phản ảnh của cộng đồng cho kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 – 2010) tóm tắt kết quảt ham vấn cộng đồng tại tỉnh gia lai tháng 7, 2005 - Pdf 14


1 PHẢN ẢNH CỦA CỘNG ĐỒNG CHO
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
5 NĂM (2006 – 2010) Tóm tắt kết quả tham vấn cộng đồng tại tỉnh Gia Lai
Tháng 7, 2005 2
LỜI CẢM ƠN Báo cáo này do Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) và Tổ chức ActionAid International
Việt nam cùng soạn thảo, với sự hợp tác của các chuyên gia tư vấn. ADB đóng góp cả về tài
chính và nhân lực để tiến hành tham vấn Bản thảo Kế Hoạch Phát triển Kinh tế -Xã hội
2006-2010 tại tỉnh Gia Lai là tỉnh thí điểm đầu tiên tổ chức tham vấn có sự tham gia rộng rãi
của người dân và các thành phần kinh tế tại địa phương.

Sự tham gia của ADB với sự hợp tác của tổ chức ActionAid International Việt nam trong việc
tổ chức tham vấn Kế Hoạch Phát triển kinh tế xã hội 2006-2010 đã có ý nghĩa lớn đối với


3
GIỚI THIỆU

1. Đặt vấn đề

Ngày 23 tháng 9 năm 2004 Thủ tướng Chính
phủ ra chỉ thị số 33/2004/CT-TTg về xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5
năm 2006 – 2010 (SEDP). Nội dung của Chỉ
thị nêu bật một số nét mới mà Bộ KH&ĐT và
các cơ quan liên quan cần thực hiện đó là
“đổi mới quy trình xây dựng kế hoạch theo
hướng công khai, mở rộng các đối tượng
tham gia, đóng góp ý kiến cho kế hoạch.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch 5 năm,
các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương cần tổ chức lấy ý kiến các
cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, các
tổ chức phi chính phủ, tầng lớp xã hội, các
cộng đồng dân cư, nhất là các nhà đầu tư và
doanh nghiệp”.

Căn cứ tinh thần chỉ thị này, Bộ KH&ĐT đã
chỉ đạo và điều phối việc thực hiện việc tham
vấn bản thảo KH PT KT-XH 5 năm 2006-
2010 tại (i) các bộ ngành và cơ quan đoàn thể
(ii) các địa phương ở cấp địa phương và cấp
vùng (iii) các cơ quan nghiên cứu và trường
đại học (iv) các đối tác khác bao gồm khối tư

kinh nghiệm cho các đợt tham vấn khác.

Mục tiêu của tham vấ
n nhằm:

• Thử nghiệm tính khả thi của việc đưa
cộng đồng vào đóng góp ý kiến phản
hồi cho kế hoạch PT KT_XH 5 năm
của Quốc Gia. Đợt tham vấn sẽ giúp
hoàn thiện hơn khung tham vấn; nội
dung tham vấn. Kết quả ban đầu,
phương pháp tham vấn và bài học
kinh nghiệm được chia sẻ cho các địa
phương, các tổ chức để thực hiện các
đợt tham vấn tiếp theo.
• Do Gia Lai là một tỉnh thuộc khu vực
Tây Nguyên, nên những góp ý thu
thập dù mới trong khuôn khổ thử
nghiệm, sẽ là ý kiến đại diện của
người dân và chính quyền các cấp từ
cho khu vực này đóng góp cho bản kế
hoạch.

2. Phương pháp

Đợt tham vấn đã sử dụng triệt để phương
pháp phát huy sự tham gia như thảo luận
nhóm, phỏng vấn với nhiều công cụ như
động não, xây dựng cây vấn đề, phân tích
SWOT…cho việc thu thập thông tin.

