MỤC LỤC
MỤC LỤC...........................................................................................................................................................................1
B. NỘI DUNG.....................................................................................................................................................................2
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ.........................................................2
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa...............................................................................................................................2
II. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ...........3
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm......................................................................................3
2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm.................................................................................6
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VADS Ở TÒA
ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM..................................................................................................................................8
1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.......................8
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm..........9
C. KẾT LUẬN....................................................................................................................................................................11
A. LỜI MỞ ĐẦU
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một chế định được đề cập khá nhiều và được Bộ
luật tố tụng dân sự 2004 nước ta quy định khá cụ thể. Trong nhiều trường hợp tòa án thụ
giải quyết vụ án, vấn đề đình chỉ sẽ đặt ra khi xuất hiện những căn cứ luật định như thụ lý
không đúng, đối tượng tranh chấp không còn,… Tuy nhiên, việc đình chỉ giải quyết vụ án
không đúng có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn sẽ không được tòa án giải
quyết. Do vậy ,việc nghiên cứu một cách toàn diện về đình chỉ, bản chất của đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự là rất cần thiết. Để làm rõ vấn đề trên, trong bài viết em xin trình bày:
1
Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN
SỰ
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa
sự khi việc tiếp tục tố tụng không còn cần thiết nữa.
- Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có ý nghĩa tiết kiệm thời gian, công sức,
chi phí cho nhà nước. Làm quá trình giải quyết vụ án được nhanh gọn. Nhờ đó gánh nặng
về các vụ án cần được tòa án giải quyết sẽ giảm tải.
1.4. Phân biệt đình chỉ với tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Tạm đình chỉ là việc tòa án ra quyết định tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự trong
một thời hạn nhất định và khi những lí do của việc tạm đình chỉ không còn thì tòa án lại tiếp
tục giải quyết vụ án đó. Ngược lại, đình chỉ là việc tòa án quyết định ngừng hẳn việc giải
quyết vụ án dân sự và sau khi quyết định đình chỉ có hiệu lực thì đương sự không có quyền
yêu cầu tòa án giải quyết vụ án đó nữa.
II. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH
CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm
1.1. Căn cứ đình chỉ
Theo khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của
mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS trong các trường hợp sau:
Căn cứ thứ nhất: Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của
họ không được thừa kế.
Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa
kế được hiểu là quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật không được để lại thừa kế cho
người khác. Điều này có nghĩa là các quyền, nghĩa vụ này là các quyền, nghĩa vụ về nhân
thân, không phải quyền, nghĩa vụ về tài sản. Do gắn liền với nhân thân, nên khi đương sự
chết, quyền và nghĩa vụ đương nhiên chấm dứt. Lúc này đương nhiên hoạt động tố tụng tại
tòa sẽ chấm dứt vì đối tượng xét xử không còn nữa.
Căn cứ thứ 2: Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó.
Đây là trường hợp nguyên đơn, bị đơn là cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng bị giải thể
hoặc bị tuyên bố phá sản thì tư cách pháp lý của các cơ quan tổ chức này không còn, các
quyền và nghĩa vụ cũng chấm dứt theo. Nếu không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào thừa
kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan tổ chức đó thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết
Khi nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án sẽ
đình chỉ vụ án mà không cần quan tâm đến việc vắng mặt của nguyên đơn có lý do chính
đáng hay không có lý do chính đáng. Đây là một quy định bất hợp lý, vì có thể vì một sự
kiện bất khả kháng nào đó mà nguyên đơn không thể đến được thì quyền, lợi ích hợp pháp
của họ sẽ không được giải quyết nữa. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã
khắc phục điều đó bằng quy định: “nếu trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng” thì trong trường hợp này Tòa án sẽ không được đình chỉ
VADS.
Căn cứ thứ bảy: Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX là
một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản
của DN, HTX đó.
Khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản của DN, HTX thì các quyền, nghĩa vụ sẽ được
giải quyết thông qua thủ tục phá sản. Các Tòa án không được nhận đơn khởi kiện, thụ lý
VADS có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà DN, HTX bị mở thủ tục phá sản đó là một bên
4
đương sự. Nếu do không biết mà thụ lý thì Tòa án đã thụ lý phải đình chỉ giải quyết VADS,
đồng thời phải chuyển hồ sơ cho Tòa án đang tiến hành mở thủ tục phá sản để giải quyết
(khoản 2 Điều 57 Luật phá sản).
Căn cứ thứ tám: Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Đây là các trường hợp làm căn cứ cho Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS
mà trong BLTTDS này chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các ĐƯQT mà Việt Nam là thành
viên (Theo nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006).
Ngoài ra, khoản 2 Điều 169 BLTTDS quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án
thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 168 BLTTDS.
Những căn cứ quy định tại Điều 168 BLTTDS bao gồm:
- Thời hiệu khởi kiện đã hết.
hiệu lực pháp luật và chấm dứt việc giải quyết vụ án đó. Tuy nhiên, quyết định này vẫn có
thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ.
- Hậu quả pháp lý: Khi Tòa án ra quyết định đình chỉ VADS thì hoạt động tố tụng chấm
dứt. Nhưng có một số trường hợp ngoại lệ sau đương sự vẫn có thể khởi kiện lại một vụ án
mới mặc dù trước đó đã bị đình chỉ giải quyết: Người khởi kiện rút đơn khởi kiện; Người
khởi kiện không có quyền khởi kiện; Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà
vẫn vắng mặt; Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX là một
bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của
DN, HTX đó.
- Về tiền tạm ứng án phí: Nếu đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192
BLTTDS thì tiền tạm ứng án phí sung công quỹ nhà nước. Nếu đình chỉ giải quyết vụ án
theo khoản 2 Điều 192 thì xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, tài liệu,
chứng cứ kèm theo cho đương sự trả lại tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp.
2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm
Gồm: Đình chỉ gải quyết VADS ở cấp phúc thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm.
2.1. Đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm
2.1.1. Căn cứ đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm
Căn cứ đình chỉ giải quyết VADS của tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại Điều 278
BLTTDS: “Hội đồng xét sử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu
trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường
hợp quy định tại Điều 192 của Bộ luật này”. Điều này có nghĩa là, các căn cứ đó đã xuất
hiện, tồn tại ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, lẽ ra Tòa án sơ thẩm phải phát hiện ra và ra quyết
định đình chỉ nhưng vụ án vẫn được giải quyết. Vì vậy nên, khi xem xét vụ án theo thủ tục
phúc thẩm, Tòa án phát hiện ra các căn cứ này nên phải đình chỉ giải quyết VADS.
Ngoài ra, theo Điều 269 BLTTDS, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì HĐXX phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không. Nếu
bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, ra quyết định hủy bản
án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
6
- Người kháng cáo rút tòa bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị.
Theo hướng dẫn của nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006, trường hợp người
kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo và Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi bắt đầu
hoặc tại phiên tòa thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ. Nếu người kháng cáo rút
một phần kháng cáo, Viện kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp rút một phần kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với những phần của vụ án đã được rút kháng cáo, kháng nghị.
7
- Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
2.2.2. Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm
quyền ra quyết định đình chỉ. Còn ở tại phiên tòa thì thẩm quyền đó thuộc về HĐXX.
2.2.3. Hình thức của quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VADS
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải lập thành văn bản theo mẫu 15, 16 tại Nghị
quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006.
2.2.4. Hiệu lực và hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VADS
- Hiệu lực: Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VADS có hiệu lực ngay. Đương sự,
Viện kiểm sát không thể kháng cáo, kháng nghị. Trừ trường hợp kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm.
- Hậu quả pháp lý: Khác với đình chỉ VADS ở cấp phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc
thẩm VADS không làm chấm dứt các quyền, nghĩa vụ về mặt nội dung mà chỉ làm chấm dứt
thủ tục tố tụng phúc thẩm. Cụ thể, đình chỉ xét xử phúc thẩm làm chấm dứt hoạt động xét
xử phúc thẩm nhưng đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ
thẩm.
