Các giải pháp để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất có quy mô lớn,
chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân. Trong đó
gaio thông đường bộ chiếm phần chủ yếu và luôn được tập trung đầu tư
phát triển hằng năm. Việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
tại nước ta nói chung và tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói riêng
được nhận định là phải đi trước một bước, tạo động lực phát triển cho
những ngành sản xuất khác và nâng cao khả năng thu hút đầu tư. Nếu
không có chiến lược phát triển đúng đắn, đây sẽ là nhân tố tạo nên cản
trở, kìm hãm năng suất lao động xã hội cũng như sự phát triển kinh tế. Từ
quan điểm chiến lược này, trong những năm qua hạ tầng giao thông
đường bộ của vùng luôn được sự quan tâm đầu tư phát triển. Tuy nhiên,
dù đã được tập trung đầu tư phát triển song thực trạng kết cấu hạ tầng
giao thông đường bộ vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của
vùng. Với tình hình chung là nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn
do thiếu vốn, các nguồn lực còn hạn chế thì đầu tư như thế nào vào xây
dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ để đảm bảo hiệu quả nền kinh tế
và để tương xứng với nhu cầu phát triển của các đô thị trong vùng là một
vấn đề bức xúc cần thiết phải nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu để hiểu
rõ thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ khu vực đô thị vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là thực sự cần
thiết và cấp bách. Do đó tôi đã lựa chon đề tài: “Phát triển kết cấu hạ
tầng giao thông đường bộ của khu vực đô thị vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ đến năm 2020”.
Mục đích của tôi trong bài chuyên đề này: làm rõ thêm lý luận cơ
bản về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; đánh giá thực trạng
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (KCHT GTĐB) của khu vực đô thị
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐ BB), chỉ ra những thành tựu, hạn

thống nhất.
- Theo nghĩa rộng, kết cấu hạ tầng được hiểu là tổng thể các công
trình và nội dung hoạt động có chức năng đảm bảo những điều kiện “bên
ngoài” cho khu vực sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Tuy nhiên kết cấu
hạ tầng theo nghĩa rộng không đồng nghĩa với phạm trù “môi trường kinh
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
tế” ở chỗ kết cấu hạ tầng tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khác nhau
phát triển.
Như vậy, kết cấu hạ tầng là tổng hợp các công trình vật chất - kỹ
thuật có chức năng phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống nhân dân,
được bố trí trên một phạm vi nhất định.
1.2. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Kết cấu giao thông vận tải theo nghĩa chung nhất là một bộ phận
cấu thành kết cấu hạ tầng kỹ thuật, bao gồm một hệ thống các công trình
kiến trúc và các phương tiện vật chất - kỹ thuật mang tính nền móng cho
sự phát triển ngành GTVT, có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất và
sinh hoạt của xã hội bao gồm: công trình và phương tiện của mạng lưới
giao thông đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, giao thông
nông thôn và giao thông đô thị.
Như vậy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ chính là một bộ phận
cấu thành nên kết cấu hạ tầng giao thông vận tải. Tại chương 3 của Luật
giao thông đường bộ quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đã
nêu rõ: điều 37 : “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm công
trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe và hành lang an toàn đường bộ. Mạng
lưới đường bộ gồm quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô
thị và đường chuên dùng. Đường bộ được đặt tên hoặc số hiệu và phân
thành các cấp đường.”
2. Hệ thống giao thông đường bộ - một bộ phận cần thiết của hệ thống
giao thông.