Peng Ia Grai Ia Chỉa
Nú Hai
Khu vực biên giới

5
I. NHỮNG PHẢN HỒI CỦA
CỘNG ĐỒNG

Tham vấn lấy ý kiến của địa phương và
người dân tai Gia Lai đã bám vào 6 vấn đề
chính. Đó là: (i) kinh tế vĩ mô; (ii) Phát triển
nông, lâm nghiệp và nông thôn; (iii) Lao
động việc làm và di cư (iv) Dịch vụ xã hội
và an sinh xã hội (v) Xóa đói giảm nghèo và
các chương trình mục tiêu quốc gia trong
SEDP (iii) Quản trị nhà nước địa phương và
Bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên môi
trường

Bản kế hoạch 5 năm 2006- 2010 đã nhấn
mạnh phát triển kinh tế gắn với phát triển xã
hội và bảo vệ môi trường. Nhìn chung,
những phản hồi từ địa phương cho thấy một
số vấn đề tồn tại đưa ra tương đối sát thực

năm 2010. Nông lâm nghiệp chiếm 42%;
công nghiệp và xây dựng chiếm 32%;
kim nghạch xuất khẩu đạt trên 320 triệu
USD. 2. Phát triển nông, lâm nghiệp và nông
thôn trong SEDP

Sản xuất nông nghiệp tại Gia lai đã bắt
đầu có sự chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp theo hướng đa dạng hóa và
chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Bên cạnh một số loại cây trồng truyền
thống, một số loại cây ngắ
n ngày như
các giống ngô mới, ngô lai, sắn đã được
đưa vào canh tác tại địa phương nhưng
mới trên phạm vi hẹp do thiếu cây giống
và người dân còn thiếu các kỹ năng canh
tác cần thiết. Bên cạnh lúa rẫy, lúa nước
cũng đã được đưa vào sản xuất nhưng
năng suất thấp vì chưa có chế độ chăm
sóc phù hợp.Bò và Dê được nuôi phổ
biến tại địa phương, trung bình m
ỗi hộ
thường nuôi từ 1 đến 4 con. Với diện
tích đồng cỏ lớn, chăn nuôi gia súc và
đại gia súc là một tiềm năng của địa

cầu vay vốn và sự khó khăn trong việc
tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức
để phát triển kinh tế. Kiến nghị cho SEDP:
• Chính phủ và chính quyền cấp cần
có dịnh hướng phát triển và quy
hoạch vùng kinh tế nông nghiệp để
hạn chế tình trạng sản xuất theo
kiểu phong trào và tránh trùng lắp.
• Nâng cao chất lượng khuyến nông
cơ sở thông qua việc nâng cao tay
nghề, hỗ trợ ban đầu về phương
tiện cho mạng lưới khuyến nông.
Thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ
vào sản xuất nông nghiệp.
• Cải tiến thủ tục cho vay các nguồn
tín dụng chính thức. Các món vay
cần được thiết kế linh họat hoạt
hơn về quy mô, thời hạn và lãi xuất
để phù hợp với nhu cầu sản xuất và
kinh doanh của người dân. 3. Lao động việc làm và di cư

Phần lớn người dân và cán bộ đối tác
đều đồng tình cho rằng về cơ bản các
đánh giá về thực trạng lao động, việc

phương nhưng xin việc vào các lâm
trường cũng rất khó khăn do học vấn
thấp và thiếu chuyên môn kỹ thuật. Nếu
may mắn thì họ có thể xin làm hợp đồng
thời vụ cho các lâm trường này và chấp
nhận nhận mức lương và chế độ ưu đãi
khác biệt đối với công nhân thuộc biên
chế chính thức. Công nhân hợp đồng
luôn nhận mức lương thấp hơn và các
đãi ngộ như thưởng, phụ cấp thấp hơn so
với công nhân có hợp đồng dài hạn. Cơ
cấu lao động tại các lâm trường có sự
chênh lệch đáng kể theo giới tính. Người
dân địa phương cho biết công nhân lâm
trường chủ yếu là nam giới, tỷ lệ nữ giới
có nhưng rất nhỏ.

