Lời Mở Đầu
Trong xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá hiện nay trên thế giới, cùng với
sự hội nhập và hợp tác kinh tế ngày càng sâu rộng của các nền kinh tế làm
cho kinh tế các nước ngày càng phát triển. Bước vào năm 2007 năm thứ hai
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2006 – 2010 Việt
Nam đã có bước chuyển biến đáng kể.Việt Nam đã chính thức trở thành thành
viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO đồng thời ký hiệp định quan hệ
bình thường vĩnh viễn PNTR với Mỹ - một thị trường lớn nhất thế giới, tổ
chức thành công hội nghị APEC đã nâng tầm vóc của nước nhà lên tầm cao
mới vươn ra thế giới.Việt Nam là một nước có tăng trưởng kinh tế cao so với
khu vực và thế giới, nhờ đường lối phát triển đúng đắn về kinh tế cũng như sự
ổn định chính trị vững vàng dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước.
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế trong thời kỳ mới là một điều
được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm để giúp đất nước thoát khỏi tình
trạng lạc hậu, nền kinh tế tăng trưởng cao với cơ cấu kinh tế hợp lý. Do nhận
thức được tầm quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với sự giúp
đỡ của thầy giáo Ts. Nguyễn Ngọc Sơn và các cô, chú tại đơn vị thực tập là
Phòng Tài Chính - Kế Hoạch huyện Phù Cừ Tỉnh Hưng Yên em đã chọn đề
tài thực tập tốt nghiệp là :
“ Các giải pháp để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2006 – 2010 của huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2006 - 2010 ’’
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm phân tích việc thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội của huyện Phù Cừ.Từ đó đưa ra một số giải pháp cho
việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại Huyện Phù Cừ tỉnh Hưng
Yên
1
Chuyên đề gồm 3 phần chính :
Chương I : Vai trò của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh
tế quốc dân
Chương II : Tình hình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2001 -2005 và
nhiệm vụ kế hoạch 2006 – 2010
Nhà nước nhằm tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác cùng tham gia,
đồng thời hướng tới một sự phát triển bền vững khi đặt các mục tiêu phát
triển kinh tế đi đôi với công tác xã hội hoá.
- Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Theo định nghĩa : “ Kế hoạch kinh tế quốc dân là tổng hợp những mục tiêu,
phương hướng, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế quốc dân, được biểu
3
hiện trong một hệ thống các bản cân đối, trên cơ sở nhận thức và thoả mãn
các yêu cầu của quy luật kinh tế của nền kinh tế quốc dân, và trên cơ sở khai
thác có hiệu quả kinh tế - xã hội cao mọi tài nguyên nhân - tài - vật - lực của
đất nước ’’
1
- Kế hoạch phát triển là một văn bản mang tính định hướng, có tính phân
đoạn cụ thể.Tính phân đoạn của kế hoạch thể hiện ở việc chia kế hoạch theo
các môc thời gian rõ ràng như kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế
hoạch ngắn hạn. Kế hoạch có cả tính định tính và định lượng trong đó tính
định lượng là đặc trưng cơ bản, tính định lượng của kế hoạch được thể hiện
thông qua các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp dựa trên những dự báo
cụ thể mang tính cân đối của nền kinh tế quốc dân.Hệ thống chỉ tiêu và mục
tiêu trong kế hoạch thường đầy đủ, chi tiết và cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả
và khả năng thực thi.
2. Các nguyên tắc của kế hoạch hoá.
- Để đảm bảo cho hoạt động kế hoạch hoá đạt hiệu quả cao và phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, công tác kế hoạch hoá cần phải
tuân thủ theo các nguyên tắc của kế hoạch hoá.
Dựa trên những nội dung và tính chất của kế hoạch như trên, khi xây dựng
kế hoạch phát triển phải đảm bảo các nguyên tắc sau :
- Kế hoạch phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội :
Mục đích cuối cùng của kế hoạch là đáp ứng được nhu cầu của xã hội
hình dân số, kinh tế, xã hội, các kế hoạch trung và dài hạn thường phải dựa
vào các nghiên cứu, điều tra này để dự báo tình hình phát triển lâu dài về kinh
tế, xã hội để lập kế hoạch cho từng giai đoạn cụ thể.
