Bài Tiểu Luận Môn Thương Mại 2
Nhóm 3
Đại học Luật Huế
MỤC LỤC
Đại học Luật Huế...................................................................................................................................1
MỤC LỤC...............................................................................................................................................1
A. LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................................................1
B. NỘI DUNG.........................................................................................................................................3
I. BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG................................................................................................3
1. Khái niệm...........................................................................................................................................3
2. Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng................................................................3
3. Nội dung chế tài............................................................................................................................3
II. TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG, ĐÌNH CHỈ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG, HỦY BỎ HỢP ĐỒNG.......4
1. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng....................................................................................................4
2. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.........................................................................................................5
3. Hủy bỏ hợp đồng (Điều 312, Luật Thương Mại năm 2005)...........................................................5
III. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG,
TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG VÀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG..........................7
1. Về buộc thực hiện đúng hợp đồng....................................................................................................7
2. Về tạm ngừng thực hiện hợp đồng...............................................................................................9
C. LỜI KẾT............................................................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................................................13
A. LỜI NÓI ĐẦU
GVHD: Nguyễn Thanh Tùng
Page 1
tích các hình thức chế tài. Từ đó, có một cách nhìn toàn diện hơn, đánh giá thực
trạng pháp luật đồng thời đã đưa ra một số kiến nghị đối với việc hoàn thiện và
áp dụng các quy định pháp luật về các hình thức chế tài thương mại để đạt hiệu
quả cao hơn trong việc thực hiện hợp đồng.
GVHD: Nguyễn Thanh Tùng
Page 2
Bài Tiểu Luận Môn Thương Mại 2
Nhóm 3
B. NỘI DUNG
I. BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
1. Khái niệm
Khoản 1, Điều 297, Luật thương mại 2005 quy định: “Buộc thực hiện
đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp
đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi
phạm phải chịu phí tổn phát sinh”.
Bản chất của chế tài này là bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong thương
mại phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm.
2. Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng áp dụng khi:
+ Có hành vi vi phạm hợp đồng
+ Có lỗi của bên vi phạm.
Việc các bên không thực hiện, thực hiện không đúng cam kết trong
hợp đồng như: không giao hàng, giao hàng thiếu, giao hàng sai chất lượng...là
cơ sở phát sinh chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Bên có quyền lợi bị vi
Nhóm 3
của hàng hóa, dịch vụ và yêu cầu bên vi phạm phải trả các chi phí sửa chữa cần
thiết.
Điều 298, Luật Thương Mại năm 2005 quy định: “Để áp dụng biện pháp
buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể gia hạn một
thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ.”
Việc gia hạn này hoàn toàn do bên bị vi phạm quyết định trên cơ sở xem
xét lợi ích của việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Vì vậy, việc gia hạn
để tiếp tục thực hiện hợp đồng nằm trong tiến trình áp dụng chế tài buộc thực
hiện hợp đồng và không phải là sự thoả thuận lại về thời gian thực hiện
hợp đồng giữa các bên. Nếu không có thỏa thuận nào khác, trong thời gian áp
dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên có quyền lợi bị vi phạm có
quyền yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại nhưng không
được áp dụng chế tài khác (tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ, huỷ bỏ
hợp đồng). Khi bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng
các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Theo quy định của pháp luật, bên bị vi phạm quyết định áp dụng chế
tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trước khi sử dụng các chế tài hợp đồng khác.
Bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong những
trường hợp mà việc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng không ảnh hưởng đến
lợi ích kinh tế của mình. Đối với những loại hàng hoá mang tính chất mùa, vụ,
phụ thuộc vào từng thời điểm trong năm (bánh trung thu, nước giải khát, chăn
đệm...) thì bên bị vi phạm không thể lựa chọn áp dụng chế tài buộc thực hiện
đúng hợp đồng nếu thời cơ tiêu thụ các loại sản phẩm trên đã hết. So với các
hình thức chế tài khác, buộc thực hiện đúng hợp đồng là một biện pháp chế tài
mang tính mềm dẻo, thiện chí và hiệu quả của nó có khả năng hạn chế thiệt hại.
II. TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG, ĐÌNH CHỈ THỰC
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là sự vi phạm hợp đồng của
một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục
đích của việc giao kết hợp đồng.
Hậu quả pháp lý
- Trường hợp chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình
chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện
nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với
việc áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng
Về thủ tục, khi áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên bị vi
phạm (bên bị áp dụng chế tài) phải thông báo việc tạm đình chỉ cho bên kia.
Nếu không thông báo, dẫn đến thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường cho họ.
3. Hủy bỏ hợp đồng (Điều 312, Luật Thương Mại năm 2005)
Hủy bỏ hợp đồng là việc bãi bỏ việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Hủy bỏ hợp đồng gồm:
- Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
- Hủy bỏ một phần hợp đồng là chỉ có phần hủy bỏ không phát sinh hiệu
lực kể từ thời điểm hủy bỏ còn các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu
lực.
