Giá trị lịch sử của pháp luật tố tụng phong kiến việt nam thế kỷ XV - Pdf 54

Giá trị lịch sử của pháp luật tố tụng phong kiến Việt
Nam thế kỷ XV - XIX
Cùng với quá trình phát triển của nhà nước, pháp luật Đại Việt cũng từng bước
được các triều đại PKVN thiết kế và xây dựng, kết hợp hài hòa tính dân tộc & tính thời
đại. Điều đó đã tạo nên giá trị căn bản của pháp luật tố tụng trong cổ luật Việt Nam.
1. Giá trị lịch sử về lập pháp và kỹ thuật lập pháp
Thông qua nội dung mà các Bộ luật điều chỉnh, cho thấy, những đặc điểm tiến bộ
về lập pháp được đánh giá từ những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, Giá trị về lập pháp luôn có tính kế thừa và phát triển sáng tạo
Về tư tưởng lập pháp, nhà nước phong kiến Việt Nam đã xây dựng được Bộ luật,
Hội điển tiến bộ theo xu hướng hoàn thiện dần. Tư tưởng chủ đạo của nhà nước thời Lý
Trần xây dựng pháp luật là để “phép xử án được bằng thẳng rõ ràng”, thời Lê Sơ “đặt ra
pháp luật để quản trị quân dân”, ổn định nền kinh tế xã hội. Lê Thánh Tông thể hiện rõ
tư tưởng trọng pháp, dùng pháp luật và hình phạt nghiêm minh để hướng đến lễ nghĩa,
bảo vệ đạo đức thuần phong mỹ tục, nhân cách và phẩm giá con người. Thời Lê Trịnh và
triều Nguyễn coi trọng tính ứng dụng của luật bảo vệ nền chính trị an ninh, hòa bình cho
cộng đồng cư dân, cho quốc gia và xã hội. Hoàng đế Gia Long từng khẳng định quyết
tâm xây dựng luật pháp, xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm:“Ta nhờ oai linh liệt
thánh, trấn áp hỗn loạn, đem lại sự thanh bình, chỉnh lý trật tự bờ cõi theo luật pháp, lấy
giáo hóa làm việc hàng đầu; tuy nhiên cũng quan tâm đặc biệt đến việc xử phạt” [HVLL
– Lời tựa]. Bởi tình trạng pháp luật hư nát, xảo trá hoành hành, xử án qua loa. “Mọi việc
đâm ra thiếu sót, xử án theo lý đơn giản, khiến người ngu coi thường luật pháp, không
biết theo đâu tránh đâu, kẻ ngoan cố thì dễ vô ý chơi đùa, việc xử án thì tự ý thêm bớt,
không còn căn cứ vào nền tảng nào cả, oan ức tràn lan, kiện thưa không có căn cứ. Ai có
lòng nhân mà không trắc ẩn”.


Trước đòi hỏi của thực tiễn, từ nguồn luật trong nước,“Tham chiếu luật Hồng Đức
và luật Thanh triều, rút lấy, thêm bớt, cân nhắc biên soạn thành Bộ luật tiện dụng”. Để
các quan viên vâng chiếu theo bộ luật, dùng pháp luật để trừng phạt xử tội kẻ gian manh,
chế ngự điều ác, đề phòng lỗi lầm, tránh bớt sai phạm, ngõ hầu tránh khỏi bị pháp luật xử

