Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển, kinh tế Yên Bái đã phát
triển và tăng trưởng với tỷ lệ khá cao và ổn định so với các tỉnh thuộc miền
núi phía Bắc (tốc độ tăng trưởng GDP/người từ 1986-2000 đạt 7.81%) cơ
cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được Yên Bái là tỉnh miền núi còn
gặp nhiều khó khăn, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, vẫn là tỉnh nghèo,
kinh tế hàng hoá chậm phát triển.
Văn Yên là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Yên Bái, với tốc độ
tăng trưởng và phát triển ngần như tương ứng với sự phát triển chung của
toàn tỉnh.
Bên cạnh đó Huyện Văn Yên vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Yên Bái,
khả năng tận dụng hết nguồn lực để phát triển kinh tế chưa phát huy được
tối đa. Đời sống của nhân dân còn nhiều hạn chế và thiếu thốn. Tình hình
trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân đáng quan tâm là do chúng
ta chưa xem xét đầy đủ đến một chiến lược phát triển toàn diện mà trong đó
kế hoạch 5 năm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng phát
triển kinh tế xã hội.
Xuất phát từ luận cứ trên cùng với thời gian thực tập ở phòng Tài
Chính – Kế hoạch của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, em đã tìm hiểu về
chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh từ 2001-2010 cũng như kế hoạch 5
năm 2006 -2010 của huyện Văn Yên.
Từ đó em lựa chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là:
“ Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái ”
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Do khả năng có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi những
thiếu xót và sai xót nhất định. Em kính mong các thầy cô và bạn đọc góp ý,

Vì vậy việc Nhà Nước can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế để
hạn chế khuyết tật là một yếu tố khách quan. Nhà Nước thường sử dụng
các công cụ để điều tiết thị trường đó là một trong những công cụ sau: luật
pháp các chính sách kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, kế hoạch phát triển kinh
tế – xã hội và huy động các lực lượng kinh tế của Nhà Nước.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong hệ thống những công cụ nói trên thì kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội có nhiệm vụ xác định được những mục tiêu cũng như các phương
hướng phát triển nền kinh tế và đưa ra những giải pháp để thực hiện được
các phương hướng và mục tiêu đó.
Dựa vào những định hướng về phát triển kinh tế xã hội mà nhà nước
đã sử dụng đồng bộ những công cụ khác nhau nhằm thực hiện và đạt được
những mục tiêu đã vạch ra, sao cho hiệu quả kinh tế phù hợp với điều kiện
của đất nước ta.
1. Khái niệm về kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý đối
với một đối tượng quản lý và phương thức tác động để đạt được các mục
tiêu đặt ra: làm gì? làm như thế nào? ai làm? khi nào?
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một trong những phương thức
quản lý của nhà nước bằng mục tiêu. Nó thể hiện ở việc chính phủ cần xác
định về các mục tiêu kinh tế – xã hội cần phải hướng đến một trong những
một thời kỳ nhất định (trong một năm, 5 năm) và cách thức để đạt được
những mục tiêu đó thông qua những chính sách, những biện pháp và định
hướng cụ thể .
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một trong nhiều công cụ
chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm tác động, hướng dẫn, kiểm soát
hoạt động của tư nhân để đảm bảo sự thống nhất của khu vực tư nhân với
các mục tiêu phát triển trong dài hạn. Nó thể hiện sự cần thiết của chính
phủ trong phải thiết lập các mối quan hệ giữa nhu cầu của Xã Hội với các