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VADS Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự
không thấy đương sự có mặt, bưu điện không trả lại giấy triệu tập: đã kết luận ngay là
đương sự đó đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt. Như vậy là sai.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sơ
thẩm, phúc thẩm
2.1. Kiến nghị về xây dựng quy định pháp luật
- Một là, với căn cứ đình chỉ VADS quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS:
“Nguyên đơn hoặc bị đơn là các nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa
kế” thì cần hướng dẫn thêm mục sau: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di
chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhân di sản thì
đại diện của cơ quan Nhà nước nhận tài sản của bị đơn sẽ phải tham gia tố tụng thay bị
đơn”.
- Hai là, với trường hợp đình chỉ giải quyết VADS do người khởi kiện rút đơn khởi
kiện và được Tòa án chấp nhận, hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo điểm
c khoản 1 Điều 192 BLTTDS cũng cần hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng được chính xác.
Khi người khởi kiện là người đại diện theo ủy quyền thì Tòa án không được đình chỉ giải
quyết VADS ngay mà phải xem xét phạm vi hợp đồng ủy quyền giữa nguyên đơn và người
được ủy quyền.
- Ba là, với căn cứ đình chỉ VADS theo điểm d khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Thì nếu cơ
quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích cho người khác mà rút đơn khởi kiện thì
việc Tòa án ra quyết định đình chỉ ngay mà không hỏi ý kiến nguyên đơn thì đó là điều
không hợp lý. Do vậy, căn cứ này cần quy định như sau cho hợp lý: bỏ cụm từ “trong
trường không có nguyên đơn” và sửa lại thành “Cơ quan, tổ chức khởi kiện thay nguyên
đơn rút văn bản khởi kiện và nguyên đơn có yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án”.
9
- Bốn là, trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án do các đương sự đã thỏa thuận và không
yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Sau khi
thỏa thuận đơng sự có trách nhiệm thông báo cho Tòa án biết và yêu cầu Tòa án không giải
quyết vụ án nữa. Nếu đương sự không có thông báo thì vụ án vẫn được tiến hành xét xử. Do
VADS theo khoản 2 Điều 192 có được khởi kiện lại hay không. Về nguyên tắc đương sự
không có quyền khởi kiện lại. Tuy nhiên, trường hợp đình chỉ do chưa đủ điều kiện khởi
10
kiện mà họ đã khắc phục được thì tại sao không cho họ có quyền khởi kiện lại? Do đó vấn
đề này nên quy đinh như sau: “Nếu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ theo khoản 2
điều 192 BLTTDS thì không được khởi kiện lại, trừ trường hợp tại điểm b,d,đ khoản 1 Điều
168 BLTTDS”.
2.2. Kiến nghị về công tác thực hiện pháp luật
- Một là, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ
cán bộ ngành Tòa án.
- Hai là, có kế hoạch đào tạo, sắp xếp để khắc phục tình trạng thiếu cán bộ thẩm phán
hiện nay.
- Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới mọi người dân.
- Bốn là, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án.
C. KẾT LUẬN
Trên đây là những phân tích của em về vấn đề đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp
sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Qua sự phân tích trên,
có thể thấy các quy định về đình chỉ giải quyết VADS là rất quan trọng trong tố tụng dân sự,
việc đình chỉ đúng đắn góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, giúp
Tòa án giải quyết VADS một cách nhanh chóng, đúng pháp luật. Tuy nhiên, các quy định
của pháp luật về đình chỉ cũng như quá trình áp dụng các quy định này vẫn còn một số điểm
bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Việc xây dưng tốt các quy định của BLTTDS về
đình chỉ giải quyết VADS không chỉ đáp ứng những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
mà còn góp phần hết sức quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả giải quyết VADS.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Hà Nội, 2009.
2. Bộ Luật tố tụng dân sự 2004.
3. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006.