QTKTĐL, HVLL mang tính hài hòa giữa lợi ích nhà nước quân chủ chuyên chế với xã
hội cộng đồng làng xã của người Việt. Pháp luật quân chủ vẫn tôn trọng văn hóa truyền
thống, tục lệ của dân tộc, tín ngưỡng cổ truyền của người Việt, giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Đại Việt.
Việc pháp điển hóa và ban hành bộ QTKTĐL là thành công đặc sắc nhất của pháp
luật PKVN trong lĩnh vực tố tụng. QTKTĐL là bộ luật chuyên ngành về tố tụng điều
chỉnh các hoạt động về nguyên tắc, thể chế, quy trình vận hành tố tụng và xét xử. Từ quy
định Thông lệ về khám tụng cho đến quy trình tố tụng trong các loại vụ việc chuyên sâu
được quy định rất chi tiết tỷ mỷ, các nhà lập pháp đã đưa ra rất nhiều tình huống và dự
liệu các cách xử lý. Tố tụng theo loại việc chuyên ngành, chuyên sâu có thể được coi là
một trong những giá trị đặc sắc, tiến bộ và sáng tạo nhất của pháp luật tố tụng PKVN
trong tiến trình lịch sử.
Thứ hai, Giá trị về kỹ thuật lập pháp tiến bộ khoa học & phát triển sáng tạo
Tiến bộ vượt hẳn trong kỹ thuật lập pháp khi nhà nước PKVN là một trong những
quốc gia đã ban hành Bộ luật tố tụng chuyên ngành đầu tiên trong khu vực châu Á và thế
giới. Bộ luật điều chỉnh hoạt động tố tụng chuyên sâu đã tạo vị thế mới cho thể chế tư
pháp PKVN. Tạo nên sự kết hợp hài hòa, liên thông, đồng bộ giữa luật nội dung, luật
hình thức và luật thủ tục; phần nào đảm bảo sự điều chỉnh nền kinh tế, chính trị, xã hội
phù hợp, có chế tài xử lý vi phạm; đảm bảo sự tôn nghiêm của luật pháp, hướng tới nền
pháp trị; bảo hộ cá nhân, gia đình, cộng đồng dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia thống
nhất và phát triển.
Các điều luật được cân nhắc từng câu, từng chữ ngắn gọn, rõ ý. Bộ luật đều do
những Đại thần có trình độ, uy tín xây dựng. Một Bộ luật điều chỉnh toàn bộ hoạt động
xã hội. Bộ luật đươc ban hành trên phạm vi cả nước theo chiếu chỉ của nhà vua hoặc chỉ


truyền của chúa. Nhà vua hoặc chúa là người trực tiếp xét duyệt nội dung, thông qua và
ban bố. Các nhà lập pháp tài năng uyên bác đã ghi danh trong lịch sử như: thời Lý có Lý
Thái Tông; thời Trần có Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn và Thượng Hoàng Trần
Minh Tông; thời Lê có vua Lê Thái Tổ, Nhân Tông, Thánh Tông, các Đại thần như

dễ áp dụng của văn hóa pháp luật truyền thống Việt Nam.“Đó là linh hồn trí não người
xưa kết đúc lại cho thế hệ của chúng ta qua bao lớp phế hưng của lịch sử” (Vũ Văn
Mẫu) [35, tr.5]. Đó còn là ngôi nhà cổ thực sự có giá trị mà có thể vì nhiều lý do chúng ta
đã bỏ lãng quên, để nó đổ sập xuống thật đáng tiếc thay (Trần Trọng Kim) và đến lúc nào
đó, có thể nó sẽ được phục hưng trở lại như một sự bảo lưu giá trị của một nền văn hóa
với Nhân Lễ Nhạc trong Luật lâu đời, nhân văn và sâu sắc, để đi tiếp chặng đường xây
dựng nền văn hóa pháp lý Việt Nam kết hợp truyền thống và hiện đại.
2. Giá trị lịch sử trong xây dựng hệ thống VBQPPL tiến bộ
Pháp luật của nhà nước phong kiến Việt Nam được phổ cập đến dân chúng là Bộ luật
Hiến chương và những Điển chế bổ sung có hiệu lực lâu dài từ 1428 đến 1788, từ 1815
đến 1884 – 1945 thể hiện tính kế thừa và phát triển bền vững, đảm bảo mục đích, tính
ứng dụng thực tiễn từ hình thức, nội dung đến ứng dụng hiệu quả. Đó là sự tiến bộ, khoa
học của pháp luật tố tụng nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung thời quân chủ PKVN
thế kỷ XV - XIX.
Thư nhất, Giá trị trong khoa học lý luận kết hợp quy phạm điều chỉnh
Khi nghiên cứu hai Bộ luật nổi bật nhất trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XV - XIX
là QTHL và HVLL, cho chúng ta thấy, để điều chỉnh các hoạt động tố tụng xét xử, các
nhà nghiên cứu lập pháp đã xây dựng bộ luật hiến chương, đảm bảo tính chính thống lâu
bền về hiệu lực pháp lý và phong tục tập quán. Xét về hình thức, để điều chỉnh mọi góc
cạnh của đời sống xã hội, đòi hỏi cần có nhiều văn bản, để có sản phẩm mang tính khái
quát cao, QTHL với 722 điều và HVLL với 398 điều và 560 điều lệ đòi hỏi trình độ cao
của các nhà lập pháp.