và linh hoạt thích hợp với điều kiện của thị trường. Điều đó có nghĩa là tuỳ
theo tình hình biến đổi của thị trường mà phải có kế hoạch thích ứng sao
cho phù hợp với yêu cầu của thị trường mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của
kế hoạch. Vì vậy cần đảm bảo theo yêu cầu của kế hoạch.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Kế hoạch chỉ mang tính định hướng, kế hoạch đưa ra một loạt các
phương hướng sẽ phải đạt được trong tương lai với những chỉ tiêu cụ thể.
Điều này có nghĩa là những biện pháp mệnh lệnh hành chính trực tiếp
không được sử dụng, mà chủ yếu sử dụng các biện pháp gián tiếp để cho
nền kinh tế đạt được mục tiêu mà kế hoạch đã đưa ra.
- Trong xây dựng kế hoạch thì coi việc xây dựng kế hoạch là việc hình
thành nên các kịch bản, từ đó xây dựng nên nhiều phương án ứng với điều
kiện cụ thể, mục đích cụ thể. Qua đó ta có thể đưa ra các giải pháp lựa chọn
phương án tối ưu. Mặt khác chỉ tiêu kế hoạch phải được xây dựng trong
một khoảng và phải tạo ra được các phương án thay thế khác nhau .
Trong việc triển khai thực hiện kế hoạch áp dụng nguyên tắc thay đổi
theo kiểu dựa vào mục tiêu theo dõi mục tiêu và điều khiển theo sự biến
động của bên ngoài. Để sao cho kế hoạch thực hiện một cách không cứng
nhắc. Thích hợp với thị trường tại điều kiện hiện tại.
Trong việc tổ chức hệ thống quản lý kế hoạch việc lựa chọn cán bộ kế
hoạch được giao quyền cho các đơn vị trực thuộc. Cần tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho cấp dưới phát huy hết khả năng của mình, để việc thực hiện kế
hoạch được diễn ra thuận lợi nhất.
II. VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH 5 NĂM TRONG PHÁT TRI ỂN KINH
TẾ XÃ HỘI.
Hệ thống Kinh Tế Quốc Dân xét theo thời gian gốm có:
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.
- Các Chương trình dự án.

những chính sách cụ thể để có thể thực hiện những mục tiêu đã đưa ra. Đây
được coi là bộ khung của kế hoạch để có thể dựa vào đó để xây dựng kế
hoạch ngắn hạn.
+ 5 năm là thời gian bắt đầu một nhiệm kỳ Đại Hội Đảng toàn quốc
mới, cùng với một nhiệm kỳ chính trị. ở đấy họ có thể rút ra được những
điều còn hạn chế chưa được thực hiêntrong kế hoạch 5 năm vừa qua, để
thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo cho hoàn chỉnh và đạt hiệu quả cao
hơn.
Kế hoạch 5 năm là kế hoạch cụ thể hoá chiến lược phát triển trong
dài hạn của nền kinh tế nhằm xác định những mục tiêu, định hướng, những
nhiệm vụ, các chương trình, các cân đối vĩ mô chủ yếu và các giải pháp
chính sách có giá trị hiện hành trong thời gian 5 năm.
Kế hoạch 5 năm được xác định trong thời gian đó để phù hợp với
một chu kỳ phát triển của nền kinh tế, trong một chu kỳ đó nó thể hiện
được bản chất của một bộ phận kinh tế nào đó. Trong thời gian 5 năm đó
không quá dài để khi phát hiện được hạn chế để có thể xử lý kịp thời.
Trong môi trường hiện tại tiến bộ phát triển khoa học hiện đại thì 5
năm là thời gian trung bình để hình thành các công trình, dự án cơ bản
trong hệ thống phát triển các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, để có thể
đưa vào sử dụng và đánh giá phát huy hiệu quả vốn đầu tư. Kế hoạch 5
năm là khoảng thời gian không dài để đánh giá và cho các chỉ tiêu kế hoạch
mang tính thực tiễn. Từ đó, chúng ta mới có thể xây dựng định hướng mới
cho kế hoạch trong 5 năm tới.
5 năm là khoảng thời gian đảm bảo cho tính định hướng, chính xác
và hoàn thiện. 5 năm là khoảng thời gian đủ để đánh giá một chương trình
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và dự án có thể mang lại hiệu quả hay không. Kế hoạch tạo ra các thay đổi
trong cơ cấu kin tế đồng thời thường xuyên duy trì tính cân đối của các yếu
tố và các lĩnh vực kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đến nay