Căn cứ áp dụng
Chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng khi xảy ra vi phạm hợp đồng
thuộc một trong các trường hợp:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ
hợp đồng.
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Hậu quả pháp lý
- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải
tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về
các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
hợp đồng có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các bên, đặc biệt là bên vi phạm
hợp đồng. Vì vậy, bên bị vi phạm không đương nhiên có quyền đơn phương
tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng, trừ khi pháp luật có quy định khác.
Ví dụ: Bên mua hàng có quyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các
trường hợp:
+ Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa đối thì có quyền tạm ngừng
việc thanh toán
+ Bên mua có bằng chứng về việc có hàng hoá đang là đối tượng bị tranh
chấp thì có quyền yêu cầu tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã
được giải quyết
+ Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp
với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc
phục sự không phù hợp đó
Bên bị vi phạm chỉ có quyền đơn phương tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ
bỏ hợp đồng, nếu trong hợp đồng đã có thoả thuận vi phạm của bên kia là điều
kiện để tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Mặt khác, để đảm bảo
quyền lợi của bên vi phạm hợp đồng, Luật còn quy định hành vi vi phạm cơ bản
nghĩa vụ hợp đồng của một bên cũng là căn cứ để bên kia có quyền tạm ngừng,
đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Theo khoản 13, Điều 3, Luật thương mại 2005:
“Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây
GVHD: Nguyễn Thanh Tùng
Page 6
Bài Tiểu Luận Môn Thương Mại 2
Nhóm 3
vụ trong hợp
nghĩa đồng.
vụ của - Bên bị vi phạm
các
có thế áp dụng
bên
đồng thời với chế
tài bồi thường
thiệt hại.
- Các bên không phải
tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng.
Bên đã thực hiện
nghĩa vụ có quyền
yêu cầu bên kia thanh
toán hoặc thực hiện
nghĩa vụ dối ứng.
- Bên bị vi phạm đồng
thời có quyền yêu cầu
bồi thường thiệt hại.
- Các bên không phải tiếp
tục thực hiện các nghĩa vụ
đã thoả thuận trong hợp
đồng, trừ thoả thuận về
các quyền và nghĩa vụ sau
khi huỷ bỏ hợp đồng và
về giải quyết tranh chấp.
- Các bên có quyền đòi lại
Nam Định) một số chủng loại vật liệu xây dựng gồm: thép xây dựng, gạch
chống nóng theo tiêu chuân chất lượng TCVN4710-89, với tổng giá trị hợp
đồng 1,5 tỷ đồng, thời hạn giao nhận hàng đến hết ngày 31/07/2007. Ngày
15/08/2007, Công ty Tân Hoàng Minh đã đến nhận lô hàng thuộc chủng loại
thép xây dựng tại kho chính của bên bán và thanh toán 1/2 hợp đồng như đã
cam kết. Ngày 05/08/2007 do không thấy công ty Tân Hoàng Minh đến nhận
nốt số hàng theo hợp đồng, Công ty Kim Thành đã gửi công văn yêu cầu công
ty Tân Hoàng Minh tiếp tục nhận hàng và thanh toán tiền theo hợp đông hạn
cuối là vào ngày 15/08/2007. Công ty Tân Hoàng Minh đã từ chối thực hiện
hợp đồng sau khi đưa ra yêu cầu giảm giá đối với số lô sau chưa giao không
đựơc công ty Kim Thành chấp nhận.
Ngày 15/09/2007, Công ty Kim Thành khởi kiện công ty Tân Hoàng
Minh tại Toà kinh tế tỉnh Nam Định với yêu cầu: Buộc công ty Tân Hoàng
Minh phải nộp phạt 170 triệu đồng như đã thoả thuận và bồi thường thiệt hại
180 triệu đồng hao gồm tiền trả lãi cho ngân hàng và phần chênh lệch giábán
số gạch chống nóng thấp hơn so với giá đã thoả thuận theo hợp đồng số
03/HĐ.
Trong trường hợp trên, Công ty Kim Thành đã gia hạn thêm 15 ngày (từ
ngày 31/07/2007 đến ngày 15/08/2007) để công ty Tân Hoàng Minh thực hiện
tiếp nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán. Như vậy, công ty Kim Thành đã gia hạn
thực hiện hợp đồng cho bên công ty Tân Hoàng Minh khi áp dụng chế tài ”buộc
thực hiện đúng hợp đồng”.
Do chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không mang lại kết quả, việc
yêu cầu bên vi phạm nộp phạt và bồi thưuờng thiệt hại là phù hợp với quy định
của pháp luật và lợi ích hợp pháp của công ty Kim Thành. Tuy nhiên, thời gian
vi phạm hợp đồng được xác định để xem xét mức phạt và mức bồi thường là hết
ngày 15/08/2007 chứ không phải hết ngày 31/07/2007 vì trong thời gian áp
dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, không được áp dụng chế tài khác
nếu các bên không thoả thuận. Như vậy, trong tình huống trên, Công ty Kim
Thành đã áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng theo khoản 5, Điều 297, Luật
không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có quyền tạm ngừng thanh toán cho
đến khi bên bán khắc phục được sự không phù hợp đó. Việc tạm dừng thanh
toán của bên mua chính là tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Như vậy, trong thời
gian bên mua áp dụng chế tài buộc bên bán thực hiện đúng hợp đồng thì bên
mua vẫn có quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo khoản 3, điều 51 chứ
không chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm như khoản 1,
điều 299. Như vậy, khoản 1, điều 299 không đồng nhất với khoản 3, điều 51,
Luật Thương mại 2005.