Đối với các mục tiêu của SEDP, về cơ
bản, người dân đồng tình với các mục
tiêu này đặc biệt ủng hộ việc chú trọng
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và
nâng cao chất lượng lao động. Giải pháp
được người dân ở hai huyện Dak Đoa và
Iagrai đánh giá cao là thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đào tạo
dạy nghề, khuyến khích phát triển một
số khu công nghiệp nhỏ và v
ừa ở địa
phương, phát triển công nghiệp chế biến
(đặc biệt là nhà máy chế biến mủ cao

nghề cho người dân địa phương
như sửa chữa máy nông cụ, xe
máy, cắt may để tạo cơ hội cho
người dân có thu nhập.
• Phát triển nông trường và xí nghiệp
chế biến các sản phẩm từ cây công
nghiệp tại địa phương để tạo việc
làm cho người lao động địa
phương và tận dụng các lợi thế so
sánh.
• Khôi phục, phát triển và tạo đầu ra
một số nghề phụ tại địa phương
(dệt thổ cẩm). Chú ý tạo phát triển
việc làm phi nông cho người dân
đặc biệt lao động nữ trong giai
đọan nông nhần.
• Chính quyền cấp tỉnh cần khuyến
khích và tạo cơ chế cho việc tuyển
dụng bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ.
• Dạy nghề được coi là giải pháp ưu
tiên
4. Dịch vụ xã hội và an sinh xã hội


giao tiếp bằng tiếng Kinh đối với nhóm
này cũng hết sức khó khăn, do vậy quá
trình tham vấn đã mất nhiều thời gian và
phải dựa vào sự hỗ trợ của các phiên
dịch người địa phương. Dưới góc độ
giới, trẻ em trai đi học vẫn chiếm tỷ lệ
cao hơn so với tỷ lệ
này của trẻ em gái.
Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ luôn lớn hơn tỷ
lệ mù chữ của nam giới.

Điều này đặt ra vấn đề cơ sở hạ tầng
giáo dục tại những vùng sâu vùng xa và
vấn đề ngôn ngữ trong giáo dục cho
người dân tộc thiểu số. Để có thể tăng
nhận thức của người dân là cốt lõi để
giảm nghèo, liệu nên có biệ
n pháp hỗ
trợ giáo dục nào là hiệu quả cho một số

8
đồng bào vùng sâu, vùng xa Tây
Nguyên.

Y tế
Những năm qua, với sự hỗ trợ về
chương trình khám chữa bệnh miễn phí
của chính phủ, người dân đã được được
hưởng lợi nhiều từ quá trình này, sử
dụng thẻ khám chữa bệnh. Tỷ lệ trẻ em

tại các khu vực miền núi mới được
tính vào số liệu về xóa mù chữ,
những người ngoài độ tuổi đó
nghiễm nhiên sẽ không được thống
kê dù họ có mù chữ)
• Tiếp tục nâng cao năng lực cho đội
ngũ y tế cơ sở để họ có thể xử lý các
bệnh thông thường, giảm sức ép cho
y tế tuyến trên.
• Rà soát lại và bổ sung trang thiết bị
cho các trạm y tế xã.
5. Xóa đói giảm nghèo và các chương
trình mục tiêu quốc gia trong SEDP

Trong những năm qua chính quyền địa
phương các cấp đã có những nỗ lực to
lớn trong việc xóa đói giảm nghèo. Bên
cạnh chương trình 135 còn có một số
chương trình của khu vực và của địa
phương như các chương trình hỗ trợ xây
dựng nhà, khuyến khích định canh định
cư đang được thực hiện góp phần đáng
kể trong việc cải thiện điều kiện sống
cho người dân địa phương. Các công
trình cơ sở hạ tầng như giao thông nông
thôn giúp người dân địa lại tại các buôn
làng hẻo lánh có thể đi lại dễ dàng hơn