- Kế hoạch phải linh hoạt, có khả năng thích ứng tốt với tình hình biến động
của đơn vị, địa phương lập kế hoạch.
5
Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, quá trình phát triển
toàn diện của nước ta cũng chịu ảnh hưởng bởi biến động của khu vực và thế
giới về kinh tế, chính trị, xã hội. Do đó xây dựng kế hoạch phải linh hoạt ,
thích ứng với các biến động lớn về kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới
- Kế hoạch phải cố gắng đảm bảo tính liên tục và có kế hoạch dự phòng trong
trường hợp tình hình tại địa phương, đơn vị có biến động lớn.
Xây dựng kế hoạch phải tránh trường hợp dập khuôn, bị động khi có
biến động ảnh hưởng mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Dựa vào các mục tiêu ,
chương trình phát triển dài hạn 10, 20 năm để xây dựng các kế hoạch trung và
dài hạn, kế hoạch quý sao cho toàn bộ các kế hoạch đó tạo thành một kế
hoạch liên tục. Đồng thời phải có kế hoạch dự phòng trong trường hợp có
biến động ảnh hưởng đến việc hoàn thành các mục tiêu trong kế hoạch đã
định.
- Kế hoạch phải được xây dựng dựa trên nội dung kế hoạch dài hạn và kết
hợp với kế hoạch ngắn hạn, trung hạn để đảm bảo cân đối vĩ mô, phát triển
bền vững.
- Kế hoạch phải bảo đảm độ tin cậy, tính tối ưu hoá và hiệu quả cụ thể theo
từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội cụ thể.
Đặc biệt phải đảm bảo độ an toàn về tài chính thể hiện ở tính đảm bảo
nguồn vốn cho các mục tiêu đang và sắp thực hiện. Nguồn tài chính của các
địa phương chủ yếu từ ngân sách Nhà nước và các khoản tự thu nhưng chủ
yếu là ngân sách Nhà nước do đó cần cân đối giữa các mục tiêu phát triển
trong khoảng dự trù ngân sách có thể vừa đáp ứng các mục tiêu phát triển lớn
đồng thời phân bổ ngân sách cho các khoản dự trù trong các tình huống khẩn
Theo tiêu chuẩn này phân kế hoạch ra theo các loại kế hoạch khác nhau
phục vụ cho từng mục tiêu phát triển cụ thể, hướng đến từng kế hoạch thành
phần nhằm mục tiêu phát triển và giúp hoàn thành kế hoạch tổng thể trung và
ngắn hạn . Theo tiêu chí này các kế hoạch thường là kế hoạch phát triển cho
từng đối tượng như : Kế hoạch cho người nghèo vay vốn phát triển sản xuất,
kế hoạch xây dựng vùng chuyên canh và khu chế xuất, …
4. Nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
4.1. Tổng quát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tổng hợp các mục tiêu, chỉ tiêu chủ
yếu .Trong đó có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, trung hạn và kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm là kế hoạch trung tâm trong chiến lược dài hạn và ngắn
hạn.
- Những nội dung cần xác định trong kế hoạch 5 năm gồm có :
+ Xác định nhiệm vụ tổng quát và các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu phát triển
kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn 5 năm như : Mục tiêu tăng trưởng
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động tiết kiệm, các chỉ tiêu về phúc
lợi xã hội.
+ Xác định các chương trình và các lĩnh vực phát triển. Các vấn đề được đưa
vào chương trình và lĩnh vực phát triển có sự lựa chọn, nó phải thực sự là các
vấn đề nổi cộm, trọng yếu cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các
chương trình phát triển chính là cơ sở để hoàn thành các nhiệm vụ và mục
tiêu phát triển của kỳ kế hoạch 5 năm.
