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN
MA TÚY THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. MAI ĐẮC BIÊN
HÀ NỘI, năm 2019
công tố trong các vụ án ma túy của trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ................................................................................................................26
2.2. Những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém thực hành quyền công tố các
vụ án ma túy tại huyện Xuyên Mộc và nguyên nhân .............................................28
2.3. Những hạn chế, yếu kém trong công tác thực hành quyền công tố các vụ án
ma túy tại huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và nguyên nhân ..............44
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HÀNH ĐÚNG
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN MA TÚY TẠI HUYỆN XUYÊN MỘC,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU .....................................................................................54
3.1. Quan điểm bảo đảm thực hành đúng quyền công tố trong các vụ án ma túy tại
huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu .........................................................54
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hành đúng quyền công tố trong các vụ án ma túy
tại huyện Xuyên Mộc, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ...................................................56
KẾT LUẬN ..............................................................................................................63
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CQCSĐT
Cơ quan Cảnh sát điều tra
Thực hành quyền công tố
TTHS
Tố tụng hình sự
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. So sánh tình hình tội phạm về tội mua bán trái phép chất ma túy với tình
hình tội phạm nói chung trên địa bàn huyện Xuyên Mộc giai đoạn từ năm 2014–
2018.................................................................................................................. 31
Bảng 2.2. So sánh tình hình áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ trong vụ án ma túy với
chọn đề tài nghiên cứu THQCT liên quan đến loại tội phạm này. Nghiên cứu làm
rõ thêm những quy định của pháp luật và việc áp dụng những quy định đó trong
thực tế từ đó đề xuất các giải pháp để công tác THQCT đối với các vụ án ma túy
1
tại Huyện Xuyên Mộc được hoàn thiện. Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài
“Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy theo pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” làm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
THQCT đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau tiêu biểu các
công trình:
- Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng
tư pháp trong giai đoạn điều tra, NXB Tư pháp, Hà Nội [25];
- Phan Hoàng Tân (2011), Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt
độngthực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở
tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
[24];
- Hoàng Công Hạnh (2011), Thực trạng chất lượng thực hành quyềncông
tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội [14];
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong
tốtụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
[13];
- Nguyễn Hồng Chương (2012), Những vấn đề lý luận về thực hànhquyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện KSND, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà
Nhằm đưa ra quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hành đúng quyền công
tố trong các vụ án ma túy tại huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong các vụ án ma
3
túy của VKSND như khái niệm, đặc điểm, vai trò, trình tự thủ tục và các yếu tố
bảo đảm thực hành quyền công tố các vụ án ma túy của VKSND.
- Làm rõ thực trạng THQCT, đưa ra các giải pháp đảm bảo THQCT trong
các vụ án ma túy của Huyện Xuyên Mộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý
luận và thực tiễn thực hành quyền công tố các vụ án ma túy của VKSND huyện
Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích những vấn đề lý
luận và thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong cácvụ án ma túy của
VKSND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong khoảng thời gian từ
năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa
học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, các chủ trương, Nghị quyết, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu tổng
hợp, so sánh, phân tích để nghiên cứu đề tài
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Một trong những chức năng cơ bản của VKS là quyền công tố được quy
định cụ thể tại Điều 137 trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2002)
và Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ
chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật TTHS khác cũng có
những quy định tương tự về chức năng thực hành quyền công tố của VKS.
Nếu giải quyết tốt việc xác định khái niệm quyền công tố giúp cho việc
xác định nhiệm vu, quyền hạn của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Có nhiều cách hiểu về quyền công tố dẫn đến giới hạn, phạm vi quyền
công tố cũng được hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn
tại trong lĩnh vực TTHS, một số lại cho rằng nó có mặt trong tất cả các lĩnh vực
tư pháp. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên các quan điểm này đều có
cở sở của nó vì các nhìn nhận này đều dựa trên quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật. Có nhiều quan điểm còn hạn chế nhất định nhưng nhìn ở
khía cạnh khoa học hay thực tiễn đều có ảnh hưởng nhất định đến vai trò của
VKS trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của VKS, có
thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành 4 nhóm chính như sau:
6
- Quan điểm 1: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ
là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS
và đưa ra khái niệm công tố: “Quyền nhân danh nhà nước thực hiện các chức
năng do luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội
phạm, để truy tố và để buộc tội người phạm tội tước tòa án nhằm đạt được mục
đích xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, góp phần đảm bảo các
quyền tự do của con người, cũng như các lợi ích của xã hội và của nhà nước”
[11, tr.1-12]. Quan hệ giữa THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan
hệ giữa cái riêng và cái chung. Quan niệm này phổ biến ở nước ta trước năm
quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Các quan điểm còn hạn chế:
- Hoặc là thể hiện sự phụ thuộc của chức năng quyền công tố vào kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của VKS; coi quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS.
- Xem quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là một. Hay coi
quyền công tố chỉ có phạm vi trong giai đoạn tố tụng ở cấp sơ thẩm.
