Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, luật dân sự Việt Nam không được tách ra
thành một bộ luật riêng mà được tìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật
phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức), Nguyễn triều hình luật (Hoàng
Việt luật lệ). Đến khi người Pháp chiếm đóng Việt Nam thì các bộ luật dân sự
được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện. Ví dụ ở Nam Kỳ thì bộ luật dân
sự Nam Kỳ giản yếu ra đời năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và tại
Trung Kỳ là bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm
1936. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh với người Pháp nên
chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn áp dụng các bộ luật dân sự này. Ngày 22
tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL để "sửa đổi một số
quy lệ và chế định trong dân luật" nhằm sửa đổi một số điều trong các bộ dân luật
cũ này. Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 tòa án tối cao ra chỉ thị
số 772/TATC để "đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc". Từ
thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ. Một
số mảng của luật dân sự được tách ra thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân và
gia đình hay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp
lệnh.
Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v. không
được điều chỉnh trực tiếp. Các quy định về nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu
là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý và đá quý v.v. và nói chung mang
nặng tính chất hành chính. Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực
dân sự như: Luật hôn nhân gia đình (1986), Luật Quốc tịch (1988), Pháp lệnh
chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về sở hữu
công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh về thừa kế
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
(1990), Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v. Tuy
các pháp lệnh có nhiều nhưng đôi khi chồng chéo và mâu thuẫn với nhau nên đã
chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể
khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân
trong giao lưu dân sự, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ
thể khi tham gia quan hệ dân sự.
b. Các nguyên tắc cơ bản
* Nguyên tắc thể hiện bản chất của quan hệ dân sự
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận (Điều 4 Luật Dân sự 2005):
Đặc trưng của giao lưu dân sự mang tính chất ý chí và quyền tự định đoạt của
cácchủ thể tham gia được pháp luật thừa nhận, bảo hộ. Các chủ thể tham gia quan
hệ dânsự có quyền tự do cam kết thoả thuận phù hợp với qui định của pháp luật
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
xác lậpquyền và nghĩa vụ dân sự của mình. Đây là tư tưởng chỉ đạo xuyên xuốt
toàn bộ nội dung của Bộ luật Dân sự, bởi lẽ đặc trưng của giao dịch dân sự là sự tự
do, tự nguyệncam kết thoả thuận nhằm đạt được lợi ích vật chất, tinh thần của
mình.
- Nguyên tắc bình đẳng (Điều 5 Luật Dân sự 2005): Bình đẳng về địa vị pháp lý,
chủ thể này không phụ thuộc vào chủ thể khác, không bên nào có quyền ra lệnh
cho bên nào. Nguyên tắc này được thể hiện như sau:
+ Bình đẳng tham gia vào các quan hệ dân sự không phụ thuộc vào giới tính,
địa vịxã hội, hoàn cảnh kinh tê, Pháp luật dân sự qui định không ai được dùng
bất cứ lýdo khác biệt về địa vị, dân tộc, tôn giáo hoặc những lý do khác để làm
biến dạng giaolưu dân sự.
+ Bình đẳng khi quyền và nghĩa vụ dân sự được xác lập. Khi quan hệ dân sự
đượcxác lập bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ dân sự đối với
bên có quyền
+ Bình đẳng về trách nhiệm dân sự: trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
vào hình thái kinh tế - xã hội tồn tại một thời điểm lịch sử nhất định. Do vậy, năng
lực pháp luật dân sự của cá nhân không phải do tạo hoá sinh ra mà do mỗi Nhà
nước nhất định ghi nhận, qui định cho cá nhân của họ; ở những hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự được qui định khác nhau.+ Trong
cùng một hình thái kinh tế - xã hội song những quốc gia khác nhau thìnăng lực
pháp luật dân sự của cá nhân khác nhau. Trong cùng một quốc gia, cùng mộthình
thái kinh tế - xã hội nhưng vào những thời điểm lịch sử nhất định năng lực pháp
luật dân sự của cá nhân cũng được qui định khác nhạu.+ Mọi cá nhân đều bình
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
đẳng về năng lực pháp luật dân sự. Khoản 2 Điều 14 luật dân sự qui định: "mọi cá
nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau”. Qui định này xuất phát từ Hiến
pháp là mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Năng lực pháp luậtdân sự của
cá nhân không bị hạn chế bởi bất cứ lý do nào, các cá nhân đều bình đẳngvề việc
hưởng quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự không phụ thuộc vào khả năngnhận
thức, thể chất,
+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là một thuộc tính nhân thân khôngthể
chuyển dịch. Năng lực pháp luật dân sự do pháp luật qui định, Nhà nước khôngcho
phép cá nhân tự hạn chế năng lực pháp luật dân sự của mình hay hạn chế năng
lực pháp luật dân sự của người khác.
+ Tính bảo đảm của năng lực pháp luật dân sự. Nhà nước luôn tạo điều kiện
để cho “khả năng” trở thành những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể thông qua các
qui địnhcủa pháp luật.
b. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự mà pháp luật quy định cho cá nhân.