Theo đánh giá của Oliver Oldman, chủ nhiệm Khoa luật Á Đông, Đại học Havard
về QTHL:“Đó là một sự nỗ lực thường xuyên đối với việc xây dựng một nhà nước dân
tộc mạnh và sự bảo hộ của những quyền tư hữu hợp pháp bởi hệ thống pháp luật tiến
bộ”[57, tr.19]. Giá trị của QTHL là ở tính lý luận, tính quy phạm và thực tiễn. Tất cả các
điều luật trong Bộ QTHL, QTKTĐL, HVLL đều đảm bảo các tiêu chí về nguyên lý pháp
luật, mục tiêu của dân tộc, theo kịp thời đại, đảm bảo tính xã hội, tính nhân văn bên cạnh

phạt như tội phạm hình sự (Điều 624, 636 – QTHL).
Điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực như hành chính quan chế, quân
sự an ninh, kinh tế, đất đai, thương mại, hợp đồng; các quan hệ theo thẩm quyền Lục bộ
như luật Lại, luật Hộ luật Lễ, luật Binh, luật Hình, luật Công; đồng thời quy định các chế
tài khi vi phạm trong cùng một văn bản thực sự có ý nghĩa trong vận hành và xử lý vi
phạm. Điều này hiện nay được bổ sung bằng Luật xử lý vi phạm hành chính song chưa
tạo nên sự kết nối đồng bộ giữa các lĩnh vực quản lý chuyên ngành và xử lý vi phạm.
Nghiên cứu tất cả các Bộ luật, cho thấy, các nhà lập pháp hết sức chú trọng đến
điều chỉnh các quan hệ dân sự, về quyền sở hữu ruộng đất, về tài sản và thừa kế. Đây
cũng chính là mục đích của Bộ luật nhằm bảo vệ các quyền lợi chính đáng của các tầng
lớp giai cấp. Pháp luật Lê Trịnh Nguyễn đều có những quy định, các chương, các Lệ về
điền sản, ruộng đất, điền trạch; để phù hợp với thời thế và yêu cầu của thực tiễn, còn có
các điều lệ, luật lệnh lệ bổ sung (Điều 346, 347, 354, 356, 358, 388, 381, 400 - QTHL).
Qua đó, thể hiện sự tiến bộ đi trước thời đại của pháp luật PKVN về kỹ thuật lập pháp.
QTHL có cả một chương Vi chế gồm 144 điều quy định về quan hệ hành chính công vụ
của quan lại. Tất cả sai phạm đều có quy định, kết tội, chịu án trừng phạt nghiêm minh,
phạt tiền hoặc các hình phạt khác, có tội mặc dù vi phạm có tính chất hành chính sự vụ
thông thường nhưng cũng bị quy kết tội trạng và áp dụng các hình phạt có tính chất trừng
trị rất nghiêm khắc (Điều 97, 98, 99,100, 120, 138, 140, 146, 147, 152, 154, 162, 163,
170, 181,183 - QTHL). Trong Lê triều chiếu lệnh thiện chính về chức vụ và trách nhiệm
của quan lại trong Lục Bộ. Trong HVLL, Luật về quan lại, chức chế, xử phạt quan chức
vi phạm khi thi hành công vụ hành chính tư pháp, quân sự an ninh ( Điều 6, 88, 312, 314,


315…- HVLL). Thể hiện tính pháp trị đối với quan chức nhà nước và người thi hành
công vụ khi vi phạm pháp luật. Ví dụ, theo luật, người giữ kho ăn trộm của công, xử
nặng hơn người thường bởi họ mang chức trách bảo vệ của công, ăn lương nhà nước nên
mức xử phạt tăng nặng.
Một trong những điểm tiến bộ của cổ luật trong tố tụng là sự“Hoán đổi hình
phạt”, theo quy luật giá trị sức lao động. Đó là cho phép chuộc tội bằng tiền, trừ tội Thập