9
thương đã đẩy việc tiêu thụ sản phẩm
nông sản không ổn định, Khó khăn trong
việc tiêu thụ nông sản cũng làm giảm cơ
hội có thu nhập tốt hơn cho người
nghèo. Vấn đề thường xuyên được đề
cập là làm thế nào để thị trường phục vụ
cho người nghèo tốt hơn?. Khi được hỏi
về khả năng xóa hộ đói và giảm mạnh số
hộ nghèo trong giai đoạn kế hoạch tới,
phần lớn ý kiến cho rằng các mục tiêu về
tăng trưởng và xóa hộ đói là khả thi
trong 5 năm tới, chỉ một số ít ý kiến cho
rằng mục tiêu này là không thể do họ
chưa thấy được các giải pháp, phương
hướng có thể giúp họ xóa nghèo. Họ băn
khoăn là những giải pháp đưa ra trong kế
hoạch không phải đúng hoàn toàn và giải
quyết được gốc rễ nguyên nhân nghèo
tại địa phương. Để thúc đẩy việc giảm
nghèo tốt hơn, chính quyền cấp tỉnh
cũng cần thể hiện quyết tâm cao qua
những chính sách được đưa ra và thực
hiện hiệu quả tại địa phương, đặc biệt
liên quan đến việc làm, cơ hội vay vốn,
những hỗ trợ kỹ thuật và thị trường. Có
như vậy địa phương mới có thể đạt được
mục tiêu giảm nghèo khả thi trong 5 năm
tới.

chí nhiều hơn so với lương và phụ cấp
mà họ nhận được. Bên cạnh đó người
dân cũng ghi nhận sự thiếu hụt năng lực
trong đội ngũ này trong việc thực hiện
quản lý nhà nước. Một số ý kiến cho
rằng còn có tình trạng cán bộ cơ sở “xa
dân”.

Tiếp cận với các thông tin của xã còn
hạn chế đặc biệt những thông tin về thu
chi ngân sách xã, xây dựng cơ sở hạ tầng
trên địa bàn xã. điều này hạn chế việc
người dân có thể tham gia vào giám sát
các dự án, nhằm nâng cao tính hiệu quả
đầu tư.

Cải cách thủ tục hành chính đã bước đầu
được thiết lập , với sự hoạt động của cơ
chế một cửa ở nhiều nơi. Tuy nhiên, hoạt
động một cửa ở cấp tỉnh tại các sở có vẻ
hiệu quả hơn, thu hút được người dân
đến sử dụng dịch vụ. Tại các cơ quan
chính quyền địa phương cấp thấp hơn
như cấp huyện, xã, việc giải quyết thủ
tục hành chính còn vướng mắc, nhất là
việc giải quyết các vấn đề về đất đai.
Người dân phản ánh một phần là cán bộ
phụ trách còn lúng túng, chưa có nhiều
thẩm quyền để giải quyết. Cán bộ phụ
trách tại cấp cơ sở thì phản ánh là cơ chế

thiết.
• Tiếp tục xây dựng năng lực cho đội
ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là cán bộ
ở cấp xã và thôn.
• Nghiên cứu có phụ cấp thỏa đáng
hơn đối với cán bộ đang làm việc tại
cấp thôn.
• Nâng cao dân trí, hiểu biết cho đồng
bào dân tộc qua việc tiếp cận với
thông tin, chính sách
nhiên. Họ cho rằng, đất đã bị bạc màu,
họ phải chuyển chỗ khác để trồng,
nhưng đất trồng trọt cũng còn ít, khó
khai thác thêm. Những mảnh đất tốt đã
thuộc về một số trang trại, những ông
chủ giàu. Ngoài ra, người dân lo lắng về
những rủi ro do thiên nhiên như hạn hán,
gây thất thoát mùa màng.

Môi trường và bảo vệ môi trường dường
như chưa đi vào nhận thức của người
dân, tuy rằng ít nhiề
u người dân đã chịu
những ảnh hưởng của môi trường.

11

NHỮNG VẤN ĐỀ ƯU TIẾN CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ ĐỊA
PHƯƠNG

Vấn đề quan tâm của cộng đồng Vấn đề quan tâm của cán bộ cơ sở

•Tỷ lệ đói nghèo còn cao, Đời sống thấp
•Kinh tế phát triển chưa bền vững

•Tập quán SX lạc hậu
•Tính ỷ lại của đồng bào thiểu số còn cao
•Thiếu qui hoạch sử dụng đất
•Giá cả nông sản bấp bênh
•Đời sống chính trị của đồng bào thiểu số
không ổn định: một bộ phận đồng bào bị
lừa gạt; Tệ nạn xã hội còn cao
•Kinh phí XĐGN chậm
•Đầu tư cho giáo dục chưa đúng mức
•Cơ sở hạ tầng kém, không đồng bộ
•Tình trạng bỏ học và an ninh học đường
•Khoảng cách giàu nghèo quá lớn
•Thiếu đất sản xuất
•Đời sống văn hoá cơ sở yếu kém
•Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ cao
•Khuyến nông còn yếu kém
• Tham nhũng, quan liêu cục bộ còn lớn 12
Khuyến nghị cho việc tổ chức
các đợt tham vấn tiếp theo