Nội dung của năng lực pháp luật dân sự cá nhân được ghi nhận trong nhiều văn
bản pháp luật khác nhau, tập trung chủ yếu trong Hiến pháp và trong Bộ luật Dân
sự. Có thể liệt kê một số quyền và nghĩa vụ như sau:
- Cá nhân có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, thu
- Mất năng lực hành vi dân sự: Khi một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các
bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, thì theo yêu
cầu của người có quyền, lợi ích có liên quan Toà án ra quyết định tuyên bố mất
năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền.
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Theo qui định của Bộ luật Dân sự việc tuyên bố mất năng lực hành vì thuộc thẩm
quyền của Toà án và theo thủ tục tố tụng dân sự. Trước khi đưa vụ án ra xét xử để
quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Toà án phải trưng cầu giám định
và có kết luận của tổ chức giám định pháp y tâm thần (chứ không phải của cơ sở y
tế khác) để tránh tình trạng cósai sót, nhầm lẫn trong việc quyết định.
- Không có năng lực hành vi dân sự: Người chưa đủ 6 tuổi thì không có năng
lực hành vi dân sự, mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều do người
đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
- Hạn chế năng lực hành vi dân sự: Điều 23 Bộ luật Dân sự qui định: “ Người
nghiện ma tuý hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia
đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích có liên quan, cơ quan hoặc tổ
chức hữu quan Toà án ra quyết định là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
5 Pháp nhân
a. Khái niệm pháp nhân
Ngoài cá nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách chủ thể độc lập
còn có các tổ chức, cơ quan Nhà nước. Các tổ chức tham gia vào các quan hệ pháp
luật với tư cách là chủ thể riêng biệt trong các quan hệ pháp luật nói chung và pháp
luật dân sự nói riêng, pháp luật dân sự đưa ra khái niệm pháp nhân để phân biệt với
cá nhân.
Vấn đề đặt ra là tại sao lại có pháp nhân, có thể đưa ra một số lý do sau:
- Có nhu cầu tập hợp nhiều người thành một tập thể để hành động vì một mục
tiêu nhất định.
- Có sự cần thiết phải đảm bảo sự an toàn, sự ổn định nhất định cho các quanhệ
sức để thực hiện một công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm
là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Kinh tế hợp tác mà tổ hợp tác là một loại
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
hình tổ chức đơn giản, một yêu cầu tất yếu nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích của việc
phối hợp những nỗ lực chung của người lao động, thông qua con đường liên kết tự
nguyện, phát huy sức mạnh cộng đồng, tương trợ lẫn nhau để giải quyết những vấn
đề sản xuất kinh doanh. Khi đủ điều kiện trở thành pháp nhân thì đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Đại diện
Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh một người khác (người
được đại diện) thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
Quan hệ đại diện được xác lập theo qui định của pháp luật hoặc theo uỷ quyền.
Trường hợp pháp luật qui định phải tự mình thực hiện giao dịch dân sự thì cá nhân
không được uỷquyền cho người khác đại diện cho mình.
I. Tài sản, quyền sở hữu và quyền thừa kế
1. Tài sản
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
- Vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó của
con người. Không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất cũng được coi là
khách thể của quan hệ pháp luật dân sự như nước dưới sông, không khí, nhưng
khi con người đóng chai, bình khí đem bán coi là khách thể của quan hệ pháp luật.
- Tiền là một loại hàng hoá, một vật cùng loại đặc biệt trong lưu thông dân sự.
Tiền là phương tiện lưu thông và thanh toán, tiền được xác định bằng số lượng
biểu hiện tiền tệ giấy bạc chứ không phải là số tờ giấy bạc. Với tư cách là khách
thể của QHPLDS tiền chủ yếu đóng vai trò thanh toán các khoản nợ, có thể thay
thế các vật khác. Tuy nhiên với tư cách là đại diện cho chủ quyền quốc gia người
sở hữu tiền phải tuân thủ nghiêm ngặt những qui định của pháp luật.
- Giấy tờ có giá như: các loại séc, cổ phiếu, công trái, sổ tiết kiệm,
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
quy định. Chẳng hạn Điều 242 qui định: ”Người bắt được gia súc bị thất lạc phải
nuôi giữ và báo cho UBND xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú để thông báo
công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại“. Trong thời gian chủ sở hữu chưa đến
nhận lại thì là chiếm hữu hợp pháp.
- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật (chiếm hữu bất hợp pháp).
Chiếm hữu bất hợp pháp là bị chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật nên
không được pháp luật thừa nhận.
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là hợp người chiến
hữu không biết và không thể biết mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật.
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình đó là trường hợp
người chiếm hữu biết hoặc pháp luật buộc phải biết là mình chiếm hữu không dựa
trên cơ sở pháp luật.
b. Quyền sử dụng
Là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, nghĩalà chủ sở
hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng những cáchthức
khác nhau nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất tinh thần của bản thân miễn là không
gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác. Cũng như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
không chỉ thuộc về chủ sở hữu tài sản mà còn thuộc về những người không phải
chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu giao quyền hoặc theo qui định của pháp luật
(người mượn tài sản, thuê tài sản thông qua các hợp đồng dân sự, ).
