Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự việt nam hiện hành - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ NGỌC TRANG

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ NGỌC TRANG

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN CÔNG BÌNH

Hà Nội – 2015

vụ việc dân sự. ......................................................................................... 19
1.3. Sơ lƣợc về sự phát triển của các quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc
dân sự của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay ..........20
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1959 ......................................................... 20
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến 1989................................................... 22
1.3.3. Giai đoạn từ 1990 đến 2004 ......................................................... 23
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay. ................................................... 25
Chƣơng 2:NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC DÂN SỰ ............................................................................................... 30
2.1. Các quy định về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự.. .............. 30
2.1.1. Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ
của họ không được thừa kế ........................................................................... 30


2.1.2. Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không
có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của các
cơ quan, tổ chức đó . ...................................................................................... 32
2.1.3 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc
người khởi kiện không có quyền khởi kiện .............................................. 34
2.1.4. Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có
nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án.. 40
2.1.5. Các đương sự đã tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục
giải quyết vụ án ....................................................................................... 41
2.1.6. Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt, trừ trường hợp người đó có đơn giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện
bất khả kháng .......................................................................................... 42
2.1.7. Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ
án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó .... 43



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

DTBLTTDS

: Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên
họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015.

LSĐBSBLTTDS

: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004

NQ 05/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án
cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
NQ 06/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ ba: “Thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân
sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
BLDS

: Bộ luật Dân sự 2005

VVDS

: Vụ việc dân sự


VAKT

: Vụ án kinh tế

VALĐ

: Vụ án lao động

NLHVTTDS

: Năng lực hành vi tố tụng dân sự


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc Toà án giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) là nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp do thiếu
thận trọng nên Tòa án đã thụ lý cả những vụ việc không đảm bảo các điều
kiện thụ lý mà pháp luật quy định. Ngoài ra, cũng có những trường hợp việc
thụ lý vụ việc của Tòa án là đúng pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết
đã phát sinh một số sự kiện làm cho đối tượng của vụ việc cần phải giải quyết
tại Tòa án không còn tồn tại hoặc được suy đoán là không tồn tại. Trong
những trường hợp như vậy, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết
vụ việc để giải phóng cho các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn bị coi là một

số năm thực hiện cho thấy, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành về đình chỉ giải quyết VVDS vẫn chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn đến
những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ việc
dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài luận
văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi BLTTDS được ban hành cũng đã có một số tác giả nghiên
cứu và có bài viết về vấn đề này như: bài viết “Vì sao những bản án kinh tế bị
hủy, bị sửa phải xét xử lại vụ án, phải đình chỉ việc giải quyết vụ án”của tác
giả Nguyễn Bá Châu đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000. Sau khi
BLTTDS được cũng đã có một số tác ban hành giả tiếp tục nghiên cứu và có
bài viết như:“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Triều
Dương – Tạp chí Luật học số đặc san về BLTTDS; bài viết “Đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự” của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

2


lập pháp, số 7 (tháng 7/2005); bài “Quy định về đình chỉ trong BLTTDS”
đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 (41)/2007 của tác giả Tống Công
Cường; bài viết“Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự ở Tòa án cấp phúc thẩm”của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí
Luật học số 7/2010; luận văn thạc sĩ “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ
VDS theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004” của tác giả Phạm
Hải Tâm, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010... Tuy nhiên, mỗi
bài viết nghiên cứu vấn đề ở một góc độ khác nhau hoặc chỉ giải quyết những
khía cạnh riêng biệt về đình chỉ giải quyết VVDS. LSĐBSBLTTDS được ban
hành với một số điều khoản quy định về đình chỉ giải quyết VVDS cũng được
sửa đổi, bổ sung đáng kể. Từ khi Luật này có hiệu lực cho đến nay, chưa có

- Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS tại các Toà án, phát hiện
những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng;
- Tìm được các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc
về đình chỉ giải quyết VVDS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, việc
nghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu
khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp... Từ đó, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các kiến nghị.
6. Những điểm mới và đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên
quan đến đình chỉ giải quyết VVDS, có những điểm mới và đóng góp cho khoa
học chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự ở những điểm sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm, làm rõ đặc điểm và ý nghĩa của việc đình chỉ
giải quyết VVDS; cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về đình chỉ

4


giải quyết VVDS; sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình
chỉ giải quyết VVDS từ năm 1945 đến nay.
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS và thực tiễn thực hiện tại
các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây.
- Phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS và
thực tiễn thực hiện đồng thời đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn

Hoàng Ngọc Thỉnh: “Trong hầu hết các vụ án dân sự đều có các tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự mà họ không thể thương lượng
tự giải quyết được, do đó họ phải yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ngoài
những vụ án nói trên, cũng còn một số vụ án mà giữa các bên đương sự
không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ” [4, tr 7-8]. Tinh thần này được
tác giả tiếp tục khẳng định: “Có thể chia vụ án dân sự ra làm hai loại: Loại
thứ nhất là việc kiện dân sự... Loại thứ hai là việc dân sự” [5, tr 8]
BLTTDS và LSĐBSBLTTDS đã quy định hai loại trình tự, thủ tục
riêng là trình tự, thủ tục giải quyết VADS và trình tự, thủ tục giải quyết việc
dân sự. Dựa trên cơ sở quy định tại Điều 1 và các điều từ Điều 25 đến Điều
32, Điều 311 BLTTDS, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về
VVDS. Theo Tiến sĩ Nguyễn Công Bình “Các vụ việc phát sinh từ quan hệ
pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động
do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó, đối với những việc
có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự;

6


đối với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
được gọi là việc dân sự”[6, tr. 9]. Tiến sĩ Đinh Trung Tụng cũng đưa ra một
khái niệm tương tự theo hướng VVDS, bao gồm cả VADS có tranh chấp và
việc dân sự không có tranh chấp [4, tr.20].
Như vậy, từ khi BLTTDS được ban hành khái niệm VADS đã có sự
thay đổi về cơ bản. Trước đây, VADS bao gồm cả việc có tranh chấp dân sự
và việc không tranh chấp, trong khi đó VAKT và VALĐ chỉ bao gồm các việc
có tranh chấp. Theo quy định của BLTTDS, VVDS là một khái niệm rộng bao
hàm các việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp
luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động gọi
là VADS và các việc về dân sự, hôn nhân gia và gia đình, kinh doanh, thương

VADS là một trong những cách thức để cơ quan tố tụng kết thúc vụ án khi có
những căn cứ luật định. Tuy vậy, xoay quanh khái niệm đình chỉ giải quyết
VADS cũng có nhiều quan điểm, giải thích khác nhau:
Theo tác giả Tống Công Cường: “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt
tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay
hòa giải” [1, tr. 290]. Quan điểm này cũng đã chỉ ra được hậu quả pháp lý của
đình chỉ giải quyết VADS là làm chấm dứt mọi hoạt động tố tụng. Tuy nhiên,
định nghĩa này chưa nêu lên được căn cứ đình chỉ phải do pháp luật quy định
cũng như thẩm quyền đình chỉ thuộc về cơ quan nào. Mặt khác, quan điểm này
cho rằng đình chỉ giải quyết VADS là chấm dứt tố tụng không qua xét xử hay
hòa giải cũng chưa chính xác. Bởi theo quy định tại Điều 265 BLTTDS sửa đổi
thì Tòa án vẫn có thể có quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên tòa. Điều đó
có nghĩa việc đình chỉ giải quyết vụ án vẫn có thể được thực hiện khi vụ án đã
được hòa giải không thành và đưa ra xét xử tại phiên tòa.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Công Bình, đình chỉ giải quyết VADS là việc
“Tòa án ngừng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý...Việc đình chỉ giải

8


quyết vụ án có thể được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm” [4. tr. 190-191]. Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng:
“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định”[1. tr 270].
Cũng theo tác giả này, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án chấm
dứt hoàn toàn các hoạt động tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án
[11.tr. 354]. Có thể nói đó là những quan điểm khá đầy đủ về đình chỉ giải
quyết VADS, đã phản ánh được nội dung, bản chất và hậu quả pháp lý của nó.
Tác giả đã thể hiện được cách nhìn của mình về đình chỉ dưới góc độ là một
quyết định kết thúc việc giải quyết VADS.