Người dân và cán bộ địa phương các cấp
đánh giá cao nỗ lực của chính phủ trong
việc tổ chức tham vấn cộng đồng cho
SEDP. Họ cho rằng với cách làm này bản
kế hoạch chắc chắn sẽ sát hơn, phản ảnh
chính xác hơn các nhu cầu từ cơ sở đồng
thời tăng cường tính sở hữu của người dân


2. Nội dung tập huấn có thể gồm:
•Lý do có sự tham vấn
•Giới thiệu cách làm Kế hoạch truyền
thống và hiện đại
•Nội dung chính của bản dự thảo KH PT
KTXH 5 năm
•Phương pháp tham vấn
•Chương trình đi tham vấn và
•Phân công trách nhiệm
•Thủ vai ( Role play)

3. Đối tượng tham vấn đề xuất
• Nhóm đối tượng tham vấn mỗi
thôn (5 nhóm): Lãnh đạo, Phụ nữ,
Thanh niên, Trẻ em (13-18 tuổi),
nhóm hỗn hợp. Đối với mỗi nhóm
sẽ có những nội dung để tập trung
khai thác thông tin.
• Cấp cộng đồng: các đối tượng cần
được bố trí hợp lý theo giới tính
4 . Công cụ có thể sử dụng
Các công cụ có sự tham gia bao gồm
• -Thảo luận nhóm
• -Xây dựng cây vấn đề, mục tiêu
• -Xếp hạng ưu tiên
• -Phỏng vấn sâu
• -Phân tích số liệu thứ cấp
• -Sử dụng công cụ trực quan
• (Đưa khung nghiên cứu vào giấy
A0)

5. Khung thời gian đề xuất
• Tập huấn giới thiệu phương pháp
và nội dung tham vấn: 1 ngày
• Tham vấn tại thực địa: tham vấn
tại một tỉnh tối thiểu nên được
thực hiện trong 6 ngày (không kể
thời gian di chuyển và thời gian
chuẩn bị) với thời gian đề xuất như
sau: tham vấn cấp xã (bao gồm
người dân, cán bộ thôn, xã): 2
ngày; huyện: ½ ngày, tỉnh: ½ ngày
• Chuẩn bị báo cáo sơ bộ cho hội
thảo tham vấn cấp tỉnh: 1/2 ngày
• Hội thảo tham báo cáo kết quả sơ
bộ và tham vấn chính quyền cấp
tỉnh: 1/2 ngày


• Nên có cán bộ Bộ KH&ĐT có
chuyên môn và kinh nghiệm lập
Kế hoạch 5 năm.
• Nên có sự tham gia của các tổ
chức có kỹ năng và kinh nghiệm
tham vấn cộng đồng như các tổ
chức phi chính phủ.
• Thành phần đoàn tham vấn nên
đảm bảo sự cân bằng giữa nam và
nữ
• Thành viên đoàn tham vấn cần có
khả năng sử dụng máy vi tính
thành thạo và khả năng ghi tốc ký
nội dung thảo luận.
Ý nghĩa và bài học kinh
nghiệm cho tổ chức tham vấn
bản kế hoạch kinh tế - xã hội
của quốc gia và của địa
phương nói riêng
•Tham vấn cần có sơ đồ quy
trình chung
•Tham vấn kế hoạch có thể tăng
cường tính chủ động của địa
phương, đặc biệt của UBND và
Sở KHĐT
•Nên có thời gian dài hơn cho
tham vấn trong cả công tác
chuẩn bị và thực hiện
•Nên có sự tham vấn cộng đồng
hỗ trợ tỉnh soạn thảo KH tỉnh
15
Phụ lục 2:

