VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HẢI ĐĂNG
ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM NHŨNG
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN HỮU TRÁNG
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi. Các
số liệu, ví dụ cùng trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ HẢI ĐĂNG
Bộ luật hình sự
BLTTHS
:
CQĐT
:
Cơ quan điều tra
CSĐT
:
Cảnh sát điều tra
KSV
:
Kiểm sát viên
TAND
:
Tòa án nhân dân
Bảng 2.6.
Tên bảng
Tình hình tội phạm tham nhũng tại thành phố Hà Nội
Tình hình tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo tội phạm
tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tình hình giải quyết tin báo, tố giác và khởi tố vụ án hình
sự
Số đối tượng bị khởi tố bị can
Công tác bắt giữ tội phạm tham nhũng của CQĐT Công
an thành phố Hà Nội
Kết quả điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Trang
44
47
50
50
54
57
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, tội phạm tham nhũng đang diễn biến phức tạp, nghiêm
trọng và ngày càng gia tăng cả về số vụ án, số lượng và đặc biệt là đa dạng về
lợi ích hợp pháp của công dân Đảng, Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
thường xuyên, liên tục và đồng bộ: hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng,
đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng đã được Nhà nước ban hành ngày
càng hoàn thiện, đồng bộ nhằm tạo cơ sở, hành lang pháp lý đầy đủ cho việc thực
thi hiệu quả; tăng cường thẩm quyền điều tra các vụ án tham nhũng, tăng cường đầu
tư các trang thiết bị, công cụ hỗ trợ cho các lực lượng điều tra vụ án tham nhũng…
Hàng năm các lực lượng chức năng trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung,
cũng như trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đã phát hiện bắt giữ, xử lý hàng
trăm vụ án tham nhũng, triệt phá nhiều đường dây tham nhũng lớn hoạt động nhiều
năm, xóa nhiều mắt xích móc nối với nhau phức tạp, làm nhiều vụ án điểm và thay
đổi tình hình ở một số địa bàn trên cả nước; các cơ quan tiến hành tố tụng đã đưa ra
xét xử nghiêm minh một lượng vụ án tham nhũng lớn. Thông qua đó đã góp phần
nâng cao uy tín, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân và nâng
cao nhận thức của nhân dân đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
tham nhũng. Bên cạnh đó, lực lượng Công an thành phố Hà Nội cũng đã luôn tập
trung đề cao trách nhiệm trong thực hiện thẩm quyền điều tra các vụ án tham nhũng,
thực hiện các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với nhân dân địa bàn thực hiện tốt
trong công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng, do đó trong thời gian qua lực
lượng Công an thành phố Hà Nội cũng đạt được nhiều thành tích trong công cuộc
đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, hạn chế mức tối đa sự gia tăng của
tội phạm này.
Tuy vậy, mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường các biện pháp để đấu
tranh với tội phạm tham nhũng nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của đời sống
kinh tế - xã hội, cùng với một số đối tượng cán bộ thoái hóa về đạo đức, tư tưởng,
lối sống nên đã làm cho tình hình tội phạm tham nhũng không có chiều hướng suy
giảm. Bên cạnh đó công tác điều tra các vụ án tham nhũng phải có sự chỉ đạo,
hướng dẫn sâu sát, các cán bộ chiến sỹ làm công tác điều tra phải nắm vững các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự, có trình độ chuyên môn và kỹ năng kinh nghiệm
cao, nắm bắt tình hình diễn biến của tội phạm kịp thời. Công tác điều tra các tội
phạm tham nhũng đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, cơ quan,
Hà Nội năm 2014; Lê Hồng Liêm: “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với
phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay”, nxb Chính trịnh Quốc gia sự thật,
năm 2011; Nguyễn Văn Sỹ: “Bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học, 2018, Học Viện khoa học xã hội; Tạ Thu Thủy:
3
“Vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Luận
án tiến sĩ luật học, năm 2018, Học viện khoa học xã hội; Trần Quốc Trung: “Giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với các tội phạm tham
nhũng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh”, Luận văn thạc sĩ luật hình sự và tố tụng hình sự, năm 2018, Học viện khoa
học xã hội; Nguyễn Văn Hải, Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao với
việc thực hiện nhiệm vụ điều tra tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt
động tư pháp, Tạp chí Kiểm sát. Số 24/2015, tr. 31 - 36, 57.