tự, thực hiện cơ chế kiểm soát gắn với trách nhiệm và chế tài khi vi phạm.
Các cơ quan tố tụng theo quy định của QTHL, QTKTĐL, HVLL thực hiện giải
quyết các án phúc thẩm nhiều lần, kèm theo phải thực hiện kiểm soát thanh tra trực tiếp
để đảm bảo công bằng trong xét án và giảm thiểu xét xử nhiều tầng vượt cấp. Lựa chọn
người tiến hành tố tụng, theo quy định của pháp luật PKVN cũng hết sức ngặt nghèo. Để
được đảm nhận các chức danh quan trọng trong cơ quan tố tụng đều phải là người có tài
năng và đạo đức, lại phải trải qua thâm niên và kinh nghiệm, vượt qua 3 kỳ khảo khóa; 3
năm sơ khảo, 6 năm tái khảo, 9 năm thông khảo; sau 9 năm thực hiện công việc tố tụng
mẫn cán mới được thăng bổ. Có thể nhận thấy, chế độ công vụ hành chính tư pháp thời
quân chủ ở Việt Nam là nghiêm minh, chặt chẽ.
Các bên tham gia quá trình tố tụng như: bên nguyên, bên bị, bên tòa, người làm
chứng, đối chất, phiên dịch, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người bị thiệt hại,
đại diện gia đình, chính quyền, từ cấp xã đến cấp huyện, phủ xứ, tỉnh; các cấp từ địa
phương đến trung ương, đều có quy định trong luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm;
nếu vi phạm đều phải chịu chế tài và phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại.
Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện các công việc tố tụng hết sức nhạy cảm và mang
tính quyền lực tập trung cao, ảnh hưởng đến con người, danh dự và tài sản, nhà nước
PKVN cũng cân nhắc và quy định trong Bộ luật những quyền lợi mà quan xét xử được
hưởng như ngoài lương bổng còn được hưởng tiền công vụ xứng đáng, tiền Dưỡng liêm,
Ngụ lộc, Huệ lộc, Lộc điền, nhưng không được phép vượt quá quy định. Luật cho phép
nha môn xử án thu “Tiền đảm lễ”, được tích phong khen thưởng bằng tiền kịp thời khi có
công trạng, thành tích.


Thứ tư, Pháp luật tố tụng và mang tính phổ cập toàn xã hội
Bộ luật có hiệu lực lâu dài bền vững và dần trở thành tập quán dân tộc
Khi ban hành Bộ luật, các nhà lập pháp đã đưa các đối tượng chủ thể được áp
dụng đa dạng và không giới hạn, từ các thường dân, nô lệ, trẻ nhỏ, người già, người lính
cho đến quan lại, hoàng thân, quốc thích, tạo cơ chế pháp lý bảo vệ mọi giai tầng trong
xã hội. Khi nghiên cứu QTHL, các nội dung, chế tài trong các điều luật theo xu hướng

khi đến miền biên viễn khẩn hoang được cấp nông cụ trâu bò và được coi như dân
thường. Các chế tài không chỉ là xử lý vi phạm mà còn có ý nghĩa giáo dục tội nhân và
hỗ trợ họ lao động đem lại lợi ích cho xã hội cộng đồng.
3. Giá trị lịch sử về nội dung pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam bảo vệ
nhà nước, gia đình cá nhân và xã hội cộng đồng
Nhà nước sử dụng công cụ quản lý là pháp luật tố tụng bảo vệ gắn liền với việc xử lý
vi phạm trong nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, quân sự, an ninh, đối nội,
đối ngoại nhân danh nhà nước, nhà vua và dân tộc, tạo lập sự bình yên trong xã hội cộng
đồng.
Thứ nhất, Pháp luật tố tụng là công cụ quyền lực bảo vệ nền hành chính quốc gia
Nhà nước quân chủ chuyên chế được thiết lập, thực hiện chức năng cơ bản cơ bản
là tổ chức và xây dựng, trấn áp và bảo vệ. Thực hiện pháp luật không chỉ đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế, quản lý toàn xã hội mà còn cần phải xây dựng thể chế chính trị,
tiềm lực quân sự vững mạnh để khống chế âm mưu thôn tính từ bên ngoài và mưu đồ lật
đổ ngai vàng từ bên trong. Xuất phát từ những yêu cầu của nền kinh tế xã hội, các vị vua
từ Lê Thái Tổ, Thái Tông đến Lê Thánh Tông xây dựng và ban hành QTHL và các Hội
điển để đưa pháp luật trở thành công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, triệt tiêu mọi âm
mưu phản kháng, tạo lập kinh tế phát triển, xã hội hòa bình, bờ cõi Đại Việt được mở
rộng. Các triều đại đều nhằm mục đích cơ bản là xây dựng thể chế quân chủ chuyên chế
trung ương tập quyền. Mọi quyền lực tối thượng đều nằm trong tay nhà vua. Nhà vua
nắm cả vương quyền, thần quyền và pháp quyền, trong đó sức mạnh chuyên chế chính là
pháp trị với những hình phạt nghiêm minh.


Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống chính quyền nhà nước PKVN là phát triển kinh tế
xã hội đi kèm quản lý nhà nước và xử lý vi phạm thông qua hệ thống tư pháp tòa án.
Công cụ quản lý tư pháp tòa án xét xử là các văn bản quy phạm pháp luật, các định chế
pháp lý chuyên về tố tụng. Bên cạnh QTHL, nhà Lê Sơ còn ban hành các bộ Hội điển để
thống nhất quản lý và xử lý, xử phạt khi có vi phạm. Lê triều hội điển (LTHĐ), Lê triều
chiếu lệnh thiện chính (LTCLTC), Đại Nam Hội điển sự lệ, đều có những quy định cụ thể

Về mặt nguyên lý, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội. Để phát triển quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực và cuộc sống dân
sinh, nền kinh tế luôn đóng vai trò quyết định cả dưới góc độ công quyền và tư quyền.
Tất cả các nhà nước trên thế giới, không ngoại trừ Việt Nam đều lấy pháp chế và xử lý vi
phạm để thúc đẩy phát triển và bảo vệ nền kinh tế của mình. Các giai cấp, từ quý tộc, địa
chủ đến thường dân đều xác định vị trí, thứ bậc và tài sản dựa trên sở hữu đất đai, tài sản.
Mọi quyền lợi và sự tồn vong của chế độ chính trị đều phụ thuộc vào chính sách phát
triển kinh tế, mà cơ bản nhất là chính sách điền địa và thuế vụ. Từ góc độ quản lý kinh tế
đến quyền lợi ích và nghĩa vụ đóng góp xã hội, vi phạm và xử phạt sẽ tạo nên sự minh
bạch và công minh trong nền kinh tế. Từ cải cách thuế ruộng thời Khúc Hạo, đến Phép
tịch điền thời Lê Hoàn, chính sách Thái ấp, Điền trang thời Lý Trần, Hạn điền thời Quý
Ly, Quân điền, Lộc điền thời Lê Sơ, phép tô dung điệu thời Lê Trịnh và luật thuế điền sản
công tư thời Nguyễn, pháp luật tố tụng luôn là cơ chế biện pháp hữu hiệu, giải quyết
tranh chấp, bảo vệ nền kinh tế, cân bằng tương đối giữa các giai tầng, giữa các loại hình
sở hữu nhà nước, làng xã và tư nhân. Trong bộ QTHL có chương điền sản 32 điều quy
định về Điền sản công tư. Trong Quốc triều thư khế thể thức là các mẫu văn bản giao
dịch dân sự, mẫu chúc thư, văn khế, văn tự cầm cố, vay nợ,…Trong HĐTCT, QTKTĐL
có các Lệ kiện về tài sản ruộng đất, về vay nợ, về tranh kiện tài sản hương hỏa và thông
thường, về quan cai thu hà lạm thuế. Chuỗi quy trình từ ban hành quy phạm, quản lý,
điều chỉnh, giao dịch, vi phạm và xử lý về tài sản đất đai là một trong những cách thức tư
duy logic, khoa học của luật truyền thống cần phải tham chiếu học tập, ở đây bao hàm từ
lập pháp, hành pháp dến tư pháp xét xử và trở lại lập pháp mới. Công thức cho từng lĩnh
vực pháp luật điều chỉnh phải là quy trình: PDCA (Plan, Do, Check – Control, Action)
đồng bộ, thống nhất. Nhìn ở phổ rộng, trong chính thể quân chủ, pháp luật bảo vệ quyền


sở hữu tối cao của nhà vua, quyền thu thuế, ban hành sắc thuế, quyền ban hành các chính
sách kinh tế; bảo vệ quyền của đẳng cấp quý tộc và cùng với đó là quyền của các chủ thể
hợp pháp khác trong toàn bộ đời sống nền kinh tế xã hội.
Pháp luật PKVN, về mục đích kiểm soát cũng có điểm tương đồng. Tất cả các Bộ luật