KHUNG THỰC HIỆN THAM VẤN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-XH 2006 –
2010 TẠI TỈNH GIA LAI (7/2005)

Nhóm đối tượng/địa bàn Chủ đề tham vấn
13/7/2005, TẬP HUẤN
Tập huấn cho cán bộ Sở KH&ĐT và cán
bộ huyện
Nội dung, phương pháp
14/7/2005, XÃ IA CHÍA, HUYỆN IA GRAI
Thôn Bang dân tộc Jarai, xã nghèo vùng 3, biên giới
Nhóm tham vấn:1
Nhóm 1: Nhóm dân (hỗn hợp)

Nông nghiệp; Dịch vụ XH/ An sinh XH; Tài
nguyên môi trường
Nhóm 2: Nhóm phụ nữ

vấn.
Tổng hợp kết quả tham vấn tại xã
Nhóm 9: lãnh đạo cấp huyện Dakdoa:
Gồm đại diện lãnh đạo huyện, thôn buôn
và đại diện lãnh đạo xã tham vấn
Buớc 2
:
Thảo luận chung theo hướng dẫn
15/7/2005, XÃ K’DANG, HUYỆN ĐẮK ĐOA
Thôn Pla
Dân tộc Bana, xã nghèo vùng 2
Nhóm tham vấn:1

16
Nhóm 10: Nhóm dân (hỗn hợp) Nông nghiệp; DVXH/ ASXH; Tài nguyên MT

Nhóm 11: Nhóm phụ nữ
Nông.nghiệp; XĐGN; quản trị ĐP; môi trường.
Nhóm 12: Trẻ em/thanh niên

LĐ việc làm; di cư; Dịch vụ xã hội / An sinh
XH
Thôn Trek

dân tộc Bana
Nhóm tham vấn:2
Nhóm 13: Nhóm dân (hỗn hợp)

Nông nghiệp; DVXH/ ASXH; Tài nguyên môi
trường; quản trị ĐP

BC theo chủ đề, kết quả xếp loại giải pháp của
2 huyện.
Ý kiến bổ sung nội dung và phương pháp của
đại biểu
Buớc 3
:
Thảo luận góp ý nội dung KH Nhà nước và cho
điểm các giải pháp.
Bình luận và phân tích các giải pháp được chọn
là ưu tiên
Góp ý phương pháp tham vấn
Ngày 17/7 : Báo cáo và tổng hợp của nhóm tham vấn, Rút kinh nghiệm thực tế 17 THE COMMUNITY FEEDBACK TO
THE 5-YEAR SOCIO- ECONOMIC
DEVELOPMENT PLAN (SEDP) 2006- 2010
FROM GIA LAI PROVINCE

THE KEY FINDINGS AND RECOMMENDATIONS


Development Plan. The consultation in Gia Lai province also aimed to help the
Government, MPI to confirm the consultation framework and methodology that may
apply to all other consultation and experiment on how to engage wider stakeholders
into the process of SEDP formulation.

We are grateful for Dr. Cao Viet Sinh, Vice Minister of Planning and Investment,
Mr. Nguyen Tu Nhat, Mdm. Dinh Thi Chinh and Ms Nguyen Thu Ha in Department
of National Economic Issues Department, MPI for their valuable comments on this
report .

This summary report was written by Mr. Nguyen Quang Minh, Senior Officer of
Impact Assessment and Shared Learning, Action Aid International Viet nam, and
Mdm. Ngo Huong, Poverty Specialist, Asian Development Bank (ADB, TA4252) with
the support of consultants and other consultation team members. Grateful to Dr.
Ramesh Adhikari and Mr. Bart Edes (ADB) for their supports in and comments.
Especially thanks to the local community and local officials who took part in the
consultation process and provided valuable feedback to the National Socio-
Economic Development Plan 2006- 2010. Thanks to them, we have learnt many
useful lessons on how to work with the community . We have tried to reflect best of
the community’s needs and opinions in this report.

