MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
VỀ THỰC THI LÂM LUẬT, QUẢN TRỊ RỪNG VÀ THƯƠNG MẠI LÂM SẢN
(VNGO-FLEGT)
BÁO CÁO
Kết quả tham vấn cộng đồng
về tính hợp pháp của gỗ và các sản phẩm gỗ tại huyện Xuyên Mộc,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Đơn vị thực hiện: - Trung tâm Nghiên cứu Rừng và Đất ngập nước (ForWet)
Tháng 11/2012
0
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính phủ Việt Nam hiện đang đàm phán với Liên minh Châu Âu (EU) Hiệp định đối
tác tự nguyện (VPA) về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT). Hiệp
định VPA/FLEGT là một hiệp định thương mại giữa Việt Nam (là nước có xuất khẩu gỗ và
các sản phẩm gỗ vào EU) với EU nhằm tăng cường thực thi pháp luật để kiểm soát nguồn gốc
gỗ. Đồng thời, theo một trong những yêu cầu do EU đặt ra trong quá trình đàm phán cũng như
thực hiện hiệp định sau này là phải có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan để giảm thiểu
tác động tiêu cực của VPA/FLEGT đối với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương là các hộ gia
đình trồng rừng, các cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ rừng và các doanh nghiệp chế
biến quy mô nhỏ hoặc các nhóm dịch vụ có liên quan khác.
Việc xác minh tính hợp pháp của gỗ và các sản phẩm gỗ trước hết là xác minh nguồn
gốc của gỗ từ một khu rừng nào đó có được khai thác hợp pháp hay không và chuỗi hành trình
II.
MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG THAM VẤN (theo hướng dẫn)
1.
Mục tiêu tham vấn cộng đồng
1.1. Mục tiêu chung
Thu thập các ý kiến của người dân/cộng đồng về những vấn đề liên quan đến tính hợp
pháp của gỗ và sản phẩm gỗ nhằm đóng góp cho cho dự thảo tính hợp pháp của gỗ và sản
phẩm gỗ của Việt Nam
1.2. Mục tiêu cụ thể
−
Khảo sát sự hiểu biết/nhận thức của người dân/cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ và
sản phẩm gỗ
−
Phân tích việc thực thi lâm luật và ảnh hưởng của nó đến quyền lợi và nghĩa vụ của
người dân/cộng đồng
−
Tổng hợp các nguyện vọng/đề xuất của người dân liên quan đến việc đảm bảo tính hợp
pháp của gỗ và sản phẩm gỗ gắn kết với cải thiện sinh kế
2.
Đảm bảo việc bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học ở những khu rừng được phép
khai thác gỗ
−
Những đóng góp trong việc đảm bảo môi trường sống của các cộng đồng dân cư: Khu
vực khai thác gỗ; tuyến đường vận chuyển gỗ.
3.5. An toàn về xã hội
Sự tham gia đầy đủ và có hiệu quả của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch khai thác,
thiết kế khai thác và khai thác gỗ: Kế hoạch khai thác gỗ đạt được sự đồng thuận của cộng
đồng sống ven khu rừng được phép khai thác; Người dân/Cộng đồng sống ven rừng tham gia
thiết kế và giám sát quá trình khai thác ở những khu rừng đó.
Cơ chế chia sẻ lợi ích: Sự hưởng lợi của người dân/cộng đồng sống ven khu rừng được
khai thác gỗ; tính minh bạch trong việc hưởng lợi từ khai thác và vận chuyển gỗ
III. ĐỊA BÀN THAM VẤN
2
1.
Khái quát đặc điểm địa bàn được chọn thực hiện tham vấn
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng Kinh tế trọng
điểm phía Nam đã được Nhà nước xác định là vùng kinh tế động lực. Là tỉnh có vị trí như là
một cửa khẩu giao lưu kinh tế, xã hội với các quốc gia khác trong khu vực.