Huấn dụ của vua Minh Mệnh đều hướng đến những giá trị văn hóa của nhân cách và
phẩm giá của con người trong gia đình và xã hội. Luật tố tụng truyền thống đều thiết lập
kỷ cương từ nhân cách con người trong gia đình và xã hội, từ hôn nhân đến điền sản
hương hỏa, ân nghĩa được nuôi dưỡng từ trong những quy phạm pháp luật và ẩn đằng sau
các điều luật và chế định là những giá trị nhân sinh, vi phạm và xử phạt.
Trong QTHL, HVLL có các điều luật bảo vệ an ninh quốc gia, biên giới lãnh thổ,
tộc người: Điều 411, 412 – QTHL, Điều 223 – HVLL, Thập ác tội, Đạo tặc thượng, các
quy định về bảo vệ cảng biển Vân Đồn, kiểm soát buôn bán vùng biên giới, trên cảng
biển (Điều 614, 615, 616 – QTHL). HVLL quy định, Người nhà Thanh, sang nước Việt,
có đóng thuế thân, cho phép lấy vợ Việt nhưng không được đưa vợ con về Trung Quốc.
Vua Minh Mệnh khi bắt được các thuyền buôn nước ngoài cập cảng buôn bán trái phép
cũng không xử quá nặng mà còn gia ân tha cho về nước. Phương châm là “Nhu viễn
nhân”. Tuy nhiên, đối với Thiên chúa giáo cấm lệnh của triều Nguyễn khá nghiêm ngặt,
xử phạt đặc biệt nghiêm khắc, hình phạt rất cá biệt như buộc đá vào cổ những người cố
tình truyền giáo ném ra biển khơi. Xung đột tôn giáo là một vấn đề cần giải mã, vì tôn
giáo là sự tôn sùng tự nguyện, nếu bị dối lừa, người sùng đạo sẽ trở nên cuồng tín và bị
chủ giáo lạm dụng. Cho dù còn nhiều điều tranh luận, đánh giá khác nhau, nhưng cũng
có thể khái lược như Phan Huy Chú,“ trong khoảng 20 năm, non sông đổi khác, chính là
lòng trời có ý mở cho triều Nguyễn một cơ hội lớn, để thống nhất đất nước như ngày
nay”.
Luật truyền thống đã đi vào tâm lý nhân bản rất sâu xa trong quy luật của muôn đời
mà có thể khi hội nhập với phương Tây, chúng ta dần rời xa, lãng quên giá trị tiềm ẩn
nằm sâu trong tâm thức gia đình và dân tộc. Cũng có thể khi đã bão hòa trong hội nhập
phương Tây, người Việt sẽ trở lại với những giá trị bản truyền từ luật điều chỉnh hành vi,
luật điều hành quyền lực đến luật xử lý vi phạm với nguyên tắc tối ưu là sự bình yên và
giảm bớt kiện tụng. Pháp luật tố tụng Việt Nam cũng có những quy định giảm nhẹ hình


phạt đối với phụ nữ, người già trẻ em, người tàn tật, người nghèo khổ, mồ côi, mệnh một,
khốn cùng. Đó là bản chất nhân văn bền vững trong lịch sử dân tộc mà điểm xuất phát

Pháp luật tố tụng là một trong những công cụ bảo vệ nhà nước và xã hội phong
kiến, bao gồm: quân chính, quan chế hành chính và công đường các nha môn. Lực lượng
quân chính (quân đội) bảo vệ nhà nước, lãnh thổ, biên giới, chủ quyền quốc gia. Quân
binh bảo vệ hoàng thành cung điện, hoàng thất của nhà vua và quan lại trong triều. Công
đường thực hiện việc xét xử và trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật. Cả ba hợp thành
cỗ máy quyền lực của nhà nước phong kiến, kết hợp liên thông “văn võ song toàn”.
Quân sự rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ nhà nước
phong kiến, bảo vệ quyền lực ngai vàng chế độ quân chủ chuyên chế, cho nên, trong nội
dung bộ luật của các thời kỳ khác nhau đều chú trọng điều chỉnh các đối tượng khi vi
phạm trong lĩnh vực quân chính. Trong QTHL có tới 43 điều về quân chính. Hầu hết các
hành vi vi phạm đều ở mức độ trừng phạt rất nặng, trong đó có tới 26 điều xử tội tử với
chủ yếu án chém. Không chỉ có trừng phạt, nhà vua cũng có những chính sách được ghi
trong luật về chế độ đãi ngộ với quân sỹ, võ quan trong triều. Trong Thiên nam dư hạ tập,
quyển thứ nhất có biên lại trong thời Hồng Đức năm thứ 11(1480) quy định Lệ chia cấp
đều phần ruộng đất công cấp cho quân đội“Phàm ở quân đội được chia đều, đều y theo
phần, trước sau lần lượt, lấy Tổng bài quân lại, tổng tiểu kỳ, chánh phó, ngũ trưởng mà
cấp trước....đến những người cưỡi ngựa giỏi bắn cung tốt” cho thấy, pháp luật quy định
rất rõ ràng về chế độ ruộng đất cho những võ quan và quân binh, người có thành tích
trong quân đội. Một mặt thúc đẩy quân đội tham gia làm kinh tế, mặt khác thể hiện chính
sách của nhà nước đối với quyền lợi của các võ quan và gia nhân quân đội. Quân đội là
công cụ bạo lực, trấn áp tội phạm và bảo vệ nhà nước cũng như triều đình, bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ và an ninh tố tụng. QTHL có những quy định trừng phạt rất nặng nếu vi
phạm quan hệ với nước ngoài như cấm bán ruộng đất, binh khí, mắm muối cho người
nước ngoài, hoặc quy định đối với sứ thần ra nước ngoài không được giao tiếp với người
nước ngoài, không được tiết lộ công việc nhà nước (Điều 73 -79 – QTHL).
Nhà nước PKVN đã sử dụng pháp luật nói chung và luật tố tụng nói riêng làm
công cụ cho sức mạnh của nhà nước, chính quyền và quân đội, thiết lập mối quan hệ
trong khu vực, bảo toàn quốc gia, bảo vệ dân tộc độc lập, thực hiện mục tiêu dựng nước,