Trong nền kinh tế quốc dân, vận tải là một ngành kinh tế đặc biệt và
quan trọng. Nó có mục đích vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Trong quá trình sản xuất, nó không làm tăng giá trị sử dụng của hàng hóa,
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
tuy nhiên tầm quan trọng của nó dễ nhận thấy trong mọi ngành kinh tế.
Nó cung cấp nguyên liêu, nhiên liệu cho mọi nhà máy; nó vận chuyển vật
liệu xây dựng, máy móc để xậy dựng các nhà máy. Trong quá trình sản
xuất, giao thông đường bộ cũng đảm nhiệm chức năng vận chuyển từ
phân xưởng tới phân xưởng và kho bãi. Ngày nay khi quá trình toàn cầu
hóa đang diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu liên kết sản xuất giữa các quốc gia
ngày càng tăng thì quá trình vận tải càng trở nên quan trọng, đặc biệt là
vận tải đường bộ. Cuối cùng, khâu phân phối tới tay người tiêu dùng cũng
lại phải nhờ tới vận tải đường bộ là chủ yếu. Có thể thấy rằng giao thông
đường bộ là một bộ phận tất yếu quan trọng bởi những ưu điểm của nó so
với các hình thức vận tải khác, cụ thể như:
+ Giao thông đường bộ có tính cơ động cao, có thể vận tải trực
tiếp không cần qua các phương tiện vận tải trung gian.
+ Đường bộ đòi hỏi đầu tư ít vốn hơn đường sắt, có thể đi được
đến những nơi địa hình hiểm trở.
+ Tốc độ vận tải khá lớn, nhanh hơn đường thủy, tương đương
với đường sắt, về cự ly ngắn có thể cạnh tranh với hàng không.
+ Cước phí vận chuyển trên đường bộ rẻ hơn nhiều so với hàng
không nên lượng hành khách và hàng hóa thường chiếm 80 - 90% về khối
lượng hàng và 59 - 70% về khối lượng vận chuyển. Ở nước ta, con số này
là 50% và gần 90%.
3. Đặc điểm của hệ thống GTĐB
3.1. Tính hệ thống, đồng bộ
Tính hệ thống, tính đồng bộ là đặc trưng cơ bản của nhiều nhánh
khác nhau trong quan hệ tổng thể. Tính hệ thống, tính đồng bộ thể hiện ở

nước... Vì thế, hệ thống kết cấu giao thông đường bộ mang tính chất vùng,
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
tính địa phương rõ nét. Đặc điểm này đặt ra trong quy hoạch phân bố hệ
thống giao thông đường bộ, trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào...
vừa phải đặt trong điều kiện tình hình chung đất nước, trong điều kiện tự
nhiên cũng như điều kiện kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ.
3.4. Mang tính chất dịch vụ cộng đồng cao
Các sản phẩm của ngành đều là các dịch vụ, phục vụ trực tiếp nhu
cầu đi lại, sản xuất và đời sống của người dân trên phạm vi lãnh thổ cũng
như ngoài lãnh thổ. Các sản phẩm đó không phải là dạng vật chất cụ thể
mà nó được đo bằng khối lượng hang hóa vận chuyển, lưu lượng hành
khách hoặc bằng mức độ thỏa mãn của khách hàng nhận được dịch vụ.
Đặc điểm này có được xuất phát từ tác dụng của hệ thống giao thông
đường bộ dùng để vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách.
Dịch vụ giao thông đường bộ là những hàng hóa công cộng, phục
vụ vì mục đích chung của nhiều ngành, nhiều người cũng như toàn xã hội
nói chung. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa mục
địch kinh doanh với mục đích phục vụ cộng đồng mang tích chất phúc lợi
xã hội. Đồng thời xác định hệ thống các chủ thể tham gia sử dụng, hệ
thống các chính sách và công cụ để điều hòa mối quan hệ giữa hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước
đang phát triển, nơi có thu nhập của dân cư thấp, nguồn thu Ngân sách
của Nhà nước hạn hẹp, không đủ để có thể đáp ứng hết nhu cầu đầu tư
phát triển kinh tế nói chung và của cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
4. Vai trò của hệ thống giao thông đường bộ với phát triển kinh tế -
xã hội
4.1. Đường bộ đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội
Mạng lưới giao thông đường bộ góp phần quan trọng trong việc đáp
ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển, trao đổi hàng hóa của người dân giữa các

