Báo cáo "Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự " - Pdf 12



Đặc san về bộ luật tố tụng dân sự
Tạp chí luật học 27

Nguyễn Triều Dơng *
ỡnh ch gii quyt v ỏn dõn s l
vic to ỏn quyt nh chm dt gii
quyt v ỏn dõn s nu sau khi th lý v ỏn
dõn s m phỏt hin ra mt trong cỏc cn
c phỏp lut quy nh. Vic ỡnh ch gii
quyt v ỏn dõn s ỳng n s sm chm
dt c vic gii quyt v ỏn, tit kim
c thi gian, tin ca ca ng s v
ca Nh nc. Tuy nhiờn, nu vic ỡnh
ch gii quyt v ỏn dõn s khụng ỳng s
khụng bo m c vic bo v quyn,
li ớch hp phỏp ca ng s. Vỡ vy, vn
xỏc nh rừ c cn c v hu qu ca
ỡnh ch gii quyt v ỏn dõn s cú tm
quan trng c bit.
1. Cn c ỡnh ch gii quyt v ỏn
dõn s
Trờn c s k tha v phỏt trin cỏc
quy nh ti iu 46 Phỏp lnh th tc gii
quyt cỏc v ỏn dõn s nm 1989, iu 39
Phỏp lnh th tc gii quyt cỏc v ỏn kinh
t nm 1994 v iu 41 Phỏp lnh th tc

tha k tham gia t tng hoc h phi tho
thun vi nhau bng vn bn c ngi
i din tham gia t tng. Trng hp tt
c ngi tha k u t chi nhn di sn
hoc khụng cú ngi tha k hoc cú
ngi tha k nhng ngi tha k khụng
c hng thỡ di sn thuc v Nh nc,
sau khi thc hin vic thanh toỏn cỏc ngha
v theo th t u tiờn quy nh ti iu
686 B lut dõn s. Trong cỏc trng hp

* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
28 T¹p chÝ luËt häc

này toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án.
- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc
bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó
Đây là trường hợp nguyên đơn, bị đơn
là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng
bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà
không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan,
tổ chức đó.
Tuy nhiên, trong trường hợp đương sự

điều bằng Nghị định số 125/2004/NĐ-CP
ngày 19/5/2004 của Chính phủ). Nếu tài
sản còn lại của tổ chức bị tuyên bố phá sản
hoặc bị giải thể chưa bị chia cho các thành
viên thì nghĩa vụ tài sản được thực hiện từ
toàn bộ số tài sản còn lại. Nếu tài sản còn
lại đã được chia cho các thành viên thì mỗi
thành viên tham gia tố tụng phải thực hiện
nghĩa vụ tài sản của tổ chức bị chấm dứt
hoạt động hoặc bị giải thể tương ứng với
phần tài sản mà mình đã nhận.
+ Trường hợp tổ chức bị giải thể hoặc
bị tuyên bố phá sản là công ty hợp danh thì
cá nhân, tổ chức là thành viên góp vốn chỉ
chịu trách nhiệm tài sản về các nghĩa vụ
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp
vào công ty còn các cá nhân là thành viên
hợp danh phải chịu trách nhiệm tài sản về
các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng toàn
bộ tài sản của mình (điểm b,c khoản 1
Điều 95 Luật doanh nghiệp).
+ Trường hợp cơ quan, tổ chức bị giải
thể hoặc bị tuyên bố phá sản là cơ quan
nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
doanh nhà nước thì đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các
quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó

thụ lý vụ án các cơ quan, tổ chức này lại
rút lại văn bản khởi kiện do không có
nguyên đơn hoặc nguyên đơn không yêu
cầu tiếp tục giải quyết vụ án làm cho cơ sở
của việc giải quyết vụ án không còn nữa.
- Các đương sự đã tự thoả thuận và
không yêu cầu toà án tiếp tục giải quyết
vụ án
Sau khi toà án đã thụ lý vụ án mà các
đương sự tự thoả thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án và không yêu cầu toà án
tiếp tục giải quyết vụ án làm cho đối tượng
cần giải quyết trong vụ án không còn nữa.
- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
Nguyên đơn là người cho rằng quyền
hay lợi ích của mình bị vi phạm do vậy đã
khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện
để bảo vệ quyền, lợi ích đó. Vì vậy,
nguyên đơn phải có mặt theo giấy triệu tập
của toà án để thực hiện các biện pháp hợp
pháp chứng minh cho yêu cầu của mình.
Tuy nhiên, nếu nguyên đơn đã được toà án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện
mà không cần xem xét đến việc vắng mặt
của nguyên đơn có lý do chính đáng hay
không có lý do chính đáng. Quy định này
khác với quy định trong Pháp lệnh thủ tục
giải quyết vụ án dân sự và Pháp lệnh thủ