On behalf of the team

Ngo Huong
Nguyen Quang Minh

19
I. INTRODUCTION

1. Overview

and provincial offices, (iii) research
institutes and universities and (iv) other
stakeholders including private sectors,
civil society groups, donors and non-
governmental organizations. Especially
at local levels, the consultation process
citizens received the financial and
technical support from ADB, JICA,
Finland, UNDP, WB and international
non-government organizations like Save
Children UK, Plan International,
ActionAid Vietnam and also from
Vietnamese non- governmental
organizations. Three regional
consultation workshops were held with
the participation of provincial
representatives from the North, Central
and South regions of Vietnam. Before
the Draft SEDP is submitted to the
National Assembly for approval in June
2006, SEDP consultation exercises at
local levels were organized from July
2005 to May 2006. About 15 provinces
were successful giving their feedback to
the draft SEDP2006-2010 and also
gained experiences in conducting
consultation as new planning approach. .

In Gia Lai province, the Ministry of
Planning and Investment asked ADB

and opinions of Gia Lai’s
communities and local
authorities on the plan will

20
represent the region’s
reflectionto the SEDP, more than
a pilot exercise

2. Methodology

In the SEDP consultation process,
participatory approach and methods
were most preferably used to obtain the
information, for instance, group focus
discussion and interview and tools like
brainstorming, problem- tree and SWOT
analysis etc.

Some of the research questions were
raised as follows:
• What are the citizens’ opinions
about the National Five-year
Socio- Economic Development
Plan? Is it with appropriate
contents? What to add in to the
SEDP from the priorities of local
community ?
• What priorities and policies
should be taken into account by

COMMUNITYIn Gia Lai province, authorities and
communities have commented majorly
on six issues . The issues are (i)
macroeconomic, (ii) agriculture, forestry
and rural development; (iii) labor,
employment and migration, (iv) social
services and social welfares, (v) hunger
elimination, poverty reduction and
national targeted programs and (vi) local
governance at local levels and protection
of environment and sustainable use of
natural resources and as key contents in
the SEDP2006-2010.

The Five- year SEDP2006-
2010emphasizes that economic
development go along with inclusive
social development and environment
protection. In general, feedback from
local levels showed that the issues were
relatively well assessed (for example,
povertyr, income gap, unsustainble
poverty reduction, agricultural
structuring , low effectiveness of
infrastructure investment, constraints
and limited outreach in education and
health care ). Communities and local

will reach about USD320 million by
2010. .

2. Agricultural, forestry and rural
development in the SEDP

In Gia Lai province, agricultural
production has moved towards crop
diversification and restructure. .

Apart from traditional crops, some short-
term crops have been applied , such as
cross- bred corn and cassava. However
these crops are at small scale due to the
lack of necessary planting techniques
and seeds. Besides the dry rice (planted
on the mountain), wet rice has been
planted but still with low productivity
because of lack of neccesary technique
that the people should apply. Cows and
goats are popular livestocks in this area,
with an average of about 1 to 4 per
household. . With the large area of
pasture, cattle and livestock raising are
potential for household economy .
Coffee and pepper used to be the major
crops, but now the scale has been
decreased since the price is unstable.
Much of the coffee area has been
abandoned especially that of small

production in large scale. Local
agricultural extension network
should be improved with initial
skills and techniques and better
communication manner needed. .
Technology should also be applied
in agricultural production
• Procedures of lending should be
changed. Credits and loans should
be diversified to be more flexible
in terms of amount, term and
interest rates to meet the demand
of the poor and households.
3. Labor, employment and
migration

Most of people and local officials agreed
with the assessment of current situation
of labor, employment and migration in
the draft SEDP2006-2010. In recent
years, employment structure has
changed as a result of crop
diversification and raising livestocks.
However, the the development of
handicrafts and service have been still
slow. Most of the laborers worked on


balance in terms of gender. It is said that
most of the workers are male and there
are quite small number of female
workers.