Hình 1: Vị trí tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong vùng Đông Nam Bộ
ha) và phòng hộ (960 ha). Huyện xuyên Mộc có 14.186 ha rừng, trong đó có 6.617 ha rừng
trồng (chủ yếu là rừng trồng keo lá tràm và keo lai).
Rừng trồng thuộc rừng sản xuất của tỉnh tập trung trên diện tích quy hoạch phát triển
rừng sản xuất. Đây là diện tích đất đai thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng
Tàu. Công ty lâm nghiệp này là đơn vị duy nhất trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý và kinh
doanh rừng sản xuất.
Để làm rõ nguồn gốc đất đai của địa bàn trồng rừng, nhóm tham vấn đã tiến hành thu
thập tài liệu về “Lịch sử hình thành Công ty TNHH MTV lâm nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”
(sau đây gọi tắt là Cty Lâm nghiệp) như sau:
Tiền thân của Cty Lâm nghiệp là Lâm trường Xuyên Mộc được thành lập năm 1978,
theo Quyết định số 346/QĐ-UBT ngày 13/5/1978 (của UBND tỉnh Đồng Nai cũ), diện tích
quản lý là 15.990 ha.
Đến năm 1993, Lâm trường Xuyên Mộc được thành lập lại theo Quyết định số 06/QĐUBT ngày 08/6/1993 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (căn cứ vào Nghị định số
388/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Lâm trường Xuyên Mộc là doanh nghiệp Nhà
nước do UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trực tiếp quản lý.
4
Theo quyết định số 3075/QĐ.UBT ngày 26/12/1996 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
về điều chỉnh diện tích đất đai của Lâm trường Xuyên Mộc thì tổng diện tích đất sau khi điều
chỉnh của Lâm trường là 8.273 ha.
Căn cứ Nghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 của Chính phủ về việc chuyển đổi
doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành
công ty TNHH Một thành viên; Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về sắp xếp đổi mới và phát triển Lâm trường quốc doanh. Ngày 30/12/2005 UBND tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu đã có Quyết định số 5337/QĐ-UBND về việc chuyển đổi Lâm trường
Xuyên Mộc thành công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy,
từ một lâm trường quốc doanh, Lâm trường Xuyên Mộc đã được chuyển đổi thành công ty
TNHH Một thành viên hoạt động theo Luật Doanh nghiệp kể từ ngày 01/01/2006.
Cty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu. Nội dung chính của hợp đồng
giao khoán đất gồm:
- Vị trí (địa danh khoảnh, tiểu khu);
- Diện tích đất giao;
- Loài cây trồng;
- Mật độ trồng;
- Thời hạn hợp đồng (theo chu kỳ loài cây trồng).
Trong hợp đồng có ghi các nội dung về quyền lợi của hộ nhận khoán là: được chủ động
trồng rừng sản xuất; được hưởng toàn bộ sản phẩm thu hoạch sau khi hoàn thành nghĩa vụ
thuế và nghĩa vụ tài chính với Cty Lâm nghiệp; được trồng xen cây hàng năm và hưởng 100%
sản phẩm; được hoàn trả chi phí đầu tư ban đầu nếu có nguyện vọng không tiếp tục sản xuất;
được đền bù khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển KTXH.
Nghĩa vụ của hộ nhận khoán theo hợp đồng là: sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy
hoạch và chịu sự kiểm tra giám sát của Cty Lâm nghiệp về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ
thuật, chất lượng sản phẩm. Hộ nhận khoán đất phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp cho
nhà nước theo quy định; Hộ nhận khoán phải nộp 5% sản lượng khai thác của mỗi chu kỳ
trồng rừng cho Cty Lâm nghiệp (là chủ rừng); bán sản phẩm cho Cty LN; Hộ không được giao
khoán lại và chuyển nhượng đất.