đã thụ lý vụ việc khi VADS hoặc VDS không thỏa mãn các điều kiện của việc
thụ lý theo quy định của pháp luật. Do vậy, để khắc phục những sai lầm này,
Tòa án cần phải chấm dứt ngay việc giải quyết vụ việc mà mình đã thụ lý.
Ngoài ra cũng có những trường hợp việc thụ lý vụ việc của Tòa án là đúng
pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết đã phát sinh một số sự kiện làm
cho đối tượng của VVDS cần phải giải quyết không còn nữa, khi đó Tòa án
cũng cần phải chấm dứt việc giải quyết VVDS. Tùy theo trường hợp, việc
chấm dứt giải quyết VVDS có thể được tiến hành ở cấp tòa sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Từ những phân tích trên và kế thừa các kết quả nghiên cứu của những nhà
nghiên cứu trước đây, có thể rút ra kết luận về đình chỉ giải quyết VVDS như
sau: “Đình chỉ giải quyết VVDS là việc Tòa án quyết định ngừng hẳn việc giải
quyết VADS hoặc VDS đã thụ lý khi có những căn cứ do pháp luật quy định
và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết VVDS có hiệu lực pháp luật thì
đương sự không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc đó
nữa, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác.”
1.1.2. Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Việc đình chỉ giải quyết VVDS có những đặc điểm sau đây:

10


Thứ nhất, đình chỉ giải quyết VVDS là một quyết định kết thúc việc
giải quyết một VADS hoặc VDS.
Đây là điểm khác biệt cơ bản của đình chỉ giải quyết VVDS với tạm
đình chỉ giải quyết VVDS. Tạm đình chỉ giải quyết VVDS được hiểu là việc
Tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết VADS hoặc VDS đã thụ lý
trong một thời hạn nhất định khi có những căn cứ do pháp luật quy định; khi
lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì Tòa án lại tiếp tục giải quyết VADS
hoặc VDS đó. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VVDS chỉ có ý nghĩa về

của VVDS không còn và Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS
hoặc VDS đã thụ lý. Tuy vậy, đối với những trường hợp trong VADS đương
sự đưa ra nhiều yêu cầu nhưng không rút hết yêu cầu hoặc trong vụ án có
nhiều đương sự đưa ra yêu cầu mà có đương sự rút yêu cầu nhưng đương sự
khác vẫn giữ yêu cầu của mình thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ giải
quyết VADS mà chỉ quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự đã
rút, những yêu cầu còn lại Tòa án vẫn phải xem xét, giải quyết. Thực chất đây
là trường hợp trong VADS có nhiều quan hệ pháp luật phải giải quyết và Tòa
án chỉ đình chỉ giải quyết một phần của VADS.
Thứ hai, đình chỉ giải quyết VVDS phải dựa trên những căn cứ mà
pháp luật đã quy định trước chứ không được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủ
quan của Tòa án.
Để đảm bảo việc giải quyết VVDS một cách khách quan, đúng đắn và
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định cụ thể
các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS. Theo đó, các căn cứ đình chỉ giải quyết
VVDS ở các Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm và tái
thẩm không giống nhau. Trong quá trình giải quyết VVDS, căn cứ vào các
căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS do pháp luật quy định, Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ việc theo đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy

12


định. Tòa án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc một cách
tùy tiện khi không có những căn cứ do pháp luật quy định.
Thứ ba, việc đình chỉ giải quyết VVDS trước phiên tòa do Thẩm phán
được phân công giải quyết vụ việc quyết định; việc quyết định có đình chỉ
giải quyết VADS tại phiên tòa hay không do Hội đồng xét xử, Hội đồng giải
quyết VDS hoặc Thẩm phán phụ trách giải quyết VDS quyết định.
Việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm,

chỉ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm. Nói cách khác, đình chỉ xét xử phúc
thẩm làm chấm dứt hoạt động xét xử phúc thẩm đối với vụ án có kháng cáo,
kháng nghị nhưng cũng đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án,
quyết định sơ thẩm, theo đó những quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết
định sơ thẩm của các đương sự phải được tôn trọng và thi hành. Thời điểm
đình chỉ xét xử phúc thẩm có thể trước phiên tòa, phiên họp phúc thẩm hoặc
tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm. Hình thức văn bản được áp dụng chung là
quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Nếu đình chỉ xét xử phúc thẩm trước
phiên tòa, phiên họp thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do
Thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết VVDS quyết định, còn tại
phiên tòa, phiên họp phúc thẩm do Hội đồng xét xử phúc thẩm VADS, Hội
đồng giải quyết phúc thẩm VDS quyết định. Quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật ngay.
Như vậy, đình chỉ giải quyết phúc thẩm VVDS khác với đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo, kháng nghị. Việc đình chỉ giải quyết VVDS có
thể được thực hiện ở Tòa án cấp phúc thẩm khi có những căn cứ mà pháp luật
quy định nhưng bản chất của nó là làm chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết vụ
việc đã được thụ lý từ cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết
định sơ thẩm và ngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng, vụ việc được xóa sổ và coi
14


như không còn tồn tại. Trong khi đó, đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ áp dụng
đối với trường hợp có việc rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm không dẫn tới hậu quả Tòa án cấp
phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và xóa sổ thụ lý vụ án mà trái lại
bản án, quyết định sơ thẩm vẫn có thể có hiệu lực pháp luật.
1.1.3. Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Như đã phân tích ở trên, trong nhiều trường hợp sau khi đã thụ lý vụ
việc, Tòa án mới phát hiện được VVDS đã được thụ lý mà không thỏa mãn

phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc. Nhờ đó gánh nặng về số VVDS
cần phải giải quyết được giảm tải, Tòa án có điều kiện tập trung giải quyết các
vụ việc cần thiết khác để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁP LUẬT
QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

1.2.1. Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết
vụ việc dân sự
Việc Tòa án chấm dứt giải quyết VVDS mà mình đã thụ lý là nhằm
khắc phục những sai lầm do việc thụ lý vụ việc không đúng đem lại hoặc giải
phóng cho các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn bị coi là một nghĩa vụ bắt buộc đối
với họ. Tuy nhiên, việc xác định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ việc không hợp
lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, người yêu cầu sẽ không
được Tòa án xem xét giải quyết và quyền tiếp cận công lý của công dân
không được đảm bảo nếu như trong trường hợp đó việc khởi kiện, yêu cầu lại
của đương sự không được pháp luật ghi nhận. Theo kết quả nghiên cứu thì
việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được dựa trên một số sự kiện như sự sai
lầm trong việc thụ lý vụ việc; đối tượng của việc giải quyết không còn do
đương sự chết, sự việc đã được giải quyết, các bên đã tự hòa giải hoặc từ bỏ
việc khởi kiện, yêu cầu hoặc được suy đoán là đã từ bỏ quyền khởi kiện,
quyền yêu cầu..... Cụ thể như sau:
- Phát hiện việc Tòa án thụ lý vụ việc không đúng.

16


Quyền khởi kiện, quyền yêu cầu là quyền quan trọng mà đương sự có
thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo
sự ổn định của các quan hệ pháp luật, trong một số trường hợp, nhà lập pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status