Đỗ Anh Tuấn, Giải pháp phòng ngừa oan sai trong điều tra các vụ án tham
nhũng, Tạp chí Thanh tra. Số 9/2016, tr. 16 - 17.
Trần Đức Hiền, Vũ Thanh Tùng, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng của lực lượng công an nhân
dân, Tạp chí Kiểm sát. Số 24/2015, tr. 42 - 47.
Dương Ngọc Hải, Một số kiến nghị nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát. Số
24/2015, tr. 48 – 52; Hoàng Thế Hanh, Một số vấn đề cơ bản để bảo đảm chất
lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án
tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát. Số 16/2015, tr. 52 – 57; Dương Văn Phùng, Nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát. Số Xuân/2013, tr. 28 – 34; Dương Văn Phùng,
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử các vụ án tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát. Số 24/2015, tr. 12 – 18; Lê
hình sự Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn điều tra vụ án tham nhũng theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2014-2018;
phân tích làm rõ những bất cập, vướng mắc, khó khăn, hạn chế, yếu kém và nguyên
nhân của nó trong quá trình điều tra vụ án tham nhũng của cơ quan Công an trên địa
bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2018.
- Từ việc đánh giá thực tiễn điều tra vụ án tham nhũng trên địa bàn thành
phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và các
giải pháp khác nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án tham nhũng trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
5
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, những quy định
của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam về tội phạm tham nhũng và điều
tra vụ án tham nhũng và thực tiễn điều tra vụ án tham nhũng theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2014 - 2018.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Điều tra vụ án tham nhũng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam được
giới hạn hiểu theo nghĩa là “hoạt động điều tra” vụ án tham nhũng theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội. Trong
giới hạn của luận văn không chỉ nghiên cứu trong giai đoạn điều tra mà bao gồm cả
hoạt động điều tra ban đầu (từ thời điểm CQĐT Công an thành phố Hà Nội tiếp
nhận tin báo, tố giác, xử lý thông tin ban đầu về tội phạm tham nhũng) cho đến khi
CQĐT ban hành kết luận điều tra, đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc ra quyết định
đình chỉ điều tra.
sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu tài liệu, hồ sơ vụ án,
phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, đối
chiếu, suy luận, logic …
Phương pháp đánh giá thực tiễn, phân tích, suy luận logic… tác giả sử dụng
để đưa ra các kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án tham nhũng
trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu thành công luận văn là cơ sở cho việc bổ sung hoàn thiện
hơn về vấn đề lý luận trong tội phạm tham nhũng nói chung, điều tra vụ án tham
nhũng nói riêng, xác định rõ hơn về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án tham
nhũng, trình tự, phương pháp tiến hành hoạt động điều tra vụ án tham nhũng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những tài liệu tham khảo hữu
ích cho các CQĐT trong việc nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án tham nhũng nói
riêng, điều tra các vụ án hình sự nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu thành công của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong nghiên cứu, giảng dạy trong các trường nghiệp vụ của ngành luật, trong
7
thực tiễn điều tra vụ án tham nhũng cũng như trong học tập, nghiên cứu về hoạt
động điều tra tội phạm tham nhũng, góp phần nâng cao hiệu quả trong điều tra vụ
án tham nhũng ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm bốn phần là mở đầu, nội dung, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều tra vụ án tham nhũng.
Chương 2: Thực tiễn điều tra vụ án tham nhũng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
nước hoặc tư nhân nhưng đã vi phạm về trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một
lợi ích bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho người khác” [54, tr.42].
Trên thực tế ở Việt Nam ta hiện nay cũng có nhiều quan điểm về tham nhũng
khác nhau, cũng nhiều quan điểm cho rằng tham nhũng là hành vi của người có
chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn này để nhằm mục đích vụ lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh: lúc sinh thời người đã nhận thấy mầm mống của tệ
nạn tham nhũng trong chính quyền cách mạng và Người kiên quyết đấu tranh với tệ
nạn này, “tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa của xã hội cũ. Nó do lòng tư
9
lợi ích kỷ hại nhân dân mà ra, dó do chế độ người boc lột người mà ra” [26, tr.94].