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
khác mà không có hoặc chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Còn trên phạm vi quốc gia thì đường bộ không chỉ
là phương tiện mà còn là một yếu tố quan trọng để thu hút nguồn lực đầu
tư từ bên ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài luôn căn cứ vào sự phát triển
kết cấu hạ tầng trong đó có hạ tầng giao thông vận tải để đi đến quyết
định đầu tư cuối cùng. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
hoàn chỉnh, thuận tiện sẽ tạo nên sức hấp dẫn cao đối với nhà đầu tư nước
ngoài.
II. Sự cần thiết phải phát triển KCHTGTĐB của khu vực đô
thị ở Việt Nam
Xây dựng các công trình KCHT GTĐB là một ngành sản xuất với
mục đích làm tiền đề cho phát triển các ngành kinh tế xã hội khác. Hiệu
quả của nó chính là sự thúc đẩy và tạo tiềm năng phát triển, thu hút vốn
đầu tư từ bên ngoài, tối ưu hóa các nguồn lực ở địa phương và cuối cùng
là mở rộng quy mô và năng lực của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một khu
vực nhất định. Có thể thấy được phần nào vai trò của việc phát triển
KCHT qua kết quả đánh giá của Ngân hàng thế giới: nếu đầu tư cho
KCHT tăng thêm 1% thì GDP cũng tăng thêm 1% và bình quân hằng năm
một người dân nhận được 0,3% nước sạch; 0,8% mặt đường trải nhựa;
1,5% năng lượng và 1,7% về thông tin liên lạc. Trong thời kỳ suy giảm,
việc đầu tư mạnh vào KCHT kỹ thuật là công cụ, chính sách để kích thích
sự phục hồi nền kinh tế. Do đó việc phát triển và hoàn thiện mạng lưới
đường bộ luôn là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển bền
vững của đất nước.
Phát triển KCHTGTĐB là loại hình đầu tư mang tính xã hội hóa
cao, lợi ích có được là cho cả nền kinh tế - xã hội nên ngoài mục đích thu
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
lợi nhuận, nhà đầu tư chủ yếu muốn đạt lợi ích lâu dài mà thông qua hoạt

triển kinh tế hội nhập. Một lợi ích khác mà thông qua phát triển KCHT
GTĐB chúng ta có thể nhận được là việc cải thiện chất lượng môi trường.
Những dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đều
được tính tới yếu tố môi trường.
Có thể nói, trong những năm gần đây, ngành GTVT đã được nhà
nước ưu tiên tăng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách để xây dựng kết cấu hạ
tầng giao thông (bình quân khoảng 15% mỗi năm). Đối với nước ta, khi
bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là khoảng 10 trở lại đây,
việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải nói chung và kết cấu hạ
tầng giao thông đường bộ nói riêng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước. Sự phát triển
nhanh và ngày càng nâng cao về chất lượng kết cấu hạ tầng GTĐB đã
thỏa mãn tốt hơn nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của xã hội.
Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tầm quan trọng của việc
triển KCHT GTĐB khu vực đô thị được thể hiện trên các phương diện
sau:
1. Về Kinh tế
1.1. Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là một trong những
yếu tố tác động mạnh mẽ tới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế xã
hội trong vùng, thúc đẩy giao thương với các vùng khác và hội nhập quốc
tế của vùng .
Nếu đầu tư phát triển một hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ đồng bộ và hiện đại sẽ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa
các đô thị cũng như các tỉnh nói chung trong vùng, giảm sự chênh lệch về
dân trí giữa các khu vực dân cư đó. Thực tế cho thấy đô thị nào có cơ sở
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
hạ tầng giao thông đường bộ được đầu tư phát triển thì có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cao hơn, tạo ra sự mất cân đối trong vùng. Tuy nhiên
sự mất cân đối đó là không đáng kể trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc

khu vực lân cận cũng như toàn vùng nói chung, tạo nên động lực chung
cho sự phát triển của vùng.
1.2. Phát triển giao thông đường bộ là cơ sở và động lực để phát triển các
ngành kinh tế khác .
Có thể nói rằng hạ tầng giao thông đường bộ là một mắt xích rất
quan trọng trong hệ thống nền kinh tế. Việc tăng cường phát triển giao
thông đường bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế có liên
quan. Có thể minh họa điều này một cách đơn giản như sau:
- Khi xây mới hay nâng cấp sửa chữa hệ thống giao thông đường
bộ thì phải cần các yếu tố đầu vào như: máy móc, sắt thép, xi măng, đá,
nhựa đường, sức lao động... Những yếu tố này lại đặt ra cơ hội cho các
ngành chế tạo máy, luyện kim, công nghiệp xi măng, giáo dục... phát triển
để đáp ứng. Như vậy việc phát triển hệ thống giao thông đường bộ đã tạo
điều kiện cho một số ngành phát triển. Đến lượt mình, các ngành đó lại
tạo ra cơ hội cho các ngành kinh tế khác cung cấp các nguyên liệu cho
ngành này phát triển. Quá trình đó diễn ra theo dây truyền, nó sẽ kéo theo
một loạt các ngành kinh tế phát triển.
Như vậy, sự phát triển của hạ tầng giao thông đường bộ đã kéo theo
hàng loạt các ngành kinh tế khác. Các ngành kinh tế này có mối quan hệ
phụ thuộc nhau, ngành này phát triển sẽ thúc đẩy ngành khác và ngược
lại. Giữa các ngành kinh tế đó là mối quan hệ biện chứng, tạo nên mạng
lưới các mắt xích đan xen, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, là tiền đề và
động lực cho nhau cùng phát triển.
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
1.3. Hạ tầng giao thông đường bộ phát triển sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mục đích của các doanh nghiệp luôn là tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy
trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp luôn tìm cách để tối thiểu hóa chi phí. Đối với nhiều doanh nghiệp

thông tăng của xã hội, áp lực về tài chính thì rất lớn, sức ép về môi trường
cũng không nhỏ, áp lực về tài chính thì rất lớn, sức ép về môi trường cũng
không nhỏ. Do đó ngành GTVT không tồn tại riêng lẻ mà cấu thành bởi nhu
cầu xã hội, chính sách giao thông vận tải cũng không tồn tại cho bản thân
ngành mà phục vục các mục tiêu xã hội như phát triển kinh tế, xã hội và bảo
vệ môi trường. Việc nhận diện các mục tiêu là vấn đề cốt lõi mà từ đó đề xuất
các chính sách, xây dựng chiến lược, quy hoạch và quản lý hệ thống giao
thông vận tải. Trong thời gian qua, ngành giao thông vận tải đã tổ chức thực
hiện một loạt quy định mới về trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong quản
lý, tổ chức xây dựng và sửa chữa đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng
cũng như khắc phục những khâu yếu kém trong quá trình phát triển giao
thong vận tải. Ngành cũng đã tiến hành thanh tra, xử lý nghiêm túc những sai
phạm dẫn đến chất lượng yếu kém của các công trình kết cấu giao thông
đường bộ. Cũng nằm trong mục tiêu phát triển bền vững thì trong thời gian
qua, hầu hết các công trình giao thong đường bộ đều được thực hiện đánh giá
tác động môi trường và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn bảo vệ môi
trường.
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
2. Về các vấn đề xã hội
2.1. Giao thông đường bộ giải quyết việc làm cho nhiều lao động dư thừa,
góp phần vào công nghiệp hóa, đô thị hóa
Đồng thời với sự tăng trưởng kinh tế, ngành công nghiệp đã phát
triển mạnh mẽ dẫn tới tình trạng đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Hiện
tượng di dân ra các đô thị làm cho các đô thị ngày càng phình ra. Nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng di dân ra đô thị là do lao động ở nông thôn
thiếu việc làm, thu nhập thấp. Để giải quyết được tình trạng này thị một
giải pháp quan trọng đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ. Cụ thể cầ tăng cường phát triển các trục giao thông quan trọng
trong vùng và các trục giao thông nối liền các vùng kinh tế. Dọc theo các

trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị, đặc biệt là tại Thủ đô Hà Nội. Công tác
an toàn giao thông với việc thực hiện mục tiêu "3 giảm" - giảm số vụ tai nạn,
giảm số người chết và giảm số người bị thương sẽ không thể thực hiện thành
công nếu hiện trạng đường bộ không đựơc cải thiện. Những vụ tai nạn giao
thông xảy ra ngoài những nguyên nhân như ý thức người tham gia giao thông
kém, thói quen điều khiển phương tiện không tuân thủ quy định an toàn giao
thông thì một yếu tố quan trọng là hệ thống kết cấu hạ tầng giao tông đường
bộ còn kém chất lượng, không bảo dưỡng bảo trì thường xuyên, và điểm mấu
chốt là chưa phát triển kịp với tốc độ phát triển của phương tiện vận tải đường
bộ.
Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ còn giải quyết được vấn
đề môi trường giao thông, hiện là vấn đề bức xúc của mọi người dân. Khó
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
thải, bụi và tiếng ồn giao thông vận tải đường bộ đã vượt quá chỉ số cho phép
tại nhiều đô thị. Chất lượng các phương tiện giao thông đường bộ thấp lại kết
hợp cơ sở hạ tầng chưa phát triển đã tạo nên sự ô nhiễm cao. Dân cư sống tập
trung hai bên đường, mặt phố với mật độ cao càng làm tăng mức độ ảnh
hưởng đến môi trường giao thông. Hiện tượng ô nhiễm không khí thường
xuyên xảy ra trong hệ thống giao thông có chất lượng kém và kết cấu hạ tầng
cũng như hệ thống thiết bị giao thông đường bộ chưa đầy đủ. Do vậy, một
giải pháp bảo vệ môi trường giao thông bên cạnh những giải pháp về kỹ thuật,
chính sách, luật lệ hay phát triển giao thông công cộng đó là phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đường bộ bền vững. Một mạng lưới giao thông đường bộ
có quy hoạch hoàn chỉnh về tiêu chuẩn kỹ thuật, về yếu tố kinh tế - xã hội sẽ
giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường giao thông đường bộ. Môi
trường giao thông tại các đô thị sẽ thoát khỏi tình trạng quá tải và xuống cấp.
3. Nhu cầu CSHT giao thông đường bộ ngày càng tăng
Nhìn lại 20 năm đổi mới, đất nước ta đã có những thay đổi vô cùng to
lớn. Là một trong hai vùng kinh tế trọng điểm, đóng vai trò đầu tàu của cả

vận chuyển hàng hóa của người dân cũng ngày càng tăng, tạo sức ép lên hệ
thống giao thông nói chung và giao thông đường bộ nói riêng. Bên cạnh đó,
sự phát triển quá nhanh của các phương tiện giao thông và sự quản lý lỏng lẻo
của các cơ quan chức năng, trong khi nguồn lực cho việc khôi phục, nâng cấp
hệ thống giao thông đường bộ còn chưa thể đáp ứng đầy đủ những yêu cầu
đó. Kết quả là tình trạng xuống cấp nghiêm trọng làm giảm hiệu quả vận
chuyển hàng hóa và hành khách. Trong khi đó, tiến độ triển khai thực hiện
các dự án nâng cấp và xây mới các công trình hạ tầng giao thông đường bộ lại
diễn ra rất chậm. Để tạm thời khắc phục tình trạng này, các cơ quan quản lý
lại không có biện pháp triệt để mà lựa chọn phương án sửa chữa "chắp vá"
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
gây lãng phí, thiếu hiệu quả. Và hệ quả tất yếu là các công trình hạ tầng giao
thông đường bộ vẫn tiếp tục xuống cấp theo từng ngành, chi phí cải tạo hằng
năm theo đó cũng tăng.
Sự yếu kém của hạ tầng giao thông đường bộ của vùng còn thể hiện
ngay trong chính tổ chức mạng lưới hiện nay. Lịch sử phát triển đã mang lại
cho vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ một mạng lưới giao thông khá hoàn
chỉnh, tuy nhiên mạng lưới này lại đang bộc lộ những hạn chế của nó dưới áp
lực của tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh hiện nay. Trên mạng lưới, đã xuất
hiện nhiều tuyến, nhiều nút giao thông kém hiệu quả, việc cải tạo và nâng cấp
là không khả thi, cần phải được xây dựng thay thế cho tương xứng với vai trò
quan trọng của nó. Bên cạnh đó, do quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh,
mạng lưới giao thông đường bộ của vùng đang trở nên lỗi thời cả về quy mô
và chất lượng. Mức độ bao phủ của mạng lưới giao thông còn rất chậm so với
quá trình đô thị hóa, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại trong các đô thị cũng
như giữa các đô thị với nhau.
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
Chương II