Local communities basicly agreed with
the objectives in SEDP, especially the
objectives for labor restructureing and
improving the skills of labor. Poor
people in Dak Đoa and Iagrai district
appreciated the solutions of reforming
the rural economic structure, vocational
training, establishing small and medium
sized economic zones, developing the
processing industry (especially
processing rubber latex). The solution of
exporting labor to abroad is viewed to be
not suitable in this area because the labor
is lack of technical skills. Young people
have constraints in developing their job
orientation.
Migration has not been a big issue by the
communities in the area. However,
migration in other areas of the province
was raised by local officials. Differences
in getting job opportunities andin social
services have been occured between
local people and migrated people.
Immigrants faced more difficulties. They
could have only seasonal jobs (in the

opportunities between male and
female labor.
• Vocational training is seen to be
the first priority solution.

23
4. Social services and social
welfares

Education

In recent years, the Government has
provided big supportin education for
local people. Primary and secondary
schools have been established in all
communes. Teachers were allocated to
remote areas. Therefore, the number of
primary pupils remained relatively high.
Local public awareness of education has
been improved. Local ethnic people
encouraged their children to go to
school. The Government’s support in
education was highly appreciated by the
local community.

However, there are still shortage of
classrooms in Gia Lai province in

province have benefited a lot from the
free health care using health care cards
under health targeted program supported
by the Central Government. , .The
number of children vaccinated has
increased sharply. Quality of health care
at local stations was reflected to record
improvement wiht medicine supplies.
According to the local people, there was
no longer lack of medicine at health care
centers, but some diseases still can not
be cured. The people wanted to find the
right medicines.The cost of treatment is
still very high that pushed many people
falling back to poverty. Because of lack
of local health-staff, nurses and doctors
in many communes, people had to go to
upper level hospital. Thus they had to
pay higher costs of treatment,
transporation and livings. Many
households falled into poverty when
suffering from diseases. Recommendations for SEDP on
education and health care:

• Departments of education should
consider new way of the teacher
allocation to solve the “joint


Authorities at local levels have had great
efforts in hunger elimination and poverty
reduction in recent years. Besides the
Program 135, there are regional and
provincial programs such as house
construction supports and agricultural
and house settling encouragement,
which have significant positive effects
on living conditions of local residents.
Infrastructures such as rural
transportation works have made it easier
for people in remote villages to travel in
the province.

Women’s living condition has also
improved in recent years. They have
more opportunity to take part in the
activities of the community. They have
occupied more positions in local
authorities. However, women still
suffered from more difficulties than
men.

One of the main causes of poverty is
illiteratcy. Illiteracy among adults is the
major obstable in reducing poverty and
improving living condition of poor
people. Non- agricultural jobs for labor
in remote areas were still of shortage,

with higher attention in order to
achievethe objective of poverty
reduction in next five years . Recommendations for SEDP:

• National Targeted Programs should
be reviewed and improved.
Infrastructure should be enhanced
sto ensure that transportation is
allowed to all the villages in the
remote areas.
• Supporting programs for minority
ethnic groups and residents in
remote areas will continue, for
instance the Program 134 and 178.
Local policies should be aimed to
solve the specific problems of each
area.
• Linkages between National
Targeted Program and local
programs should be reviewed and
enhanced; therefore, resources
from central and local levels
including resources from private
sectors will be mobilized

25
efficiently for investment and

stop shop” seemed to be more
effectively operated at provincial level
which might attract more people to use
the public services. At lower
administration level such as commune
and district levels, administration
procedures still created certain obstacles,
especially, regarding ones of land using
rights. The people claimed that local
officials had limited competence in
dealing with procedures. The officials
claimed that the mechanism and
direction in documents are not consistent
that created confusion. It was suggested
that public administration at local levels
should be enhanced in synchronizing
administration procedures towards
priority for the people.

Men rather than womencame to access
local authority offices. Women rarely
took part in village meetings. . Women
thought that it would be men’s
responsibility as the householders to deal
with People’s Committee.
Recommendations to the SEDP:

• Speed up the public administration
reform, simplify procedures and
improve administration mechanism at

tradition, exhausted and degrading of
soil exited in many areas. The local
people even did not claim much about
environment problems because they
were not aware of direct impact of
destroyed environment. However, some
groups said that there were decreasing


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status