Đối với Cty LN: Cty có trách nhiệm lập hồ sơ giao khoán đất cho các hộ; hướng dẫn các
hộ trồng rừng theo kế hoạch, kỹ thuật quy định; thực hiện các hoạt động dịch vụ cung cấp
giống, vật tư nông nghiệp, khuyến nông – lâm, tiêu thụ sản phẩm của hộ. Quản lý việc sử dụng
đất của hộ theo đúng quy hoạch, kế hoạch.
3.
Rừng trồng trên đất có giấy chứng nhận QSDĐ
Theo báo cáo kiểm kê đất đai của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2010), diện tích rừng trồng
cây gỗ nguyên liệu ngoài diện tích đất quy hoạch phát triển rừng (đất lâm nghiệp) là 4.500 ha.
Nhiều hộ dân trong tỉnh đã tận dụng diện tích đất có lập địa không thích hợp với việc trồng các
loài cây nông nghiệp để trồng rừng. Loài cây trồng rừng chủ yếu là keo lá tràm, keo lai. Đất để
“Cộng đồng" được dùng trong báo cáo này được hiểu là nhóm các hộ dân có mối quan
hệ gắn bó với nhau trong sản xuất (trong trường hợp này là trồng rừng) và đời sống. Như vậy,
theo quan niệm này, "cộng đồng" không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn là một
nhóm hộ trong thôn, cùng có đặc điểm về canh tác đất đai là trồng rừng sản xuất nguyên liệu
gỗ.
Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư
thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum,
sóc hoặc đơn vị tương đương”. Như vậy, “cộng đồng” được dùng trong báo cáo này cũng là
khái niệm cộng đồng được quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, nhưng được
hiểu là cộng đồng của những hộ quản lý rừng, trồng và khai thác rừng.
Các cộng đồng thực hiện tham vấn đáp ứng các tiêu chí sau: Đại diện cho vùng Đông
Nam Bộ; Có rừng trồng, sống gần rừng (khu rừng được phép khai thác) và gắn bó lâu đời với
rừng (đời sống dựa vào rừng); Là đầu mối giao thông của các tuyến đường vận chuyển gỗ và
các sản phẩm gỗ; Có các cơ sở chế biến lâm sản (xưởng cưa, xưởng mộc…)
Căn cứ vào các tiêu chí trên, các nhóm đối tượng tham vấn có trong tỉnh được lựa chọn
gồm 2 nhóm:
−
Các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng trồng trên đất của Cty Lâm
nghiệp;
−
Các hộ gia đình, cá nhân trồng rừng trên đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Phương pháp tham vấn
2.1. Nội dung làm việc với các bên liên quan trước khi tham vấn
Nội dung làm việc với các cơ quan địa phương gồm:
−
bộ hộ tham vấn (trước khi làm việc với UBND các xã).
−
Làm việc với Hạt Kiểm lâm Xuyên Mộc:
Phỏng vấn Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (ông Thái Văn Hải) về các thủ tục của cấp Hạt đối
với trồng rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ; Tham khảo ý kiến của Hạt về các đối
tượng hộ sẽ tiến hành tham vấn;
−
Làm việc với UBND các xã Bông Trang, Bưng Riềng, Hòa Hiệp:
Phối hợp với cán bộ của Cty LN đến trao đổi thống nhất về nội dung, đối tượng, kế
hoạch thực tham vấn; lựa chọn thôn/ấp và hộ tham vấn; trao đổi và thống nhất danh sách dự
kiến hộ tham vấn tại thôn.
−
+
UBND xã Bưng Riềng cử ông Nguyễn Văn Thiết (Chủ tịch Hội Nông dân xã) và
ông Quốc (cán bộ địa chính xã) tham gia tổ chức tham vấn;
+
UBND xã Bông Trang cử ông Nguyễn Tông Đông (Trưởng ấp Trang Định) tham gia
tổ chức tham vấn.