Hạn chế chung nhất trong các công trình nghiên cứu về quyền công tố là
hầu như các tác giả chưa thống nhất trong việc xác định hoạt động nào của VKS
là để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, hoạt động nào là để thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, đa số các tác giả
cho rằng hai chức năng trên của viện kiểm sát vừa có tính độc lập tương đối vừa
liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có một số nội
dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất trong
chức năng của viện kiểm sát.
Trên thực tế quyền công tố có đặc điểm sau đây: VKS được nhà nước ủy
quyền, quyền công tố của mình, thay mặt nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội.
Từ những nhận thức trên, có thể rút ra khái niệm: Quyền công tố là quyền
thuộc về Nhà nước, do VKSND thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc
8
tội đối với người phạm tội bằng các hoạt động cụ thể như thu thập chứng cứ
buộc tội, truy tố bị can ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà.
1.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố
Khi cơ quan tiến hành tố tụng dùng các quyền năng pháp lý của mình
được Bộ luật TTHS giao cho để thực hiện quyền công tố thì cũng xuất hiện khái
niệm THQCT. Đây là khái niệm có liên hệ mật thiết với khái niệm quyền công
tố bởi lẽ khi có hành vi phạm tội xảy ra, mối quan hệ giữa Nhà nước với người
- VKS trực tiếp áp dụng thay đổi các biện pháp ngăn chặn hay phê chuẩn,
không phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn theo yêu cầu của CQĐT;
- Truy tố bi can ra tước TA và bảo vệ quyết định truy tố thông qua hoạt
động công tố tại TA. Đồng thời kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo
thủ tục phúc thẩm khi thấy có sự vi phạm về nội dung.Quyết định chấm dứt việc
THQCT bằng việc ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.
Có thể kết luận: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là việc
Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định
để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội,
pháp nhân thương mại phạm tội nhằm đảm bảo mọi tội phạm phải được phát
hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
1.1.1.3. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy
Khái niệm chất ma túy:
Theo nội dung của 3 Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống và
kiểm soát chất ma túy (năm 1961, 1971 và 1988) mà Việt Nam là thành viên vào
năm 1997 thể hiện không chỉ các chất ma túy, chất hướng thần và tiền chất thiết
yếu tham gia vào danh sách có tên trong danh mục mà còn là các cây tự nhiên có
chứa chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, các chế phẩm có chứa
chất ma túy, được quy định kiểm soát rất chặc chẽ và phù hợp với từng loại
tương ứng. Ngoài danh mục liệt kê các chất ma túy bị kiểm soát, thì 3 Công ước
này không đưa ra khái niệm thống nhất về chất ma túy.
10
Tại Việt Nam, theo Điều 2 Luật số 13/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013 về
phòng, chống ma túy thì khái niệm ma túy gồm chất gây nghiện và hướng thần
được hiểu như sau:
“...
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
tội phạm ma túy tuy nhiên trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017 (BLHS năm 2015), có thể đưa ra khái niệm tội phạm về ma túy
như sau: Tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định tại BLHS năm 2015 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017, do người đủ trách
nhiệm hình sự cố ý, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về
các chất ma túy gây hậu quả nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế,
trật tự xã hội, đạo đức sức khỏe của con người.
Dấu hiệu để nhận biết tội phạm ma túy, đầu tiên phải xác định được đó có
phải là hành vi liên quan đến ma túy bất hợp pháp hay không, đồng thời xem xét
hành vi này có phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm
(theo quy điịnh tại Điều 3 Luật số 13/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013 về phòng,
chống ma túy) hay không. Các hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ,
tổ chức sử dụng trái phep chất ma túy… Các hành vi này đều xâm phạm đến chế
độ độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện,
thuốc hướng thần được quy đinh trong Chương XX “Các tội phạm về ma túy” từ
Điều 247 đến Điều 259 BLHS năm 2015, đều là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội. Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện các hành vi nguy hiểm
nêu trên một cách cố ý được coi là tội phạm về ma túy.
Tội phạm ma túy là cở sở cấu thành nên vụ án ma túy, là đối tượng chủ
yếu để các Cơ quan tố tụng có thẩm quyền tiến hành điều tra làm rõ hành vi
phạm tội để xử lý các vụ án về ma túy.
Cấu thành tội phạm của các tội phạm về ma túy:
- Khách thể: Xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về chất ma túy;
- Khách quan: Hành vi được quy định trong 13 điều từ Điều 247 đến Điều
259;
12
- Chủ thể: Bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ
tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015;
ma túy. Giám định chất ma túy là một hoạt động tố tụng bắt buộc trong việc
khám phá, điều tra, truy tố và xét xử vụ án ma túy. Do vậy, thực hành quyền
công tố của VKS phải gắn chặt với việc giám định chất ma túy. Một đặc điểm
riêng biệt nữa đối với thực hành quyền công tố là việc xem xét phê chuẩn, không
phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ và tạm giam. Trong nhóm tội phạm về ma
túy thì đại đa số là tội nghiêm trọng trở lên, hơn nữa, người bị buộc tội trong
nhóm tội này thông thường là những người có nhân thân xấu, nơi cư trú không
ổn định, thường có ý thức chống đối cơ quan tiến hành tố tụng, chối tội…Do
vậy, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nêu trên đối với người bị buộc tội
trong vụ án ma túy phải được đặt ra khi giải quyết vụ án ma túy, kể cả trường
hợp tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ những phân tích, đánh giá
trên, có thể khái quát: Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy của Viện
kiểm sát nhân dân cấp Huyện là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền
năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu TNHS, buộc tội
đối với người phạm tội về ma túy nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người
phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm
minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt
tội phạm.”