nước ta cần coi trọng kế hoạch 5 năm và lấy kế hoạch 5 năm là hình thức
quản lý chủ yếu để định hướng phát triển theo kế hoạch 5 năm làm lòng
cốt.
Một trong những chỉ tiêu để hoàn thành kế hoạch 5 năm là kế hoạch
hàng năm.
Kế hoạch hàng năm:
Kế hoạch hàng năm là một trong những công cụ triển khai cụ thể hoá
kế hoạch 5 năm. Nó phân đoạn 5 năm ra từng năm cụ thể để có thể hoàn
thành kế hoạch 5 năm một cách chắc chắn và bền vững.
Kế hoạch hàng năm nằm trong bộ khung của kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm và dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, các nghành, các địa phương sẽ dựa vào bản kế hoạch hàng năm để
xây dựng kế hoạch phát triển của các ngành và của địa phương.
Cũng có thể nói đây là kế hoạch để điều hành, quản lý những chỉ
tiêu, nó bao gồm cả việc thiết lập những cân đối lớn dựa trên cơ sở nghiên
cứu, dự báo những nhu cầu của thị trường và điều chỉnh một cách hợp lý
cho các kế hoạch tiếp theo.
Mặt khác kế hoạch hàng năm còn là công cụ để hoàn thiện kế hoạch
5 năm, có tính chất bổ xung dựa vào những vấn đề mới chưa có trong nội
dung của kế hoạch 5 năm, nó là sự bổ xung cần thiết để kế hoạch 5 năm trở
lên hoàn thiện.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
III. NỘI DUNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH 5
NĂM.
1. Nội dung kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm: Kế hoạch 5 năm là một sự cụ thể hoá các mục tiêu và
quy hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của đất nước. Nó thể
hiện bằng việc xác định các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh tế - xã hội. Xác định
các chính sách chủ yếu, các giải pháp cơ bản, các cân đối vĩ mô quan trọng

và khai thác nguồn nội lực bên ngoài.
Xác định mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của nền kinh tế. ở cấp
tổng thể nền kinh tế, cần xác định hệ thống mục tiêu kinh tế vĩ mô, bao
gồm một số mục tiêu cơ bản :
- Tăng trưởng kinh tế mà mục tiêu tổng quát là tốc độ gia tăng GDP,
theo đó là tốc độ gia tăng ngành công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, dịch
vụ.
- ổn định tài chính trong tỉnh, tăng khả năng và tiềm lực tài chính, xử
lý hài hoà quan hệ tích luỹ tiêu dùng tăng khả năng đầu tư phát triển kinh tế
xã hội.
- Tăng khả năng đối ngoại, xuất - nhập khẩu và thu hút nguồn vốn
đầu tư từ bên ngoài.
- Bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí, cải
thiện dân sinh và các mặt xã hội.
Xây dựng hệ thống các cân đối vĩ mô chủ yếu, bao gồm việc tính
toán và xác định các cân đối về tích luỹ tiêu dùng, cân đối ngân sách, cân
đối về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với việc huy động toàn bộ nguồn
lực phát triển trong nền kinh tế, cân đối về xuất - nhập khẩu, cân đối về cán
cân thanh toán, cân đối về năng lực sản xuất và nhu cầu các sản phẩm chủ
yếu.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xây dựng các chương trình phát triển, nhằm bảo đảm mục tiêu. Bao
gồm những nội dung sau đây:
- Mục tiêu của chương trình dự án.
- Phạm vi tác động của chương trình đến khả năng hoàn thành các
mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế, của địa phương của vùng.
- Các điều kiện cân đối để thực hiện các chương trình, bao gồm cả
các giải pháp và các cơ chế chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực trong
nước.