+
2.2. Thảo luận nhóm và phỏng vấn
Tổ chức tham vấn cộng đồng 2 nhóm đối tượng trên tại các ấp thuộc xã Bông Trang,
Bưng Riềng và Hòa Hiệp theo bộ câu hỏi “Hướng dẫn thực hiện tham vấn về tính hợp pháp
của gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam”. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho người dân tham gia
việc thảo luận, các câu hỏi đã được biên tập ngắn gọn hơn và in trên khổ giấy A0 và treo lên
trong các cuộc họp (việc này đã tạo được sự tập trung của người dân tham gia thảo luận).
Ngoài thảo luận nhóm, cán bộ của ForWet còn tiến hành phỏng vấn một số đối tượng có
liên quan đến nội dung tham vấn như: Hạt Trưởng Kiểm lâm Xuyên Mộc, chuyên viên lâm
nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), Chủ tịch xã Bưng Riềng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bưng
8
Riềng, cán bộ địa chính xã Bưng Riềng, Trưởng ấp Trang Định (xã Bông Trang) và người
chuyên mua rừng, bán gỗ rừng trồng.
Tài liệu đã trình bày và phổ biến trong các cuộc thảo luận gồm:
−
Bản đồ hiện trạng rừng của huyện Xuyên Mộc và Cty Lâm nghiệp;
−
Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT, ngày 4/1/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về quy
định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.
−
Bộ câu hỏi về các nội dung:
(1) Các quy định về khai thác gỗ hợp pháp trong nước;
(2) Các quy định về vận chuyển gỗ hợp pháp trong nước;
9
Nội dung của quyết định phê duyệt hồ sơ, cấp phép khai thác rừng trồng sản xuất hàng
năm ghi rõ:
¾ Diện tích thiết kế khai thác
¾ Địa danh tiểu khu và xã có rừng khai thác
¾ Điện tích khai thác theo lô
¾ Chủng loại gỗ khai thác (ở đây là loài keo lai)
¾ Nguồn vốn đầu tư trồng rừng (ở đây là vốn hộ dân tự trồng, tự hưởng, hoặc vốn của
Cty).
¾ Sản lượng gỗ (thuộc nguồn vốn Cty/tự trồng tự hưởng; chia theo địa danh).
b) Kiểm tra, giám sát khai thác rừng:
Hạt Kiểm lâm sở tại (huyện Xuyên Mộc) sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện
khai thác của các hộ theo thiết kế được phê duyệt. Nội dung kiểm tra là quy trình khai thác ghi
trong thiết kế và vị trí khai thác.
Hạt Kiểm lâm có văn bản phân công cán bộ kiểm lâm địa bàn xã có diện tích khai thác
thực hiện tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện khai thác của các hộ theo thiết kế được
phê duyệt. Nội dung kiểm tra là quy trình khai thác ghi trong thiết kế và vị trí khai thác.
Trường hợp hộ thực hiện sai các nội dung thiết kế cán bộ kiểm lâm địa bàn sẽ lập biên bản và
đề xuất với hạt trưởng biện pháp xử lý sai phạm theo quy định.
Sau khi kết thúc quá trình khai thác, hộ phải báo cáo với hạt kiểm lâm lập biên bản xác
nhận việc khai thác có theo đúng vị trí, ranh giới và diện tích như thiết kế hay không? Đánh
giá việc thực hiện quy trình khai thác và tiến độ khai thác.
Hạt sẽ kiểm tra và lập biên bản về việc vệ sinh rừng sau khai thác, yêu cầu các hộ thực
hiện vệ sinh rừng sau khai thác trước khi giao lại mặt bằng trồng rừng cho chu kỳ sau (hoặc hộ
tiếp tục trồng rừng chu kỳ sau).