Hồ Chí Minh cũng đã từng nói tham ô là biểu hiện đặc trưng của tham nhũng. Đồng
thời Hồ Chí Minh cũng khẳng định “tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê
tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm đoạt của công làm của
tư” [27, tr.94].
Ths. Đinh Văn Quế cũng đưa ra định nghĩa tham nhũng: “Tham nhũng là lợi
dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấy của. Các tội phạm tham nhũng là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có
chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến tài sản, uy tín của các cơ
quan, tổ chức, xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [30].
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình, TS. Bùi Minh
Thanh cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất
hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước, được thể
hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi cho cá nhân hoặc người
khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, của tập thể, của
công dân hoặc đe dọa gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” [55, tr.26].
GS.TSKH. Phạm Xuân Sơn và Ths. Hoàng Thế Lực: “Tham nhũng là một
nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, vì vậy khái niệm của nó sẽ gắn liền với sự
phát triển của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay việc hoàn thiện quy định về tội phạm
trong luật hình sự nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêng là điều hết sức cần
thiết. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung đã đưa ra định nghĩa khá
hoàn thiện về tội phạm, được quy định tại Điều 8 của BLHS “Tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [36].
Tuy nhiên Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 không đưa
ra định nghĩa về tội phạm tham nhũng, nhưng căn cứ vào quy định về khái niệm tội
phạm và các quy định về các tội phạm tham nhũng tại Mục 1 Chương XXIII thì
chúng ta có thể đưa ra định nghĩa tội phạm tham nhũng như sau: Tội phạm tham
nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có chức vụ, quyền hạn được giao thực hiện một số công vụ, nhiệm vụ đã
lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến hoạt
11
động đúng đắn, uy tín và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân và tổ chức khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng
Trong thực tế đấu tranh chống tội phạm tham nhũng nói chung và hoạt động
điều tra vụ án tham nhũng nói riêng việc xác định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm
tham nhũng là hoạt động vô cùng quan trọng.
Từ góc độ TTHS thì xác định được dấu hiệu pháp lý của tội phạm giúp
hại nhiều khách thể hoặc chỉ xâm hại một khách thể.
Như chúng ta đã biết, các cơ quan Nhà nước được thành lập theo pháp luật
quy định. Mỗi cơ quan Nhà nước đảm nhiệm thực hiện một nhiệm vụ, một chức
năng nào đó của Nhà nước, mỗi cơ quan được Nhà nước quy định lĩnh vực hoạt
động riêng biệt với những quyền hạn và trách nhiệm nhất định, không được một cơ
quan nào được phép hoạt động vượt ra ngoài phạm vi mà Nhà nước cho phép. Hoạt
động của tất cả các cơ quan Nhà nước nói chung và hoạt động đúng đắn của từng cơ
quan Nhà nước nói riêng tạo nên sự hoạt động thống nhất của Bộ máy nhà nước. Vì
vậy, chỉ cần một cơ quan hoạt động không đúng theo quy định thì có thể tạo nên sự
trục trặc của cả bộ máy nhà nước, làm cho hoạt động của Nhà nước bị sai lệch hoặc
ngừng trệ, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chung của Nhà nước đã đặt ra.
Hoạt động đúng đắn của mỗi cơ quan Nhà nước cũng như tất cả hệ thống cơ quan
Nhà nước là rất quan trọng. Những hành vi xâm phạm vào hoạt động đúng đắn này
phải được nghiêm trị. Như vậy bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước
được pháp luật đặt ra không chỉ trong luật hình sự mà các ngành luật khác trong hệ
thống pháp luật của Nhà nước.