- Việc xác định quan điểm, mục tiêu phát triển việc định hướng cơ
cấu kinh tế - xã hội và các chính sách chủ yếu để huy động mọi nguồn lực,
mọi yếu tố cả bên trong và bên ngoài nhằm tạo ra những động lực phát
triển là nội dung cốt lõi của kế hoạch phát triển. Khi đã xác định được kế
hoạch thì việc phát triển kinh tế - xã hội sẽ có cơ sở vững chắc, tạo điều
kiện để biến kế hoạch thành hiện thực.
- Nội dung cơ bản của việc xác định kế hoạch 5 năm là các phương
án phát triển kinh tế vĩ mô dài hạn và trung hạn, trong đó có các chỉ tiêu cơ
bản như tốc độ tăng trưởng GDP của vùng được lập kế hoạch, phát triển xã
hội, định hướng kinh tế đối ngoại, ...
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế, hợp tác
đầu tư... đối với nền kinh tế cũng như các vị trí trọng điểm và các ngành
quan trọng.
Xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển
các vùng và các ngành kinh tế là xây dựng khung vĩ mô về xây dựng và tổ
chức không gian, nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cấp để chỉ
đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình và dự án
đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các dự án quy hoạch là những đề tài khoa học lớn, phối hợp sự cộng tác
nghiên cứu của các ngành, các bộ và các địa phương, nhằm phân tích đúng
thực trạng kinh tế - xã hội, các lợi thế của các ngành, các vùng dựa trên cơ
sở đó để đưa ra những phương hướng phát triển các ngành, các vùng và
phương hướng phát triển các ngành và vùng, và xác định những điều kiện
cần thiết để thực hiện các quy hoạch này.
Các giải pháp thực hiện quy hoạch không chỉ quan tâm tới nguồn và
hướng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất mà nó còn chú trọng đến nhân tố con
người và sự đảm bảo các chỉ tiêu xã hội.

Các chính sách phải là khuôn mẫu cho các đơn vị cấp dưới sử dụng
và thực hiện. Cần đảm bảo tính đầy đủ, đơn giản, cụ thể. Bảo đảm sự
thống nhất giữa các loại chính sách với nhau và tính ổn định của các loại
chính sách.
Kế hoạch kinh tế hàng năm bao hàm các chính sách linh hoạt, phù
hợp với những thay đổi ở trong và ngoài nước mà không dự kiến hết trong
khi xây dựng kế hoạch 5 năm. Kế hoạch bổ sung và thúc đẩy cho kế hoạch
5 năm thực hiện thành công.
Xây dựng các chương trình quốc gia và dự án phát triển.
Các chương trình quốc gia được tiến hành đồng thời với việc xây
dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm.
Chương trình quốc gia là tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải
pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ, môi trường, cơ
chế, chính sách để tổ chức thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác
định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Khi
xây dựng một chương trình quốc gia đòi hỏi phải xác định rõ các mục tiêu
của chương trình đối với sự phát triển của đất nước. Xác định rõ các giải
pháp cần thiết đảm bảo thực thi chương trình như giải pháp về vốn, phương
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thức vay và hoàn vốn, nguyên liệu, máy móc,... ; hiệu quả của chương trình
thông qua các chỉ tiêu về lợi ích kinh tế - xã hội đem lại, đối tuợng được
hưởng thụ kết quả của toàn bộ chương trình ... Các chương trình quốc gia
phải được Chính phủ xem xét và được Quốc hội thông qua trước khi vào
thực hiện.
Trong quá trình thực hiện chương trình, nếu cần thay đổi mục tiêu xã
hội và điều kiện cân đối, các cơ quan chức năng sẽ xem xét và điều chỉnh
trong thời gian xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm. Nếu các vấn đề
kinh tế - xã hội cụ thể từng khu vực, từng vùng thì có thể chuyển sang cho
các Bộ, Ngành địa phương để tập trung làm tốt các chương trình đã được