- Vùng là trung tâm chính trị, văn hoá của cả nước. Là trung tâm giao
lưu, dịch vụ, thương mại, du lịch của các tỉnh phía Bắc. Vùng là đầu mối
giao thông của cả nước và ra nước ngoài.
- Là nơi cung cấp các tiến bộ khoa học và công nghệ cho các vùng
khác, là nơi đào tạo và cung cấp cán bộ cho cả nước.
2. Các mối quan hệ liên vùng
- Đồng bằng sông Hồng có vị trí trung tâm của sự giao lưu giữa vùng
Đông Bắc với vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung. Do
vị trí tự nhiên, Đồng bằng sông Hồng trở thành nơi ra biển của các tỉnh
phía Bắc và so điều kiện phát triển hoạt động liên vận quốc tế.
Các con sông lớn của Đồng bằng sông Hồng đều bắt nguồn từ vùng
núi phía Bắc, rồi đổ ra biển Đông. Mọi tác động lên môi trường, như chặt
phá rừng, rửa trôi đất ở các tỉnh dầu nguồn, đều gây ra ảnh hưởng và tác
động lên Đồng bằng sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng rất mạnh của biển Đông và ảnh
hưởng của bão lụt về mùa mưa. Về mùa cạn, độ mặn từ biển xâm nhập
sâu vào đất liền ảnh hưởng đến nước sông và các hoạt động sản xuất của
vùng ven biển. Dòng chảy ngược khi triều lên mang theo nước mặn vào
sâu trong đất liền, trên sông Hồng là 20 km, trên sông Thái Bình là 40 km.
Do tình hình xâm thực trên lưu vực khá mạnh, nên sông Hồng có
lượng cát bùn lớn nhất trong các sông ở nước ta. Hàng năm lượng cát bùn
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Ngô Thắng Lợi
góp phần lấn ra biển hàng trăm hecta đất mới. Lượng cát bùn này làm cho
nhiều cửa sông và luồng lạch bị bồi lắng và thường xuyên phải nạo vét.
- Các thành phố và khu công nghiệp ngày càng phát triển làm cho
nước sông Hồng đang bị ô nhiễm cục bộ và có nguy cơ bị ô nhiễm trên
toàn tuyến.
- Do mật độ dân số của Đồng bằng sông Hồng lớn, cho nên một số
dân vùng Đồng bằng sông Hồng di chuyển sang các vùng khác sinh sống.

lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và sườn núi Đông Bắc với 3 đỉnh là thành
phố Hà Nội, Hải Phòng và Hạ Long, có diện tích tự nhiên 10912 km2,
chiếm 3,3% diện tích tự nhiên cả nước; có Hà Nội - thủ đô của cả nước -
là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật của nước ta;
Có sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi cùng với cụm cảng Hải Phòng
- Cái Lân là cửa mở vào - ra của toàn vùng Bắc Bộ và có thể của cả khu
vực Tây Nam Trung Quốc. Tuyến đường 18 và đường 5 là hai trục đường
xương sống cho toàn Bắc Bộ. Nằm gần một trong những khu vực phát
triển năng động nhất của thời gian, những năm gần đây mối quan hệ giao
lưu hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá của vùng đã được mở rộng nhanh
chóng. Nằm gần các nguồn tài nguyên khoáng sản (quặng sắt, quặng kim
loại màu,...), năng lượng (thủy, nhiệt điện, than, dự kiến đến năm 2010,
sản lượng điện của Bắc Bộ chiếm khoảng 60% so với cả nước), nông -
lâm - thuỷ sản (lúa gạo, chè, cây ăn quả, thuốc lá, lạc, ..., trâu bò, lợn, cá,
gỗ, ...) và nguồn lao động dồi dào của Bắc Bộ. Đây cũng là khu vực sát
cạnh Vịnh Bắc Bộ xung yếu về quốc phòng.
- Có lịch sử phát triển công nghiệp sớm nhất ở nước ta. Đây là địa bàn
tập trung nhiều cơ sở công nghiệp mang ý nghĩa cả nước, đặc biệt là năng
25

Trích đoạn Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển mạng lưới giao thông đường bộ đến năm 2020. Quy hoạch mạng lưới giao thông phải phù hợp với quy hoạch các đô thị Xác định khâu đột phá cho phát triển hệ thống giao thông đô thị Về huy động vốn Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status