Trung Quốc và Việt Nam đã có mô hình nhà nước tập quyền mạnh và những Bộ luật mà
nội dung tiến bộ tân kỳ của nó làm ngạc nhiên các nhà nghiên cứu phương Tây. Cùng
chung nhận định này, học giả M.Aikyo và T.Inaco đã khẳng định trong công trình nghiên
cứu về Đông Nam Á rằng: Pháp luật Việt Nam trong quá khứ quyết không đồng nhất với
pháp luật Trung Hoa. Bộ QTHL thế kỷ XV mặc dù chịu ảnh hưởng luật lệ nhà Đường
Minh Trung Quốc nhưng cũng có nhiều nét riêng độc đáo của Việt Nam. Bộ QTHL khác
với luật Trung Quốc ở chỗ đã phân biệt pháp luật vật chất với pháp luật thủ tục, đã tách
luật gia tộc khỏi luật dân sự và luật hành chính và quan trọng hơn là thừa nhận quyền tài
sản của người phụ nữ .
Địa vị pháp lý của người phụ nữ trong tố tụng, theo học giả In SunYu Hàn Quốc:
địa vị pháp lý của người phụ nữ trong pháp luật Lê Sơ so với pháp luật Trung Hoa là
khác nhau. Mối liên kết gia đình trong luật Việt lỏng lẻo hơn luật gia đình Trung Quốc về
nhân thân và tài sản. Pháp luật Trung Quốc hầu như không bảo vệ quyền của người phụ
nữ như trong luật Việt về các phương diện như: quyền từ hôn, hối hôn, tiêu hôn, quyền
xin ly hôn, quyền sở hữu, hợp đồng và thừa kế. Pháp luật triều Lê bảo vệ quyền tài sản
của các thành viên gia đình. Vợ chồng có quyền tài sản riêng kể cả trước, trong và sau
hôn nhân. Khi hôn nhân không con hoặc khi một người mệnh một, người còn sống vẫn
được nhận cấp dưỡng từ tài sản của người đã mất. Tất cả các quyền đó lẽ đương nhiên
được bảo vệ bằng cơ chế nhà nước, bằng phong tục tập quán và pháp luật tố tụng.
Pháp luật tố tụng PKVN bảo vệ căn bản quyền của người phụ nữ, người già, trẻ em,
người tàn tật về phương diện tố tụng. Những quy định chung về hình phạt, về giam giữ,
khảo cung và thi hành án, đều có chính sách giảm nhẹ, nhân đạo. Ví dụ, nữ phạm nhân có
nhà ngục riêng, nữ phạm nhân mang thai sinh nở không được tra khảo, thi hành án, các
quan cai ngục không được lợi dụng, lạm dụng đàn bà con gái trong ngục, vợ phạm tội
không bị giam cấm thì giao cho chồng quản cố, nữ phạm nhân trong gia đình mưu phản
không bị xử tử mà bị đày làm công nô,..Những nét đặc sắc này đã thể hiện tính nhân văn,
nhân đạo của pháp luật PKVN cả về phương diện hình sự, dân sự và tố tụng đối với phụ
nữ. Trong QTHL, đối với tội nhân là trộm cướp, luật mặc định“đàn bà thì giảm tội”, theo