Tội phạm tham nhũng thường có tính nguy hiểm cho xã hội rất cao, nó xâm
phạm đến những quan hệ xã hội đảm bảo hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà
nước, tổ chức xã hội cũng như uy tín của các cơ quan, tổ chức này. Tội phạm tham
nhũng thường hoạt động một cách tinh vi và cản trở hoạt động bình thường của các
cơ quan Nhà nước, tổ chức, gây trì trệ hoặc làm cho các hoạt động của cơ quan, tổ
chức này vượt ra ngoài phạm vi nhiệm vụ, chức năng luật định. Tham nhũng gây ra
tác hại lớn cho cả chế độ nếu không được ngăn chặn thì sẽ đe dọa trực tiếp đến sự
tồn vong của chế độ Nhà nước và có thể làm thay đổi bản chất của Nhà nước thành
Nhà nước của một số có chức vụ, quyền hạn trong xã hội. Ngoài sự xâm phạm trên
thì tham nhũng còn xâm phạm đến lợi ích vật chất của Nhà nước, xâm hại đến
quyền, lợi ích của công dân, tổ chức. Tuy nhiên những lợi ích này chỉ xâm hại một
cách gián tiếp thông qua hành vi xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan,
tổ chức. Thông thường chủ thể của tội phạm tham nhũng hướng tới là những lợi ích
vật chất như tiền, vàng, cổ phiếu, đất, nhà, xe và các loại tài sản khác; các lợi ích
chức vụ, quyền hạn là sử dụng chức vụ, quyền hạn được giao như là phương tiện để
thực hiện hoặc không thực hiện công việc thuộc trách nhiệm của mình hoặc công
việc không được phép làm. Như vậy, tội phạm tham nhũng được thực hiện đều liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà người phạm
tội được cơ quan, tổ chức giao cho. Nếu như thiếu dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền
hạn làm trái công vụ để nhằm mục đích vụ lợi thì không thể truy cứu trách nhiệm
14
hình sự đối với tội phạm tham nhũng được. Hay nói cách khác người có chức vụ,
quyền hạn thực hiện hành vi phạm tội mà không sử dụng chức vụ, quyền hạn của
mình thì hành vi đó không phải là hành vi tham nhũng.
Hành vi tham nhũng được thể hiện là hành động hoặc không hành động.
Trên thực tế, trong quá trình điều tra vụ án tham nhũng nói riêng việc xác định hành
vi tham nhũng là một việc hết sức khó khăn. Trong nhiều trường hợp hoạt động
điều tra xác định có dấu hiệu tham nhũng nhưng không xác định được một cách rõ
ràng hành vi tham nhũng. Để có cơ sở xác định hành vi tham nhũng, trong các văn
bản pháp luật hình sự, các văn bản phòng chống tham nhũng… Nhà nước đã quy
định cụ thể những hành vi tham nhũng. Việc xác định đúng hành vi tham nhũng là
căn cứ pháp lý để các cơ quan chức năng nói chung và CQĐT nói riêng xác định và
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tham nhũng. Theo Bộ luật hình sự quy
định thì hành vi tham nhũng gồm những hành vi sau: tương ứng với 7 tội phạm thì
có 7 hành vi: tham ô tài sản (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354), lạm dụng chức vụ,
quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355), lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ (Điều 356), lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357), lợi
dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358),
giả mạo trong công tác (Điều 359).
Hậu quả của tội phạm tham nhũng là những thiệt hại vật chất là những thiệt
hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức và nhân dân. Thiệt hại về phi vật chất như
người có chức vụ không nhất thiết phải trong biên chế Nhà nước mà chỉ cần người đó
được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền năng nhất định trong khi thi
hành công vụ đó. Quyền năng của người được giao thực hiện một công vụ thể hiện ở
chỗ, người đó có quyền giải quyết, tham gia vào việc giải quyết công tác nghiệp vụ
của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Khi có quyền năng này người có chức vụ
mới có điều kiện và khả năng lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện
hành vi trái với công vụ được giao, làm sai lệch hoạt động đúng đắn của Nhà nước, tổ
chức xã hội với nhiều động cơ, mục đích khác nhau. Quyền năng của người có chức
vụ được thể hiện ở các chức năng như: chức năng chính quyền; chức năng lãnh đạo,
tổ chức; chức năng kinh tế, hành chính.