Ngoài ra, pháp luật còn qui định người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản theo qui định pháp luật. Bởi lẽ, những người này họ hoàn toàn không biết mình
đang chiếm hữu tai sản mà không có căn cứ luật định.
c. Quyền định đoạt
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
b. Người thừa kế
Đối với người thừa kế theo pháp luật là cá nhân được hưởng thừa kế theo hàng
thừa kế quy định tại Điều 676 hoặc thừa kế thế vị theo Điều 677 Bộ luật dân sự.
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Người thừa kế phải
đảm bảo điều kiện sau:
* Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh
ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại
di sản chết.
* Người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế, nghĩa là chưa bị giải thể, phá sản, theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế nhưng đến khi chia di sản lại không còn tồn tại thì có được hưởng
thừa kế hay không
III. Pháp luật về hợp đồng
1. Khái niệm
Pháp lệnh Hợp đồng dân sự được ban hành (có hiệu lực từ 01.7.1991) thì khái
niệm hợp đồng dân sự được quy định như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong
mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ
hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một trong các bên nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng"
Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ xác định là
sự thỏa thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong muốn của họ.
Nguyên tắc này tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các nước. Hợp đồng được xác
lập do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn, là không phù hợp với ý muốn của các bên.
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Việc xác định các bên có mong muốn thực sự khi tham gia vào quan hệ hợp đồng
kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác". Khi hợp đồng
có hiệu lực buộc các bên tham gia phải thực hiện đúng các điều khoản theo hợp
đồng đã cam kết thỏa thuận, trong các bên không được tự ý sửa đổi, hủy bỏ hợp
đồng. Hợp đồng dân sự có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ, nếu có thỏa thuận hoặc pháp
luật có quy định.
B. TÌM HIỂU VỀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
II.1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự;
trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án
dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là
việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi
chung là vụ việc dân sự) tại Toà án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa
vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang
nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau
đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết
các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Bộ luật tố tụng dân sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
của cá nhân, cơ quan, tổ chức; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật.
II.2. Những nguyên tắc cơ bản
* Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận
Đặc trưng của giao lưu dân sự mang tính chất ý chí và quyền tự định đoạt của
- Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27
của Bộ luật này;
- Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g,
h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;
- Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.
- Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có
đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan
Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.
2. Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ
việc sau đây:
- Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều
33 của Bộ luật này;
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
- Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 Điều
33 của Bộ luật này.
- Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này.
II.4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người
tiến hành tố tụng.
Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:
- Toà án nhân dân;
- Viện kiểm sát nhân dân.
- Tham gia xét xử các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự.
- Tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy
định của Bộ luật này.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà.
- Đề nghị Chánh án Toà án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm
quyền.
- Tham gia xét xử các vụ án dân sự.
- Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử khi xét xử vụ án dân sự.
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát
- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng dân sự;
- Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên toà xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải
quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này;
- Kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng
của Kiểm sát viên;
- Quyết định thay đổi Kiểm sát viên;
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết
định của Toà án theo quy định của Bộ luật này;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật này.
II.5. Thành phần giải quyết vụ việc dân sự
Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 6 Điều 28, khoản 2 và khoản 3 Điều 30,
Điều 32 của Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định
giải quyết việc dân sự do một tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết.
thể được Toà án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người
mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.
- Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định
của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định được các bên đương sự thoả
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
thuận lựa chọn hoặc được Toà án trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu
cầu của một hoặc các bên đương sự.
- Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng
Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được
tiếng Việt. Người phiên dịch được các bên đương sự thoả thuận lựa chọn và được
Toà án chấp nhận hoặc được Toà án yêu cầu để phiên dịch.
- Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và
người đại diện theo uỷ quyền.
II.7. Chứng minh và chứng cứ
Nghĩa vụ chứng minh : Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn
cứ và hợp pháp. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải
chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.
Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa
ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và
hợp pháp. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra
được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc
không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Chứng cứ: Trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân,
cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định
yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng
SVTH : Hà Văn Ninh
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
+ Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
+ Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác.
+ Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước;
phong toả tài sản ở nơi gửi giữ.
+ Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ.
+ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định.
+ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định.
II.9. Án phí, lệ phí, các chi phí tố tụng khác
- án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
- Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định và các giấy tờ khác của
Toà án, lệ phí nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc
dân sự và các khoản lệ phí khác mà pháp luật có quy định.
- Nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu
của họ không được Toà án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí sơ
thẩm hoặc không phải nộp án phí sơ thẩm.
- Nghĩa vụ nộp án phí phúc thẩm: Đương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc
thẩm, nếu Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp án phí phúc thẩm.
- Nghĩa vụ nộp lệ phí được xác định tuỳ theo từng loại việc dân sự cụ thể và do
pháp luật quy định.
II.10. Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông
báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân,
cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật này.
GVHD: Nguyễn Thị Sáu Lớp: CDDI12TH
SVTH : Hà Văn Ninh