trên tổng số 722 điều luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ cũng như xử phạt quan chức
trong thi hành công vụ hành chính tư pháp và quân sự an ninh.
Giám sát tư pháp tố tụng là cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đảm bảo sự tôn
nghiêm của pháp luật, giúp cho pháp luật nội dung được thực thi ngay thẳng, chính đáng.
Pháp luật tố tụng đồng thời là công cụ để xử lý & khắc phục hệ quả vi phạm trên mọi
lĩnh vực, thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ, bảo vệ con người, tài sản,
bảo vệ nhân sinh và văn hóa. Sự nghiêm minh của hệ thống tư pháp nói chung và pháp
luật tố tụng nói riêng luôn là thước khuôn cho sự minh bạch của thể chế chính trị pháp lý
quốc gia cũng như khu vực và quốc tế. Khi nhìn vào chiều sâu của lịch sử, công lý tòa án
có thể chỉ phản ánh được phần nào những giá trị của cổ luật trong nội lực truyền thống
của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh những đóng góp tiến bộ về nguyên lý pháp luật, chính
sách pháp luật, trong hình thức và nội dung, pháp luật tố tụng trong ứng dụng thực hành
thực tiễn vẫn còn hạn chế bởi tính tập quyền, chuyên chế của toàn bộ quy trình tố tụng
[Xin xem mô hình tố tụng Phụ lục].
Phạt tiền và chuộc hình phạt bằng tiền quy luật giá trị sức lao động được ứng dụng
trong hình phạt và áp dụng hình phạt. Phạt tiền trong cổ luật có định khung rất rõ ràng cụ
thể. Nếu địa vị, thân phận càng cao thì phạt tiền càng nặng và ngược lại. Phạt tiền giảm
nhẹ đối với người già, phụ nữ, trẻ em, người nghèo, cô đơn, tàn tật. Chuộc hình phạt
bằng tiền cũng là một giá trị mà nay pháp luật tố tụng cần nghiên cứu ứng dụng. Điều
này có lợi cho tất cả các bên, phòng chống được tham nhũng và sự tha hóa trong hoạt
động tư pháp xét xử.
Đây là một vấn đề tác giả đã đặt ra từ nhiều năm trước song cho đến nay, nền pháp
luật đương đại của chúng ta mới chấp nhận vế thứ nhất, phổ biến phạt tiền và đôi khi quy
định phạt tiền rất rất cao. Còn vế thứ hai, chuộc hình phạt bằng tiền vẫn còn là vấn đề bỏ
ngỏ. Lý do thì có rất nhiều, tranh luận bàn cãi, nhưng các nhà lập pháp đương đại thì biện
luận rằng: Bất bình đẳng nếu cho chuộc tội bằng tiền. Nghiên cứu cổ luật QTHL,
QTKTĐL, HVLL, HĐTCT, LTCLTC,..sẽ thấy tư duy pháp lý của cha ông xưa rất khoa


học biện chứng, cách nhìn sự bình đẳng dựa trên nhiều thông số, đa chiều và hợp quy

bộ, liên ngành, liên thông, thống nhất. Điều này chi phối cả chiến lược đào tạo nguồn
nhân lực và kết nối cơ sở vật chất và khoa học công nghệ.
Những giá trị lịch sử cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN là đã xây dựng được một
hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động tư pháp, tòa án và xử lý vi phạm trong các lĩnh
vực đời sống xã hội phù hợp và tiến bộ. Cũng có thể nhìn nhận sứ mệnh của pháp luật tố
tụng PKVN trong những mục tiêu cơ bản của chính thể quân chủ tập quyền Đại Việt. Đó
là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc quốc gia, an ninh chính trị, dựng nước, giữ nước và
mở nước; bảo vệ con người về tính mạng tài sản danh dự văn hóa; đoàn kết các dân tộc,
bảo vệ an ninh và an toàn xã hội.
Từ lý luận quy phạm đến ứng dụng, pháp luật tố tụng PKVN thể hiện tính tiến bộ
đặc sắc với những thành tựu và giá trị bền vững. Đặc trưng của pháp luật tố tụng truyền
thống Việt Nam có thể còn nhiều vấn đề cần phân tích, nghiên cứu ứng dụng và có một
điều chắc chắn rằng: phân loại tố tụng theo vụ việc, chuẩn hóa đội ngũ phán quan, giám
sát tố tụng là những thành công cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN. Nó sẽ được phục
hưng và phát triển trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp tố tụng
chuyên nghiệp và hiệu quả, vì công lý và vì con người với những giá trị nhân văn trong
mục tiêu kiến tạo nền tư pháp liêm chính của thể chế Nhà nước pháp quyền - Xã hội
công dân với thước khuôn của luật và tính tối thượng của Luật Nhân quyền.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status