Ngoài ra những người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ
chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ là chủ thể của tội nhận hối lộ (quy định tại
Điều 354 BLHS năm 2015)
Như vậy, chủ thể của tội phạm tham nhũng chỉ có thể là những người có
chức vụ, quyền hạn. Những người không có chức vụ, quyền hạn thì chỉ có thể là
người xúi giục, người giúp sức, người tổ chức trong vụ án tham nhũng. Cũng theo
Luật phòng, chống tham nhũng thì “Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ
nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có
16
hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất
định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao
gồm:Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân,
viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ
sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước
tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ
chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn
tội tham nhũng chủ yếu được thực hiện vì vụ lợi vật chất cho cá nhân hoặc cho
người khác. Đây cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt tội phạm tham nhũng với
những hành vi vi phạm pháp luật khác. Trong một số trường hợp nếu như không
chứng minh được động cơ của người thực hiện hành vi tham nhũng thì việc áp dụng
các biện pháp để xử lý trong hoạt động tố tụng nói chung và trong quá trình điều tra
vụ án tham nhũng nói riêng sẽ không chính xác, khách quan và hiệu quả. Trên thực
tế, phần lớn các tội phạm tham nhũng đề có động cơ xuất phát từ ham muốn cá nhân
để thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của cá nhân họ hoặc của người thân.
- Mục đích tham nhũng: là kết quả mà chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng
mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi, đây cũng là giới hạn cuối cùng mà chủ
thể mong muốn đạt được trên thực tế. Mục đích tham nhũng thường thể hiện bằng
việc chủ thể mong muốn đạt được những lợi ích vật chất hoặc phi vật chất.
1.2. Lý luận về điều tra vụ án tham nhũng
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm điều tra vụ án tham nhũng
1.2.1.1. Khái niệm điều tra vụ án tham nhũng
Hoạt động điều tra được hiểu là quá trình phát hiện, tìm kiếm, thu thập, tài
liệu thông tin phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng, một tổ chức,
con người … Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai trong tố tụng hình sự mà
trong đó CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự dưới sự kiểm
sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và cũng cố các chứng
cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội
phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu TNHS, đồng
thời có thể đảm bảo cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất gây nên và trên cơ sở
đó CQĐT quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự; Chuyển toàn bộ các tài liệu
của vụ án cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
Với tính chất là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hình sự, giai đoạn điều
tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các
biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh, làm rõ một cách toàn diện, đầy đủ
và khách quan những chứng cứ xác định có tội phạm xảy ra hay không và những
thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp theo quy định của BLTTHS để chứng minh tội
phạm tham nhũng và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án tham
nhũng bao gồm cả tình tiết buộc tội và gỡ tội, xác định sự thật khách quan của vụ án.
Thứ ba: Chủ thể thực hiện các hoạt động điều tra vụ án tham nhũng là CQĐT hoặc
các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định.
19
Thứ tư: Các biện pháp mà CQĐT có thẩm quyền được áp dụng là các biện
pháp được quy định trong Luật tố tụng hình sự, việc áp dụng các biện pháp tùy
thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án. Các biện pháp được áp dụng như: Cấm
đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp; bắt tạm giam, tạm giam, hỏi cung bị can, lấy
lời khai của người làm chứng; lấy lời khai của bị hại … các biện pháp được áp dụng
theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Tuy nhiên, do tính chất của tội phạm tham nhũng và các dấu hiệu pháp lý của
nhóm tội phạm này có những đặc điểm riêng biệt nên ngoài các đặc điểm chung của
điều tra vụ án hình sự thì điều tra vụ án tham nhũng có những đặc điểm đặc thù sau:
Thứ nhất: Điều tra vụ án tham nhũng là hoạt động nhận thức đặc biệt của chủ
thể điều tra về một vụ án tham nhũng trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Hoạt động điều tra các vụ án tham nhũng thực chất là hoạt động nhận thức
của chủ thể điều tra đối với vụ án tham nhũng đã xẩy ra, các hoạt động này được thể
hiện dựa trên các quy định về trình tự, thủ tục điều tra của luật định. Chủ thể điều
tra vụ án tham nhũng trong quá trình điều tra chịu sự ảnh hưởng, tác động của quy
luật khách quan, quy luật phản ảnh và chứng minh, quy luật dựa trên những quy
định các ngành luật chuyên nganh khác… Ngoài ra còn chịu sự tác động của các
yếu tố chủ quan và khách quan khác như: môi trường hoạt động, cơ cấu tổ chức,
yếu tố tự nhiên, con người… và nhất là chủ thể điều tra vụ án tham nhũng còn chịu
sự tác động của các quy định về xác định tội phạm tham nhũng, về chức năng,
nhiệm vụ, phân công, phân cấp và trình tự tổ chức tiến hành hoạt động điều tra.