+ Xác định được các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm gồm các nội dung
chính là : xác định các cân đối vĩ mô chủ yếu, bao gồm cân đối vốn đầu tư,
cân đối xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, cân đối sức mua toàn xã
hội; xác định các khả năng thu hút vốn cả trong và ngoài nước, đồng thời xác
8
định các quan hệ lớn về phân bổ đầu tư giữa các vùng kinh tế, giữa công –
nông nghiệp và các lĩnh vực văn hoá, xã hội; xác định các quan hệ cung cầu
một số vật tư hàng hoá chủ yếu; xây dựng, hoàn thiện những vấn đề về cơ chế
Nhóm các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội bao
gồm:
- Các chỉ tiêu về Kinh tế là các chỉ tiêu về: Tốc độ tăng trưởng kinh tế( GDP)
; Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP đến năm cuối kỳ kế hoạch; Chỉ tiêu thu
ngân sách, chỉ tiêu giá trị sản xuất, ….
- Các chỉ tiêu về Văn hoá – Xã hội: Tốc độ phát triển dân số tự nhiên; Lao
động và việc làm, Xoá đói giảm nghèo, cơ sở hạ tầng, …..
- Các chỉ tiêu về An ninh - Quốc phòng như: Hoàn thành công tác tuyển quân
địa phương; giảm thiểu tỷ lệ tệ nạn cờ bạc, lô đề, ma tuý; giảm thiểu án hình
sự trên địa bàn,…
5.2. Các chỉ tiêu bổ sung.
Các chỉ tiêu bổ sung bao gồm các chỉ tiêu nhằm mục tiêu bổ sung cho các
chỉ tiêu chính và các chỉ tiêu chia nhỏ của mục tiêu chính ở từng kế hoạch cụ
thể nhằm hoàn thành các chỉ tiêu chính đề ra như: chỉ tiêu tăng năng suất lúa
khi đưa giống mới vào sản xuất, chỉ tiêu giảm thiểu thiệt hại trong thiên tai
khi có thiên tai đến bất ngờ,……
10
II. Sự cần thiết của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
1. Sự cần thiết của kế hoạch trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 8 ( 2006 – 2010 ) trong bối cảnh
quốc tế ngày càng hội nhập sâu và rộng hơn đặc biệt là sau khi Việt Nam gia
nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và ký hiệp định thương mại bình
thường vĩnh viễn PNTR với một thị trường lớn nhất thế giới là Mỹ sẽ có tác
động rất mạnh đến sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Sẽ có những thuận
lợi cho sự phát triển của đất nước nhưng cũng có những khó khăn thách thức
nhất định do đó kế hoạch với chức năng là công cụ quản lý điều hành vĩ mô
nền kinh tế quốc dân là một nội dung không thể thiếu trong chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội của một Quốc gia cũng như của từng địa phương. Đối với
dàn trải, không hiệu quả và không đảm bảo được các cân đối kinh tế vĩ mô và
quá trình phân phối, phân bổ ngân sách sẽ không đạt được hiệu quả về phúc
lợi xã hội; quyền lợi của người lao động, người dân nghèo, những người khó
khăn,… sẽ không được đảm bảo, xã hội sẽ phát triển không đồng đều, không
có tính bền vững.
2. Ý nghĩa của kế hoạch trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là sự cụ thể hoá các chiến lược phát
triển trong lộ trình phát triển của đất nước trong dài hạn.Kế hoạch đưa ra các
mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xác định các cân
đối, các chính sách phân bổ nguồn lực cho các chương trình phát triển khu
vực kinh tế nhà nước
12
và khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân. Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội giúp cho người dân hiểu hơn về những thuận lợi, khó khăn, thách
thức mà chúng ta đang phải đối phó, biết được tiềm năng, định hướng phát
triển của đất nước trong tương lai.
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vừa giúp địa phương đảm bảo được
sự phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng, các lĩnh vực vừa giúp địa
phương đạt được các mục tiêu về xã hội như giảm chênh lệch thu nhập giữa
các nhóm dân cư, xây dựng được các công trình phúc lợi xã hội,… từ đó
hướng tới một sự phát triển bền vững. Kế hoạch cũng giúp địa phương đồng
bộ được sự phát triển các mục tiêu của mình với sự phát triển các mục tiêu
chung của cả nước. Thông qua kế hoạch có thể giúp địa phương khai thác
được tiềm năng, thế mạnh của mình phục vụ cho các mục tiêu đã đề ra, đồng
thời có các định hướng, chính sách riêng của mình như chính sách tài chính
tiền tệ, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách phát triển ngành nghề trọng điểm,
chính sách về đăng ký kinh doanh,… để thu hút đầu tư trên địa bàn từ đó phát
triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cũng như nâng cao thu nhập của người dân. Có kế hoạch cụ thể và hợp lý
và năm 2006
I. Tổng quan về huyện Phù Cừ - Tỉnh Hưng Yên.
1. Quá trình hình thành và phát triển của huyện Phù Cừ - tỉnh Hưng
Yên.