Ở nội dung kiểm tra, giám sát khai thác rừng, người dân chấp hành những quy định ghi
trong thiết kế và đồng tình với việc kiểm tra của hạt kiểm lâm. Không có trường hợp hộ dân
Diện tích, vị trí lô rừng:
Thông qua hồ sơ nhận khoán của hộ và đo đạc bằng máy định vị (GPS) người mua rừng
xác định diện tích lô rừng. Những người mua rừng tại huyện Xuyên Mộc sử dụng khá
thành thạo loại dụng cụ này để đo diện tích lô rừng (nhưng chỉ biết đo diện tích trên máy
định vị). Tuy nhiên, có những người mua rừng chỉ cần biết diện tích ghi trong hợp đồng
giao khoán và họ dùng thước dây đo thực địa để kiểm tra. Phần lớn người mua rừng tin
vào diện tích lô của bản thiết kế khai thác do Cty LN lập (đã được phê duyệt).
−
Trữ lượng rừng:
Người mua rừng xác định trữ lượng theo kinh nghiệm là chính, họ căn cứ vào khoảng
cách các cây để quy ra mật độ cây/ha, đồng thời người mua rừng cũng biết đếm số cây
trong khoảng 100 m2 để quy ra mật độ cây/ha. Trữ lượng rừng được ước lượng từ mật độ
và cỡ đường kính cây bình quân và theo họ trữ lượng thường sai khoảng trên dưới 15%
khi đo tính tại bãi.
Thỏa thuận giá bán rừng: Người mua rừng thỏa thuận với người bán rừng về giá rừng
trồng theo giá thị thường tại địa phương. Căn cứ để xác định giá rừng chính là sự thống nhất
giữa 2 bên mua/bán về diện tích và trữ lượng gỗ theo cách làm như đã nêu trên. Trong hợp
đồng mua bán rừng, hộ bán rừng và người mua rừng cam kết không khiếu nại lẫn nhau nếu
rừng được mua bán không đạt sản lượng ước tính. Người mua rừng sẽ được “có lời” hoặc chịu
“lỗ” tùy theo kinh nghiệm xác định trữ lượng rừng và giá cả gỗ thời điểm khai thác. Thỏa
thuận mua bán rừng đã được cam kết giữa hai bên không bị ảnh hưởng bởi kết quả tính toán
trữ sản lượng của thiết kế khai thác và giá cả thị trường. Người mua rừng phải bỏ tiền “đặt
cọc” để đảm bảo thỏa thuận mua bán rừng được thực hiện đúng cam kết giữa hai bên.
Người mua bán rừng: Ông Nguyễn Văn Ba (43 tuổi), sinh sống tại xã Bưng Riềng.
Đã nhiều năm nay (khoảng 10 năm) ông làm “nghề” mua/bán rừng, đối tác của ông
là các hộ trồng rừng (quen biết lâu năm) có hợp đồng giao khoán đất của Cty Lâm
nghiệp. Sau khi đạt dược thỏa thuận về giá rừng với hộ dân ông Ba tiến hành làm
giữa người mua và bán rừng.
1.2. Đối với diện tích rừng trồng trên đất có giấy CNQSDĐ
a)
Việc thực hiện các quy định
Để được khai thác rừng trồng, các hộ trồng rừng trên đất có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (người dân gọi là “sổ đỏ”) hộ dân phải làm các thủ tục sau:
(1)
Lập hợp đồng mua bán rừng với người mua rừng, trong hợp đồng ghi rõ: Họ và tên
chủ đất, số GCNQSDĐ, số thửa đất có rừng khai thác, diện tích rừng dự kiến khai
thác, loài cây trồng, thời gian khai thác.