1.1.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy của Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện
- VKS chủ thể duy nhất của THQCT về tội phạm ma túy phải tuân thủ
chính xác và đầy đủ quy định của pháp luật;
- Thực hành quyền công tố gắn chặt với hoạt động yêu cầu hoặc trực tiếp
ra quyết định giám định chất ma túy:
Kết luận giám định là một trong những chứng cứ quan trọng để xác định
việc người bị buộc tội phạm tội hay không phạm tội. Do vậy, ngay từ khi thu giữ
được chất nghi là ma túy (bao gồm cả tiền chất về chất ma túy), các cơ quan tiến
14
phạm ít nghiêm trọng), hành vi này đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của
Nhà nước đối với các chất ma túy. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 BLHS
năm 2015 (quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thì chủ thể tội này phải
là người từ đủ 16 tuổi trở lên, cũng có trường hợp chủ thể đủ năng lực trách
nhiệm hình sự có hành vi xâm phạm đến chính sách độc quyền đối với chất ma
túy của Nhà nước ở hành vi này thì phạm tội nhưng đối với hành vi xâm phạm
khác phải có điều kiện kèm theo mới phạm tội, ví dụ: Tại Điều 249 BLHS chỉ
cần người nào có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị truy cứu trách
nhiệm hình sự không cần quy định định lượng chất ma túy nhưng tội tàng trữ trái
phép chất ma túy quy định tại điểm c Điều 249 BLHS thì hành vi tàng trữ trái
phép Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 phải có khối lượng từ 0,1 gam trở lên mới truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì
vậy, khi thực hành quyền công tố, KSV phải xem xét, đánh giá xem có đầy đủ
các yếu tố cấu thành tội phạm về ma túy hay không? Ai là người thực hiện hành
vi phạm tội về ma túy. KSV phải áp dụng triệt để các biện pháp tố tụng hình sự
thuộc thẩm quyền để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Do vậy, đối tượng của
THQCT trong các vụ án ma túy chỉ có thể là tội phạm và người phạm tội về ma
túy.
1.2.2. Phạm vi thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy
Khi xem xét vấn đề này cần phải toàn diện, đầy đủ bởi lẽ niện nay chưa có
ý kiến thống nhất, việc xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
thực hành quyền công tố nói chung và hoạt động THQCT đối với các tội về ma
túy nói riêng nhằm đảm bảo: Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị
hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra khách quan, toàn
16
17
Nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội về ma túy đều phải được xử lý đúng
người, đúng tội, không để xảy ra oan sai, xâm phạm đến quyền con người. Khi
THQCT trong giai đọan điều tra trong các vụ án ma túy phải thực hiện đúng
theo Điều 165 cụ thể:
THQCT trong phê chuẩn khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Trong hồ sơ mua
bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng khi kết quả giám định, chất ma túy
không nằm trong danh mục quy định mà chưa rõ ý thức chủ quan thì phải kiên
quyết yêu cầu Cơ quan CSĐT thu thập, củng cố chứng cứ đầy đủ thì mới phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can. Phải nghiên cứu kỹ chứng cứ buộc và chứng cứ
gỡ tội, nếu cần thiết thì trực tiếp hỏ bị can, nhân chứng về các vấn đề càn làm rõ
trước khi đề xuất phê chuẩn hay không phê chuẩn khởi tố bị can.
Các vụ án ma túy phần lớn có tài liệu đặc tình, trinh sát, do đó khi phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can chú ý các loại tài liệu này nếu chưa được chuyển
hóa thành chứng cứ thì phải yêu vầu ĐTV loại các tài liệu này ra khỏi hồ sơ tố
tụng và chuyển hóa chúng thành chứng cứ, để bảo vệ đặc tình. Trong các vụ án
có nhiều đối tượng KSV chủ động phối hợp với ĐTV nắm chắc hành vi của từng
đối tượng, phân loại đối tượng, nếu đối tượng nào có đủ chứng cứ thì đề xuất bắt
ngay tránh để đối tượng bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra. Đối với các
trường hợp không thừa nhận hành vi phạm tội, kêu oan thì KSV trực tiếp lấy lời
khai để làm rõ các nội dung có trong hồ sơ, đánh giá chứng cứ trước khi lãnh
đạo ban hành các quyết định tố tụng.
Khi phê chuẩn các hồ sơ phê chuẩn khởi tố bị can thông qua truy xét, mà
không thu được vật chứng là ma túy, chỉ có lời khai các đối tượng thì KSV phải
phối hợp với điều tra viên củng cố các chứng cứ vật chất khác như thực nghiệm
điều tra, khám nghiệm hiện trường.
THQCT trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Phê Chuẩn bắt bị
can phạm tội về ma túy phải được thực hiện theo Điều 113, Điều 119, Điều 173