1.1. Đặc điểm về lịch sử phát triển Huyện Phù Cừ.
Tháng 5 năm 1997 Huyện Phù Cừ được tái lập sau 20 năm hợp nhất
với huyện Tiên Lữ. Phù Cừ là một trong 10 huyện của tỉnh Hưng Yên, bao
gồm 14 xã : Minh Tân, Phan Sào Nam, Trần Cao, Quang Hưng, Minh Hoàng,
Đoàn Đào, Tống Phan, Đình Cao, Nhật Quang, Tiên Tiến,Tam Đa, Minh Tiến,
Nguyên Hoà và xã Tống Trân, là huyện cực Đông - Nam của tỉnh Hưng
Yên.Tổng diện tích đất tự nhiên 9382,33 ha (Đất nông nghiệp có gần 6985 ha,
chiếm 74,4% diện tích đất tự nhiên), chiếm tỷ lệ 10,52 về diện tích đất tự
nhiên.
1.2. Vị trí địa lý kinh tế và đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý :
Phù Cừ nằm ở cực phía Đông – Nam của tỉnh Hưng Yên, phía đông
giáp huyện Thanh Miện của Hải Dương.Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và
được ngăn cách bằng ranh giới tự nhiên là sông Luộc, Phía Tây giáp huyện
Tiên Lữ, phía Bắc giáp huyện Ân Thi.
Với vị trí trên huyện Phù Cừ có điều kiện thuận lợi để giao lưu phát
triển Kinh tế - xã hội với các đơn vị trong và ngoài tỉnh thông qua hệ thống
đường bộ, đường sông nội đồng và ven biển. Đồng thời là một huyện nằm
gọn trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nơi có nhiều tỉnh, thành phố
15
phát triển kinh tế - xã hội năng động như thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải
Phòng, khu khai thác than và du lịch Hạ Long - Quảng Ninh.
Đây là một trong những điều kiện thuận lợi nổi trội của huyện, có điều
kiện hợp tác phát triển đa dạng, phong phú trên con đường phát triển kinh tế -
xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao dân trí …
- Đặc điểm địa hình và khí hậu :
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên chế độ nhiệt lượng, lượng mưa,
độ ẩm trung bình tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lương thực và
thực phẩm cung cấp cho tỉnh Hưng Yên và các vùng phụ cận. Khí hậu, thời
tiết rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Qua quan sát nhiều năm thấy rằng
chế độ nhiệt trên địa bàn và nhiệt độ trung bình hàng năm thường đạt 23 độ C
rất thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng đặc biệt của Phù Cừ.
Độ ẩm trung bình trong năm thường rất cao so với các vùng khác, có
những thời điểm cao nhất đạt 90%. Số liệu thống kê nhiều năm cho thấy độ
ẩm thường dao động từ 75% - 90%.
Chế độ gió bão: Là huyện nằm sau trong đất liền như nhiều huyện khác
của tỉnh và của vùng đồng bằng Sông Hồng nên chế độ gió, bão cũng giống
như nhiều huyện trong tỉnh Hưng Yên. Mùa hè toàn vùng chịu ảnh hưởng của
gió Đông – Nam mát mẻ, còn mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc lạnh buốt làm ảnh hưởng nhiều đến trồng trọt và chăn nuôi.
* Về chế độ thuỷ văn và khả năng cung cấp nước :
Trên địa bàn huyện Phù Cừ hiện có một hệ thống sông ngòi dày đặc toả
rộng trên đồng đất các xã của địa phương. Đời này sang đời khác hệ thống
sông này cung cấp cho Phù Cừ nhiều thuận lợi trong giao lưu, cấp nước cho
canh tác nông nghiệp, trong chống úng, chống hạn.