(2)
Sau khi hợp đồng được ký kết, người mua rừng làm đơn gửi UBND xã và hạt kiểm
lâm Xuyên Mộc xin phép khai thác rừng, trong đơn ghi rõ: Họ và tên người mua
rừng, họ và tên chủ đất, số GCNQSDĐ, số thửa đất có rừng khai thác, diện tích
rừng dự kiến khai thác, loài cây trồng, thời gian khai thác số GCNQSDĐ, diện tích
rừng dự kiến khai thác, loài cây trồng, thời gian khai thác;
(3)
UBND xã cử cán bộ kiểm lâm địa bàn xã tiến hành xác minh thửa đất có rừng
trồng theo “sổ đỏ” (hồ sơ và hiện trường) và xác nhận đơn xin khai thác;
Đối với rừng trồng trên đất có “sổ đỏ”, tuổi khai thác do các hộ dân định đoạt, hiện nay
tuổi khai thác rừng trồng trên địa bàn huyện Xuyên Mộc là 3,5 – 5,0 năm tùy theo nhu cầu của
hộ dân.
Mua bán rừng trồng:
Việc khai thác rừng trồng của các hộ dân chỉ được tiến hành khi hoàn thành các thủ tục
theo quy định như đã nêu tại mục a) ở trên. Hiện nay khâu khai thác rừng, bán gỗ của các hộ
dân có “sổ đỏ” tại huyện Xuyên Mộc cũng không do các hộ thực hiện mà do người mua rừng
tổ chức thực hiện (như đối với các hộ được Cty Lâm nghiệp giao khoán đất trồng rừng).
Khi rừng đến tuổi khai thác, các hộ nhận khoán đã liên hệ với người mua rừng hoặc người
mua rừng tự tìm đến. Người mua rừng sẽ trực tiếp đến lô rừng sẽ mua để xác minh các chỉ tiêu
sau:
−
Diện tích, vị trí lô rừng:
Người bán rừng sẽ phải cho người mua rừng biết các thông tin về giấy CNQSDĐ, diện
tích lô rừng theo “sổ đỏ” đã ghi. Trường hợp sổ đỏ không thể hiện thửa đất trồng rừng thì
người mua rừng sẽ đo lại bằng các dụng cụ như thước dây và tính diện tích theo kinh
nghiệm. Có một số người mua rừng biết sử dụng máy định vị (GPS) để đo diện tích lô
rừng.
−
Trữ lượng rừng:
Người mua rừng xác định trữ lượng theo kinh nghiệm là chính, họ căn cứ vào khoảng
cách các cây để quy ra mật độ cây/ha, đồng thời người mua rừng cũng biết đếm số cây
trong khoảng 100 m2 để quy ra mật độ cây/ha. Trữ lượng rừng được ước lượng từ mật độ
và cỡ đường kính cây bình quân và theo họ trữ lượng thường sai khoảng trên dưới 15%
khi đo tính tại bãi.
Thỏa thuận giá bán rừng: Cũng như trong trường hợp mua rừng của các hộ có đất nhận
khoán, người mua rừng thỏa thuận với người bán rừng về giá rừng trồng theo giá thị thường
tại địa phương. Căn cứ để xác định giá rừng chính là sự thống nhất giữa 2 bên mua/bán về diện
Bảng kê lâm sản là tài liệu quan trọng mà người vận chuyển gỗ từ bãi gỗ (tại khu khai
thác) đến nơi tập kết gỗ của bên mua (kho gỗ của công ty xuất khẩu gỗ, nhà máy chế biến gỗ,
kho cảng) phải xuất trình khi lực lượng kiểm lâm kiểm tra.
Tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, những người vận chuyển lâm sản (cho người mua rừng) phải
đăng ký biển số xe sẽ vận chuyển gỗ cũng như lộ trình từ bãi gỗ (nơi khai thác) đến nơi tập
kết gỗ của bên mua (vận chuyển nội bộ không phải đăng ký biển số xe). Đây là một trong
những biện pháp quản lý chống gian lận khối lượng gỗ vận chuyển.