phân đoạn cố định (ví dụ: xây dựng kế hoạch 2001 - 2005, kế hoạch 2006 -
2010...).
Cách tính toán chỉ tiêu xây dựng và tính bình quân trên một năm của
cả thời kỳ hoặc tính chỉ tiêu cho các năm cuối.
- Ưu điểm:
Phương pháp này dễ tính toán vì muốn xây dựng kế hoạch cho 5 năm
tiếp theo thì lấy số liệu kế hoạch và thực tế của kỳ trước rồi nhân với hệ số
phát triển bình quân của các giai đoạn trước. Bên cạnh đó, là cũng dễ quản
lý, dễ theo dõi đánh giá hơn khi dựa vào các chỉ số bình quân khi thực hiện
kế hoạch.
- Nhược điểm:
Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp này được cho là duy ý
trí, cứng nhắc, mất đi tính linh hoạt và mềm dẻo của kế hoạch. Vì là chỉ
tiêu bình quân và được xác định trong khoảng thời gian dài (5 năm) nên có
nhiều tác động bên ngoài vào thực hiện kế hoạch (như khủng hoảng, lạm
phát, sự thay đổi của chính sách ...) mà ta khó có thể dự đoán trước được
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nên các chỉ tiêu đưa ra bị gò bó, khó điều chỉnh thay thế cho phù hợp với
thay đổi ngoại cảnh.
Phương pháp 2 : Kế hoạch 5 năm “Cuốn chiếu”.
Khoảng thời gian cố định là 5 năm nhưng thời gian cụ thể thì thay
đổi (luân chuyển sau mỗi một năm của thời kỳ 5 năm).
Cách tính toán chỉ tiêu - Xây dựng cụ thể các chỉ tiêu kế hoạch cho
một năm đầu. Dự tính, tính toán một số chỉ tiêu năm sau và dự báo một số
chỉ tiêu cho những năm còn lại.
Kế hoạch 5 năm điều chỉnh khi hoàn thành kế hoạch một năm đầu,
sau đó, chuyển mốc thời gian mới bằng cách thêm một năm.
+ Ưu điểm :
Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp này khắc phục được hạn

trung bình là 22 - 23
0
C; lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm; độ
ẩm trung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp.
Huyện Văn Yên có độ cao trung bình 70 m, nhiệt độ trung bình 23 – 23
0
C,
là vùng mưa phùn nhiều nhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực,
thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1. Tài nguyên đất.
Toàn huyện có diện tích là 1.363 km2 với hơn 22.000 dân, mật độ dân
số trung bình là 19.000 người/ km2. Trong đó đất nông nghiệp 137 km2,
chiếm 10,07%; đất lâm nghiệp 527 km2, chiếm 41%; đất chuyên dùng 52,9
km2, chiếm 4,25%; đất ở 6 km2, chiếm 0,55% và đất chưa sử dụng 535
km2, chiếm 44,13%. Trong đó số đất chưa sử dụng, đất có khả năng nông
nghiệp là 135 km2; đất có khả năng lâm nghiệp là 213 km2. Đất của Huyện
Văn Yên chủ yếu là đất xám (chiếm 82,36%), còn lại là đất mùn alít, đất
phù sa, đất glây, đất đỏ…
2.2. Tài nguyên rừng
Năm 2005, toàn tỉnh có 1.8680 ha rừng tự nhiên, chiếm 27,14% diện
tích đất tự nhiên toàn tỉnh, tăng 4,5% so với năm 2000 và tăng 3,5% so với
năm 2003; diện tích rừng trồng 9.430 ha bằng 13,86% diện tích đất tự
nhiên. Tỷ lệ che phủ đạt 41%. Tổng trữ lượng gỗ các loại theo số liệu điều
tra năm 1998 có 6,2 triệu m
3
, 5,133 triệu cây tre, vầu, nứa và các loại lâm
sản khác, trữ lượng gỗ rừng trồng còn 0,9 triệu m