17
Phía bắc có sông Kẻ Sặt (sông tây Kẻ Sặt) bắt đầu chảy vào thôn Tần
Tranh, xã Minh Tân đến thông Viên Quang xã Quang Hưng tạo thành ngã ba
sông sau khi hợp lưu với sông Cửu An từ địa phận xã Phan Sào Nam quan
Minh Tân sang Quang Hưng rồi chạy dọc theo sườn đông của huyện đến Tam
Đa, dài trên 10 km.Sông Kẻ Sặt là đường ranh giới tự nhiên giữa Phù Cừ và
huyện Thanh Miện Tỉnh Hải Dương.
Dọc theo sườn phía Nam của huyện là sông Luộc, bắt đầu chảy từ địa
phận thôn Võng Phan xã Tống Trân đến xã Nguyên Hoà dài trên 11 km tạo
thành đường ranh giới tự nhiên giữa huyện Phù Cừ với huyện Hưng Hà tỉnh
Thái Bình.
Cùng với lịch sử chống ngoại xâm của các thế hệ đi trước, cha ông ta
đã để lại trên đất Phù Cừ 45 ngôi chùa thờ phật và các đậu thờ trong
vùng.Trong số 45 ngôi chù có 5 Đậu thờ lớn nhất là : Đậu thờ Từa ( xã Trần
Cao ), Đậu Trà Bồ ( xã Phan Sào Nam ), Đậu Tam Đa (xã Tam Đa ), Đậu
Quang Xá ( xã Quang Hưng ) và đậu Hà Linh ( xã Đình Cao ). Tất các các
Đậu thờ đều thờ Ngọc Hoàng, thờ Trời và là hiện thân của tư tưởng triết học
cổ đại về vũ trụ quan từ xã xưa có quan hệ chặt chẽ với cư dân vùng trồng lúa
nước.
Xét về mặt ý nghĩa du lịch và ý nghĩa nghiên cứu lịch sử, nổi trội nhất
trong các chùa nêu trên là một số chùa đã có công lao to lớn cùng nhân dân
địa phương Phù Cừ trong công cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại
xâm, giữ nước của dân tộc như:
- Giác Tam Quan ở chùa Đình Cao là nơi tuyên bố thành lập Uỷ ban nhân
dân cách mạng Lâm thời Huyện năm 1945.
- Chùa Nại Khê : Đã từng là nơi tổ chức học tập quân sự, chính trị và in ấn
tài liệu cho Việt Minh.
19
- Chùa Sậy xã Minh Tân đã che chở, nuôi dưỡng và đảm bảo hoạt động an
toàn của Công binh xưởng quân khu III trong những năm đầu của cuộc kháng
chiến
Do ý nghĩa lịch sử quan trọng như vậy mà đến năm 1999, trên địa bàn
huyện Phù Cừ đã có 6 di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ Văn hoá Thông tin
xếp hạng.
Phần lớn các di tích lịch sử này đã được nhân dân trong vùng bảo quản tốt,
tôn tạo từng phần hay toàn phần và trở thành những điểm du lịch văn hoá hấp
dẫn du khách trong tương lao, đặc biệt khi các tuyến đường bộ từ Hà Nội đi
Phù Cừ ngày càng được nâng cấp và hoàn thiện.
- Đền thờ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên, thôn An cầu ( xã Tống Trân)
- Đền Lê Xá thuộc thôn An Cầu (xã Tống Trâb ) thờ bà Dương Thị Ngọc
Thư là Hoàng Hậu của vua Ngô Quyền đã cùng nhân dân các địa phương dẹp
Cơ cấu tổ chức các phòng chuyên môn của UBND huyện Phù Cừ -
tỉnh Hưng Yên :
- Văn phòng HĐND và UBND huyện
- Phòng Nội vụ - Lao động – Thương binh và xã hội
- Phòng Tài chính và kế hoạch
- Phòng Tư pháp
- Thanh tra huyện
- Phòng Tài nguyên và Môi trường
- Phòng Giáo dục
- Phòng Y tế
- Phòng Văn hóa – Thông tin - Thể thao
- Uỷ ban Dân số , Gia đình và Trẻ em
- Phòng Kinh tế
- Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Phòng Hạ tầng kinh tế
21
Sơ đồ tổ chức của UBND huyện Phù Cừ - Tỉnh Hưng Yên
2
II. Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn
2001- 2005 và năm 2006.
1. Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của Huyện Phù Cừ trong giai đoạn 2001- 2005 và năm 2006.
1.1. Những thành tựu của quá trình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2001-
2005 và năm 2006 của Huyện Phù Cừ:
Về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Về tăng trưởng kinh tế :
Qua thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 nền kinh tế của Huyện Phù
Cừ đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khá cao là 10,8%/năm đã đạt
được kế hoạch đề ra khi xây dựng kế hoạch 5 năm 2001 – 2005. Đến năm
2006 tốc độ tăng trưởng của huyện đã đạt 13,35%, điều này cho thấy tốc độ
tạo tiền đề cho việc công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thông nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
Cùng với sản xuất hàng hoá gắn với thị trường huyện Phù Cừ cũng đã
tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đổi mới cơ cấu
mùa vụ, cơ cấu giống, đưa giống lúa có năng suất, chất lượng cao vào sản
xuất; tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật quy trình chăm sóc, phòng trừ sâu
bệnh,…; tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi vào sản xuất bước
đầu đã có chuyển biến tích cực. Giá trị thu nhập trên ha canh tác năm 2001
đạt 32,1 triệu đồng/ha/năm đến năm 2005 đạt 35,2 triệu đồng/ha/năm và năm
2006 đạt 38 triệu đồng/ha/năm.
Do áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất mà năng xuất lúa qua các năm
của huyện Phù Cừ đều tăng: Năm 2001 là 115,82 tạ/ha/năm lên 123,9
23
tạ/ha/năm vào năm 2005. Cây rau màu, củ, quả có giá trị kinh tế cao được đưa
vào trồng với tỷ lệ tăng cao, diện tích trồng phát triển như cây vụ Đông từ
25% diện tích cấy lúa năm 2001 lên 41,16% diện tích cấy lúa năm 2005.
Kinh tế trang trại ở Phù Cừ phát triển mạnh mẽ ở các hộ gia đình cho
hiệu quả kinh tế cao nhờ áp dụng mô hình VAC kết hợp theo phương pháp
công nghiệp và bán công nghiệp. Tính đến năm 2005 toàn huyện có trên 100
trang trại chuyên canh và tổng hợp đạt tiêu chí của tỉnh Hưng Yên và Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
* Ngành Chăn nuôi và Thuỷ sản :
Cùng với sự phát triển của trồng trọt, ngành chăn nuôi và thuỷ sản của
huyện Phù Cừ cũng được đẩy mạnh, phát triển theo hướng nâng cao chất
lượng và số lượng các loại giống cho năng suất, chất lượng cao như cá rô phi
đơn tính, chép lai, trê lai, v.v…
Do được đẩy mạnh và phát triển mà giá trị sản xuất hàng năm của
huyện Phù Cừ tăng cao: năm 2001 đạt 83,452 tỷ đồng đến năm 2005 đạt
135,54 tỷ đồng và đạt 267,29 tỷ đồng vào năm 2006. Bình quân trong 5 năm
2001 – 2005 chiếm 41,25% tổng giá trị ngành nông nghiệp
trung tuyên truyền, khuyến cáo, hướng dẫn để các xã, thị trấn và các hộ nông
dân biết, có kế hoạch, biện pháp phòng trừ, nên trên địa bàn huyện không có
bệnh, dịch lớn gây hại trên diện rộng.
Huyện đã tập trung chỉ đạo,tổ chức thực hiện tốt công tác phòng, chống
dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc. Theo dõi sát diễn biến
tình hình bệnh dịch, quản lý chặt chẽ các ổ dịch cũ, tăng cường công tác kiểm
tra, kiểm soát giết mổ, buôn bán, vận chuyển gia súc, gia cầm.
+ Về ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Xây dựng:
Qua thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 Công nghiệp – TTCN –
Xây dựng của huyện Phù Cừ tiếp tục được đầu tư phát triển. Giá trị sản xuất
25