Các ý kiến trong thảo luận nhóm đều cho rằng: Người mua rừng nắm rõ các thủ tục về
khai thác, vận chuyển sẽ thực hiện việc xin giấy phép nhanh chóng hơn, chi phí thấp do hiểu
được trình tự làm thủ tục khai thác, vận chuyển gỗ. Việc làm các thủ tục để vận chuyển gỗ
rừng trồng từ bãi gỗ hoặc lô rừng của hộ đến kho bãi mà bên mua phải giao hàng đều do người
mua rừng thực hiện. Các hộ dân đều không có nhận thức rõ ràng về các thủ tục này. Ngoài ra,
các hộ cũng không thể bán gỗ cho các công ty xuất khẩu và nhà máy chế biến gỗ khi khối
lượng gỗ nhỏ, đôi khi không đủ cho một chuyến xe chuyên trở. Đồng thời, người bán rừng
cũng không có đủ năng lực tài chính để thuê nhiều xe vận chuyển gỗ đến nhà máy cùng lúc
dẫn đến chi phí tăng cao do thời gian vận chuyển kéo dài.
SƠ ĐỒ MÔ TẢ QUÁ TRÌNH TRỒNG RỪNG, KHAI THÁC –
VẬN CHUYỂN GỖ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN KHAI THÁC – VẬN
CHUYỂN GỖ TẠI HUYỆN XUYÊN MỘC
14
Đất quy hoạch phát
Đất ngoài quy hoạch PT
Rừng sản
xuất
Kiểm
lâm
huyệ
n, KL
địa
bàn
xã
ể
CHẾ BIẾN,
XUẤT KHẨU GỖ
Các nhóm hộ cũng đề xuất về thủ tục hợp pháp cho vận chuyển gỗ như sau:
3.
(1)
Đối với hộ nhận khoán đất trồng rừng: Bảng kê lâm sản là tài liệu cần thiết cho
việc kiểm soát lâm sản khi vận chuyển, tuy nhiên việc đăng ký biển số xe vận
chuyển và lộ trình vận chuyển gỗ rừng được trồng bằng vốn của dân là không hợp
lý. Gỗ và sản phẩm gỗ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước và
bên giao khoán đất là hàng hóa hợp pháp (cũng như các loại hàng hóa khác) cần
tạo điều kiện lưu thông, buôn bán tự do.
(2)
Đối với hộ trồng rừng trên đất có GCN QSDĐ: Khi vận chuyển, lưu thông gỗ chỉ
cần xác nhận của UBND xã là người mua gỗ của hộ khai thác rừng trồng trên đất
có GCN QSD đất là đủ.
An toàn xã hội trong các hoạt động của nghề rừng là việc tạo ra công ăn, việc làm cho
người dân, tạo thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho các hộ gia đình. Tại huyện Xuyên Mộc các
hộ dân nhận khoán đất trồng rừng trên lâm phận của Cty Lâm nghiệp đã có việc làm ổn định
trong nhiều năm (tính theo chu kỳ kinh doanh cây nguyên liệu gỗ giấy là 5 năm, theo phương
án sản xuất được tỉnh phê duyệt), khi kết thúc chu kỳ kinh doanh, người dân khai thác rừng và
được ký lại hợp đồng ở chu kỳ tiếp theo.
Thu nhập từ việc bán rừng khá cao đã khuyến khích các hộ áp dụng các biện pháp kỹ
thuật tiến tiến để trồng rừng như: trồng rừng bằng cây giống hom, mô; bón phân cho rừng;
chăm sóc đúng kỹ thuật, tỉa cành, PCCC rừng bằng phương tiện tự trang bị… nhằm tăng sản
lượng và chất lượng gỗ, thu nhập ngày càng tăng cao.
Bằng hợp đồng giao khoán đất trồng rừng, với các điều khoản đảm bảo lợi ích từ hai
phía (hộ và Cty Lâm nghiệp) tính bền vững và an toàn về mặt xã hội đã được thể hiện rõ ràng.