Do đó, cần quy định theo hướng trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại
và phạt vi phạm hoặc tạm ngừng thực hiệu hợp đồng nhưng không được áp
dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng.
Thứ ba, khoản 2, điều 299 Luật Thương mại năm 2005 quy định:
“Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng
các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình”. Quy định như vậy
đã làm cho chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không có giá trị, bởi vì ngay
cả trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài này thì cũng không chịu bất
kì trách nhiệm bổ sung nào mà chỉ chịu các hình thức chế tài như phạt hợp
đồng, bồi thường thiệt hại hoặc tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng và đã tạo
ra kẽ hở lớn để lợi dụng nhằm trì hoãn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Ngoài ra, Luật Thương mại cần có quy định (ngoại trừ nghĩa vụ thanh
toán trong thực tiễn xét xử) đối với trường hợp tòa án buộc bên có nghĩa vụ
thực hiện nhưng bên này vẫn không thực hiện.
2. Về tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Luật quy định có hai căn cứ để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp
đồng là xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm
ngừng thực hiện hợp đồng và một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Khi
chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng, hậu quả pháp lý đối với
hợp đồng này là ”Hợp đồng vẫn còn hiệu lực” và “Bên bị vi phạm có quyền yêu
thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi
huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.”
Như vậy, về mặt nguyên tắc, hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng giống
như trong trường hợp hợp đồng bị vô hiệu, các bên phải hoàn trả lại cho nhau
những gì đã nhận từ việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, cách quy định này có
một số bất cập tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 314 Luật Thương mại năm 2005
là:“Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của
mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ
phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi
ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.” và “Bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.”
Quy định này đã mâu thuẫn với khoản 1, Điều 314 khi quy định hợp
đồng bị hủy thì không có hiệu lực từ thời điểm giao kết ở chỗ:
- Việc cho phép các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần
nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã đi ngược lại với bản chất của hủy hợp
đồng, bởi lẽ khi hợp đồng bị hủy “không có hiệu lực từ thời điểm giao kết” thì
tất cả những phần hợp đồng đã thực hiện sẽ phải hoàn trả lại cho bên kia. Với
quy định này, dường như pháp luật đã thừa nhận hiệu lực của hợp đồng bị hủy
hơn là hủy những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Do đó, quy định này cần phải được sửa đổi theo hướng ghi nhận phần
hợp đồng không bị hủy (đối với hợp đồng bị hủy một phần), đối với phần hợp
đồng bị hủy, các bên phải hoàn trả lại những gì đã nhận cho nhau, đối với phần
không bị hủy sẽ phải tiếp tục thực hiện theo những thỏa thuận trong hợp đồng.
GVHD: Nguyễn Thanh Tùng
Page 10
Bài Tiểu Luận Môn Thương Mại 2
được ghi nhận trong Điều 316 và nếu chỉ dừng lại ở quy định như vậy thì không
bao hàm việc áp dụng ba loại chế tài này với chế tài phạt vi phạm trong khi nếu
có đủ căn cứ áp dụng thì việc áp dụng ba loại chế tài này với chế tài phạt là
hoàn toàn hợp pháp và chính xác.
Do đó, để tránh tình trạng quy định một cách chồng chéo và không bao
hàm hết các mối quan hệ giữa các chế tài thì cần thiết phải loại bỏ hết các quy
định về mối quan hệ của các loại chế tài nằm rải rác trong các điều luật khác
nhau và sau đó thiết kế một quy định chung về mối quan hệ của các loại chế tài
trong thương mại theo hướng:“Các chế tài trong thương mại có thể được áp
dụng đồng thời nếu có đủ căn cứ áp dụng theo quy định của luật này trừ việc
áp dụng đồng thời các chế tài hủy hợp đồng, đình chỉ thực hiện hơp đồng và
tạm ngừng thực hiện hợp đồng.”
GVHD: Nguyễn Thanh Tùng
Page 11
Bài Tiểu Luận Môn Thương Mại 2
Nhóm 3
C. LỜI KẾT
Thông qua việc tìm hiểu đề tài: “Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế
tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp
đồng, hủy bỏ hợp đồng và một số kiến nghị?”, chúng ta nhận thấy rằng:
Các chế tài trong hoạt động thương mại rất đa dạng và càng áp dụng các
chế tài khác nhau khi có hành vi vi phạm xảy ra đem lại những hiệu quả khác
nhau. Tuy vậy, do sự phát triển của kinh tế, các vi phạm ngày càng phức tạp với
số lượng ngày càng nhiều hơn đòi hỏi pháp luật điều chỉnh các hình thức chế tài