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH nên từng
bước chuyển dịch cơ cấu giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công
nghiệp, thương mại - dịch vụ trong 5 năm 2001- 2005 cơ cấu kinh tế của
huyện như sau:
Cơ cấu (%) 2001 2002 2003 2004 2005
NLN 62,3 61,6 60,4 57,0 54,0
CN – XD 14,73 15,0 15,35 16,4 19,0
DV - TM 22,95 23,4 24,25 26,6 27,0
- Thu nhập bình quân đầu người ( Giá trị gia tăng tính theo giá CĐ
94)
Năm 2001: 2.019.000 đồng/người/năm.
Năm 2004: 3.050.000 đồng/người/ năm.
Năm 2005: 3.500.000 đồng/ người/năm.
2. Các lĩnh vực kinh tế chủ yếu.
2.1. Sản xuất nông – lâm nghiệp.
Nông lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu trên địa bàn huyện chiếm
60% giá trị tổng sản lượng, trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã thu
được những kết quả đáng kể, cụ thể tổng sản lượng lương thực tăng, đời
sống nhân dân tăng lên, đảm bảo ổn định về lương thực trên địa bàn huyện.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.1. Về trồng trọt.
Sản lượng lương thực có hạt năm 2001: 30.242 tấn; năm 2004 tăng
lên 33.590,5 tấn, và vào năm 2005 là 34.100 tấn.
Bình quân đầu người về lương thực năm 2001 là 273 kg/người/năm;
năm 2004: 298 kg/người/năm; năm 2005 là 300,5 kg/người/năm. Có thể
thấy đó là chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng lớn qua 5 năm trong giai đoạn
2001- 2005.
Một số cây trồng chủ yếu.
- Cây lúa: Diện tích lúa ổn định năm 2001 diện tích lúa cả năm là

tấn, năm 2004: 4.000 tấn và năm 2005 là 7.000 tấn. 1 nhà máy chế biến
tinh bột sắn để xuất khẩu (Đông Cuông) công suất 200 tấn nguyên
liệu/ngày, sản lượng tinh bột sắn năm 2003: 1.500 tấn, năm 2004: 2.500 tấn
và năm 2005 sản lượng tinh bột sắn đạt 6.000 tấn.
Ngoài ra cơ sở sản xuất TCN tăng: như sản xuất vật liệu xây dựng
gạch từ 7,3 triệu viên năm 2003 lên 10,5 triệu viên năm 2004 và đến năm
2005; chế biến đường mật 1.700 tấn năm 2001 và năm 2005 là 1.000 tấn.
2.2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện giai đoạn 2001
– 2005: 429.417 triệu đồng bằng nhiều nguồn vốn như: Vốn ngân sách tập
trung, vốn chương trình 135, vốn WB, vốn các chương trình mục tiêu, đã
xây dựng được một số công trình phục vụ nhu cầu sản xuất Nông – Lâm
nghiệp, công trình giao thông, y tế, giáo dục, đường điện như: Cầu qua
sông, đường Quy Mông – Đông An, đường Yên Bái – Khe Sang, kiên cố
hoá trường lớp học, đường điện... đẩy mạnh việc lưu thông hàng hoá cũng
như giáo dục đào tạo, chăm soc sức khoẻ cải thiện đời sống nhân dân. Hoàn
thiện được chỉ tiểu của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005.
Thương mại - Dịch vụ.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mạng lưới thương mại dịch vụ phong phú, tổng mức bán lẻ hàng hoá
trên thị trường năm 2001: 34 tỷ đồng; năm 2004: 42 tỷ đồng; năm 2005: 45
tỷ đồng với đủ các loại hàng hoá phục vụ cho sản xuất tiêu dùng. Trên địa
bàn huyện có một số chợ lớn như, Mậu A, Trái Hút, Lâm Giang, chợ trung
tâm cụm xã Đại Sơn, chợ cụm xã Dụ Hạ. Ngoài ra còn một số công ty: Như
Cty TNHH Đại An chuyên thu mua, chế biến quế xuất khẩu; Công ty
TNHH chế biến chè; 5 doanh nghiệp tư nhân; trên 30 HTX sản xuất, thu
mua, chế biến, nông lâm sản cho nông dân.
3. Lĩnh vực phát triển văn hoá xã hội.
3.1. Giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status