Hiện nay Cty Lâm nghiệp đã giao khoán cho 162 hộ trồng rừng với diện tích 1.976,5 ha, tạo
việc làm thường xuyên cho khoảng 500 – 700 người lao động.
Đối với các hộ dân trồng rừng trên đất có GCNQSDĐ, việc tận dụng diện tích đất có lập
địa “xấu” để trồng rừng là giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các hộ trồng
rừng đều thoát nghèo và có hộ trở nên giầu nhờ bán gỗ rừng trồng.
Thu nhập từ rừng trồng:
Bà Nguyễn Thị Hoa, 45 tuổi, ngụ tại ấp 5, xã Bưng Riềng. Bà Hoa đi họp tham vấn
theo giấy mời của ForWet (có xác nhận của ông Chủ tịch BCH Hội Nông dân xã). Bà
rất bận vì có khoảng 6,5 ha đất (có “sổ đỏ”) trồng rừng cây keo lai. Rừng của bà có
một nửa diện tích mới trồng lại năm 2011, hiện còn diện tích trồng năm 2009 thì sẽ
bán vào năm 2013 (nếu được giá) hoặc để dành đến năm 2014. Số tiền đầu tư để
trồng rừng gồm: cầy đất, mua giống, phân bón, chăm sóc, chống cháy.. cho đến khi
khai thác khoảng 10 – 15 triệu đồng/ha. Rừng 5 tuổi sẽ bán được khoảng 80 triệu
đồng/ha. Hiện nay người dân có xu hướng bán rừng khi đạ 4 tuổi vì như vậy vòng
quay đồng vốn nhanh hơn, sau 4 chu kỳ đất sẽ được trồng rừng thêm 1 chu kỳ nữa.
Theo bà Hoa, thu nhập từ trồng rừng chưa cao nhưng là nguồn tiền quan trọng khi hộ
sản hợp pháp không đầy đủ hoặc hoàn toàn không quan tâm đến tính hợp pháp của gỗ
và các sản phẩm gỗ (do bán cây đứng theo hình thức khoán gọn khâu làm thủ tục, khai
thác, vận chuyển cho người mua rừng).
3) Nguồn vốn để trồng rừng là vốn tự có của các hộ dân, các hộ dân đều đã đóng thuế cho
Nhà nước theo quy định cũng hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với bên
giao khoán đất:
Việc thực hiện đúng các hợp đồng giao khoán sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, mặt nước nuôi trồng thủy sản” với Cty TNHH Một thành viên
Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu của các hộ dân đã đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của
người trồng rừng khi bỏ vốn đầu tư, thu hoạch lâm sản và hoàn thành các nghĩa vụ tài
chính theo quy định.
4) Các cơ quan quản lý nhà nước về nông lâm nghiệp cùng với chính quyền cấp xã trên
địa bàn tham vấn đã thực hiện nghiêm túc công tác quản lý rừng, lâm sản theo quy
định của pháp luật:
Các cơ quan gồm: UBND các xã Bông Trang, Bưng Riềng và Hòa Hiệp (huyện Xuyên
Mộc); Hạt Kiểm lâm Xuyên Mộc; Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu đã
thực hiện đầy đủ các quy định đối với hộ dân trồng rừng trên địa bàn về việc giao
khoán đất, lập hồ sơ thiết kế khai thác, kiểm tra giám sát khai thác rừng và vận chuyển
gỗ, xác nhận nguồn gốc gỗ khai thác…Đồng thời các cơ quan trên đã có nhiều hoạt
động nhằm nâng cao nhận thức của người dân trên địa bàn xã về Lâm luật và các quy
định có liên quan.
Phụ lục:
Phụ lục 1: Danh sách cán bộ quản lý ngành lâm nghiệp đã phỏng vấn.
17
Phụ lục 2: Danh sách cán bộ xã đã phỏng vấn.
Phụ lục 3: Danh sách người dân tham gia thảo luận nhóm.
Phụ lục 4: Danh sách người dân được phỏng vấn.