Đây là những căn cứ đã phát sinh trước
khi toà án thụ lý vụ án, khi thụ lý vụ án
toà án phát hiện ra phải trả lại đơn khởi
kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo
cho đương sự theo quy định tại Điều 168
BLTTDS. Do vậy, sau khi thụ lý vụ án
mới phát hiện ra những căn cứ này thì toà
án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý
và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng
cứ kèm theo cho đương sự. Những căn cứ
này bao gồm:
- Thời hiệu khởi kiện đã hết;
- Người khởi kiện không có quyền khởi
kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố
tụng dân sự;
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ
trường hợp vụ án mà toà án bác đơn xin ly
hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức
cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc
vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi
nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà toà
án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều
kiện khởi kiện;
- Hết thời hạn được thông báo quy định
tại khoản 2 Điều 171 của BLTTDS mà
người khởi kiện không đến toà án làm thủ

3. Một số ý kiến về các quy định đình
chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Nghiên cứu các quy định của BLTTDS
về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, chúng
tôi thấy một số bất cập sau:
- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi
kiện trước phiên toà sơ thẩm nhưng không
được toà án chấp nhận thì toà án vẫn tiếp
tục giải quyết vụ án mà không thể ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 31

quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192
BLTTDS. Tuy nhiên, khi toà án tiếp tục
giải quyết vụ án mà triệu tập nguyên
đơn đến lần thứ hai để tham gia mà
nguyên đơn vẫn vắng mặt thì toà án lại
phải ra quyết định đình chỉ việc giải
quyết vụ án theo quy định tại điểm e
khoản 1 Điều 192 BLTTDS.
- Trước phiên toà sơ thẩm, nếu nguyên
đơn được toà án triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt thì toà án ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
(điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS). Hậu
quả là toà án chấm dứt toàn bộ việc giải
quyết vụ án và tiền tạm ứng án phí mà

tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập cũng phải nộp tiền tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm, nếu chỉ do nguyên đơn
không đến khi được toà án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà toà án ra quyết định đình
chỉ việc giải quyết vụ án dân sự (điểm e
khoản 1 Điều 192 BLTTDS) và xử lý sung
vào công quỹ nhà nước toàn bộ số tiền tạm
ứng án phí của đương sự đã nộp (khoản 2
Điều 193 BLTTDS) là chưa thoả đáng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền,
nghĩa vụ của nguyên đơn (khoản 2 Điều 61
BLTTDS). Trường hợp người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã
được toà án sơ thẩm triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ
bỏ yêu cầu độc lập của mình và toà án ra
quyết định đình giải quyết vụ án đối với
yêu cầu độc lập của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn và bị
đơn đều đồng ý. Trong trường hợp toà án
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện lại
đối với yêu cầu độc lập đó nếu thời hiệu
khởi kiện vẫn còn (khoản 3 Điều 201
BLTTDS). Tuy nhiên, trường hợp nguyên


khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu
phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ
nguyên yêu cầu độc lập của mình thì
người có quyền lợi liên quan trở thành
nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với
yêu cầu độc lập trở thành bị đơn (khoản 2
Điều 219 BLTTDS).
Tuy nhiên, trước phiên toà sơ thẩm mà
nguyên đơn rút đơn khởi kiện là tự nguyện
và được toà án chấp nhận thì toà án ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
(điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS). Vậy
trong trường hợp này bị đơn có yêu cầu
phản tố đối với nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập họ vẫn giữ nguyên yêu cầu và họ
đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
vậy yêu cầu của họ lại không được giải
quyết do vụ án đã bị chấm dứt. Như vậy có
thể thấy cùng một trường hợp nhưng việc
giải quyết trước phiên toà và tại phiên toà
sơ thẩm là chưa thống nhất.
- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi
kiện trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên
toà phúc thẩm thì hội đồng xét xử phải hỏi
bị đơn có đồng ý hay không. Nếu bị đơn
đồng ý thì hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên
đơn và hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết

thì cần áp dụng ngay các biện pháp xử lý
đối với đương sự để việc giải quyết vụ án
được nhanh chóng, kịp thời đồng thời hạn
chế việc đương sự cố tình gây khó khăn
cho toà án nhằm trì hoãn quá trình tố tụng.
- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi
kiện trước phiên toà sơ thẩm thì toà án ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu của nguyên đơn đã rút đơn, toà
án vẫn giải quyết các yêu cầu của các
nguyên đơn khác (nếu có). Nếu nguyên
đơn rút đơn khởi kiện mà bị đơn có yêu
cầu phản tố thì bị đơn trở thành nguyên
đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn. Nếu
nguyên đơn rút đơn khởi kiện, bị đơn rút
yêu cầu phản tố mà người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vẫn giữ yêu cầu độc lập
thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trở thành nguyên đơn còn người có nghĩa
vụ với yêu cầu này trở thành bị đơn.
- Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến
lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt không có lý
do chính đánh thì toà án quyết định đình
chỉ xét xử phần yêu cầu cầu của nguyên
đơn còn vẫn giải quyết yêu cầu phản tố của
bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
(nếu có). Trường hợp này cũng dẫn tới
việc thay đổi tư cách tố tụng như trường
hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status