Thủ tục tố tụng dân sự được toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm áp dụng trong trường hợp đương sự chết và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này - Pdf 27

MỤC LỤC
A.ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………… 2
B.NỘI DUNG……………………………………………… 2
1. Đương sự trong tố tụng dân sự…………………………………………….2
2. Thủ tục tố tụng dân sự được tòa án cấp sơ thẩm áp dụng
trong trường hợp đương sự chết………………………………….………….3
3. Thủ tục tố tụng dân sự được tòa án cấp phúc thẩm áp dụng
trong trường hợp đương sự chết…………………………………………… 6
4. Những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật…………………………7
5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này…………………………….8
C.KẾT LUẬN………………………………………………… 9
1
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình tố tụng dân sự thường có rất nhiều đương sự liên quan đến vụ
án . Có rất nhiều trường hợp có thể xảy ra đối với các đương sự vì vậy pháp luật đã
đưa ra những quy định dự báo về những trường hợp có thể xảy ra đó .Trong đó có
trường hợp đương sự chết , vì vậy để làm rõ hơn về các thủ tục tố tụng dân sự được
toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm áp dụng trong trường hợp đương sự chết em x trình
bày đề tài: “Thủ tục tố tụng dân sự được toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm áp dụng trong
trường hợp đương sự chết và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”.
B.NỘI DUNG
1. Đương sự trong tố tụng dân sự
Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân , cơ quan , tổ chức bao gồm nguyên
đơn , bị đơn , người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan . Đương sự là cá nhân bao gồm
người Việt Nam , người có quốc tịch nước ngoài , người không có quốc tịch .
Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc
lĩnh vực mình phụ trách.Việc giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án là do nhu cầu giải
quyết các quan hệ pháp luật nội dung giữa các đương sự để ổn định xã hội, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp giữa các đương sự là một thành phần chủ yếu của vụ việc dân
sự. Mặt khác, đương sự cũng chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung được

tụng giải quyết vụ án dân sự phải được ngừng lại. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự xóa tên vụ án dân sự trong sổ thụ lý.

2.2. Khi đương sự chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế.
Trong trường hợp sau khi Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự mà có đương sự là cá
nhân chết hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức bị giải thể, bị tuyên bố phá sản hoặc hợp
nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức tổ chức thì có thể quá trình
giải quyết vụ việc bị đình chỉ, tạm đình chỉ nhưng có những trường hợp quyền và
nghĩa vụ của đương sự được dịch chuyển cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Các
cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng tiếp tục tham gia tố
tụng.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định để tạm
ngừng việc giải quyết vụ án dân sự thì tòa án sẽ ra quyết định tạm ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự - quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Đặc điểm của
việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tạm thời
cho ngừng việc giải quyết vụ án dân sự chứ không phải cho ngừng hẳn việc giải
quyết vụ án dân sự. Tính chất gián đoạn tạm thời này sẽ được khắc phục, mọi hoạt
động tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn
nữa. Theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự, một trong các căn cứ tạm đình
chỉ việc giải quyết vụ án dân sự là “đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã
sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó”. Trong quá trình tòa án đang tiến
hành giải quyết vụ án thì có thể xảy ra việc đương sự là cá nhân chết làm gián đoạn
việc giải quyết vụ án. Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện theo
quy định tại Điều 62 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
4
theo đó, trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa
vụ về tài sản của họ được người thừa kế tham gia tố tụng (khoản 1, Điều 62 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004). Người thừa kế của đương sự được xác định theo quy định về
thừa kế của Bộ luật dân sự năm 2005. Nếu trong trường hợp có nhiều người thừa kế

vào sổ thụ lý số, ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự đó. Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, pháp luật không quy định cụ
thể. Tuy nhiên, sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, nếu thấy có lý do
hay căn cứ tạm đình chỉ không còn thì tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án.

3. Thủ tục tố tụng dân sự được tòa án cấp phúc thẩm áp dụng trong trường hợp
đương sự chết.
3.1 .Khi đương sự chết mà không có người kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương
sự đó.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi,
bổ sung năm 2011), tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
trong trường hợp sau:
“a) Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ
luật này…”
Tại Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì
“Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu
trong quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường
6
hợp quy định tại Điều 192 của Bộ luật này.” Như vậy, nếu như đương sự chết trong
quá trình giải quyết tại tòa án cấp sơ thẩm mà sang đến cấp phúc thẩm thì về thủ tục
tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án.
3.2 .Khi đương sự chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế.
Nếu có căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án như ở cấp sơ thẩm thì tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Các quy định về căn cứ tạm đình
chỉ, hậu quả của việc tạm đình chỉ và tiếp tục giải quyết vụ án sau khi có quyết định
tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được thực hiện theo các quy định tương ứng về tạm
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm được quy định tại các điều 189,
190, 191 Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật

cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó.
Đối với trường hợp này thì pháp luật có quy định sẽ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ
việc dân sự. Vậy trong trường hợp đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã
sáp nhập, chia tách, giải thể mà có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan tổ chức đó thì luật tố tụng dân sự chưa có điều luật
quy định rõ ràng về việc này. Tại điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định
8
về việc tiếp tục giải quyết vụ án dân sự bị tạm đình chỉ: “Tòa án tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự bị tạm đình chỉ khi lý do tạm đình chỉ không còn”. Pháp luật cần có quy
định rõ ràng hơn về việc lý do tạm đình chỉ không còn nói chung là đối với trường
hợp đương sự chết nói riêng. Về thủ tục sau khi tạm đình chỉ mà lý do tạm đình chỉ
không còn thì cần có những thủ tục gì đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của đương sự để tiếp tục tham gia tố tụng trong trường hợp một thời gian dài
sau mới phát hiện được có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi
đương sự chết.
Thứ ba về bổ sung quy định về thủ tục áp dụng khi đương sự là người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan chết, đảm bảo được quyền lợi của các đương sự khác còn
sống;
Cần tăng trách nhiệm của Nhà nước khi nhà nước được hưởng tài sản của
đương sự chết mà không có người thừa kế, đảm bảo quyền lợi của đương sự còn lại.
Ngoài ra, cũng cần đầu tư cho quá trình nghiên cứu lập pháp, tập trung bồi
dưỡng nguồn nhân lực để tạo ra nguồn pháp luật hoàn thiện nhất, nâng cao hiệu quả
áp dụng và thực hiện pháp luật.
C.KẾT LUẬN
Qua những tìm hiểu trên có thể thấy thủ tục tố tụng dân sự được toà án cấp sơ thẩm,
phúc thẩm áp dụng trong trường hợp đương sự chết vẫn còn một số hạn chế . Vì vậy
cấp thiết cần phải có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện pháp luật tránh những sai
sót không đáng có trong việc giải quyết vụ án .
DANH MỤC THAM KHẢO
1. Giáo trình luật tố tụng dân sự - NXB Tư pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status