Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai - Pdf 24

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuân Lộc là huyện nông thôn, miền núi của tỉnh Đồng Nai với diện tích
tự nhiên là 72.719,48 ha, chiếm 12,4% diện tích toàn tỉnh. Huyện Xuân Lộc có
15 đơn vị hành chính, trong đó có 14 xã và 01 thị trấn với 91 khu, ấp được chia
thành 1.238 tổ nhân dân, dân số trên 228 ngàn người, chiếm 9,0% dân số tỉnh
Đồng Nai.
Trong 20 năm xây dựng và phát triển vừa qua, kinh tế huyện Xuân Lộc đã
thay đổi đáng kể, tăng trưởng GDP với tốc độ cao, đạt bình quân 12,3% / năm,
trong đó giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân 16,61%; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp với tỷ trọng các khu
vực là: 40,1% - 25,9% - 34%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp được phát triển toàn diện theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn kết với việc xây dựng nông thôn mới,
góp phần nâng cao đời sống của nông dân và dân cư trên địa bàn.
Điều kiện tự nhiên của huyện Xuân Lộc có khí hậu pha và đất nâu đỏ trên
đá bazan (25 ngàn ha) rất thích hợp để phát triển các loại cây công nghiệp dài,
ngắn ngày, cây thực phẩm, cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, trong đó có hồ tiêu.
Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn huyện đến năm 2011
là 19.618 ha, trong đó diện tích cây cà phê là 1.105 ha; cây Cao su là 3.900 ha;
cây Điều là 13.256 ha; Cây Tiêu là 1.246 ha.
Cây Tiêu là một trong 04 cây công nghiệp lâu năm cho sản phẩm xuất
khẩu có giá trị cao của huyện Xuân Lộc, chiếm tỷ trọng 29,46% trong tổng giá
trị cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn huyện Xuân Lộc, sản lượng trung bình
đạt 3.226 tấn/năm. Những năm gần đây diện tích trồng Hồ tiêu trong nhân dân
không ngừng tăng do mang lại thu nhập cao hơn so với các cây trồng khác như
Cao su, Cà phê, Điều trên cùng đơn vị ha diện tích đất canh tác.
2
Tuy nhiên, phát triển cây tiêu còn mang tính manh mún, phân tán, chưa
theo quy hoạch; người trồng tiêu chưa tiếp cận đầy đủ các chính sách hỗ trợ của

2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách hỗ trợ nông dân trong
sản xuất, tiêu thụ Hồ Tiêu;
- Đánh giá thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất,
tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2009 –
2011; xác định những bất cập, hạn chế trong triển khai và khả năng hoàn thiện
chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện;
- Kiến nghị các nội dung hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản
xuất,tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa
bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: 03 năm 2009 – 2011.
- Phạm vi không gian: huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi về nội dung: Cơ sở lý luận, thực tiễn; Thực trạng triển khai và
kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu
trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4
4.1. Phương pháp chọn địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Chọn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai làm địa bàn nghiên cứu do huyện
Xuân Lộc là nơi tác giả đề tài sinh sống và công tác, tác giả sẽ thuận lợi trong
quá trình khảo sát, điều tra để thu tập số liệu thứ cấp và sơ cấp để phục vụ
nghiên cứu đề tài. Đồng thời huyện Xuân Lộc là huyện nông thôn miền núi, có
tốc độ phát triển nông nghiệp cao, tỷ lệ % đóng góp vào GDP của huyện khá
cao.
4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Xuân Lộc);
+ Khảo cứu ý kiến cán bộ, nhân viên trực tiếp triển khai chính sách hỗ
trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc để
nắm được thực trạng của công tác triển khai chính sách (Cán bộ Phòng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Xuân Lộc; Cán bộ phụ trách Nông nghiệp
các xã và đại diện người đứng đầu UBND các xã thuộc 4 vùng quy hoạch phát
triển Hồ Tiêu: Xã Xuân Bắc, xã Xuân Thọ, xã Xuân Trường, xã Suối Cao, xã
Suối Cát, xã Xuân Hiệp, xã Lang Minh và Thị trấn Gia Ray).
4.5. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và đánh giá chính sách hỗ trợ
- Sử dụng Microsoft Office Excel để xử lý các số liệu thu thập được.
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích chi phí, giá thành sản
xuất và hiệu quả của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu;
- Sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích để đánh giá lợi ích của
hộ nông dân trước và sau khi được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước;
- Sử dụng phương pháp so sánh và đo lường phản ứng của hộ nông dân để
đánh giá ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu, cụ thể:
6
i). So sánh ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu
trong trường hợp có hỗ trợ và không hỗ trợ;
ii). So sánh mức hỗ trợ (giá trị của chính sách hỗ trợ) với kết quả sản xuất
của nông dân trong trường hợp được hưởng chính sách hỗ trợ;
iii). Phân tích phản ứng của hộ nông dân về nội dung của chính sách hỗ
trợ sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu.
4.6. Chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
- Chi phí sản xuất 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ
trợ trồng mới so với chi phí sản xuất 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được
hưởng chính sách hỗ trợ;
- Chi phí sản xuất 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ
trợ thâm canh so với chi phí sản xuất 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được
hưởng chính sách hỗ trợ;

- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (huyện Xuân Lộc, Đồng Nai).
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT, TIÊU THỤ NÔNG SẢN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn tác giả đã khảo cứu một số tài liệu
nghiên cứu về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong điều kiện Việt Nam
gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã được công bố trong thời gian
qua và thu được kết quả như sau:
i). Nghiên cứu của Dự án thương mại Đa biên giai đoạn 2 đã chỉ ra rằng
“Trong khi phải dỡ bỏ nhiều trợ cấp trái với qui định của WTO đối với nông
nghiệp, Việt Nam đang tự kìm hãm cơ hội tận dụng những chính sách hỗ trợ cho
ngành này mà WTO cho phép”. Theo đó, hiện nay hầu hết chính sách hỗ trợ
trong nước đều thuộc Hộp xanh lá cây và xanh da trời (không thuộc nhóm bị
cấm) nên vẫn có thể tiếp tục duy trì song song với việc chuyển dần một số biện
pháp hỗ trợ thuộc Hộp Hổ phách (bị cấm) sang hai loại trên.
Tổng mức hỗ trợ gộp (AMS) hiện nay chiếm khoảng 3,4% tổng giá trị sản
lượng nông nghiệp, là mức thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu được phép theo
qui định WTO là 10% giá trị sản lượng. Nhiều chính sách không bị cấm nhưng
chưa được sử dụng như trợ cấp điều chỉnh cơ cấu và trợ cấp để rút các nguồn lực
ra khỏi sản xuất nông nghiệp, chi trả trực tiếp cho người sản xuất thay vì hỗ trợ
trực tiếp cho các hoạt động xuất khẩu
1
. Điểm quan trọng mà nghiên cứu này đã
chỉ ra là, Việt Nam còn nhiều cơ hội sử dụng các biện pháp thuộc Hộp xanh lá
cây (gồm các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước không gây bóp méo thương
1
Tham khảo báo cáo “Các chính sách thương mại trong nông nghiệp và các nghĩa vụ WTO về nông

hỗ trợ cho nông nghiệp trong nước một cách hợp lý vừa đảm bảo tính khả thi,
2
. Ths. Huỳnh Thị Liên Hoa, Đề tài khoa học cấp bộ “ Nghiên cứu các giải pháp, chính sách bảo hộ sản xuất
nông nghiệp trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế và quy định của WTO; Viện Quy hoạch và Thiết kế
nông nghiệp, Hà Nội 2011 đã nghiệm thu
10
phù hợp với điều kiện của Việt Nam, vừa đảm bảo không sai với các quy định
của quốc tế và WTO là hết sức cần thiết và cấp bách.
Việc hỗ trợ không phải chỉ là tạo ra những rào cản ngăn chặn sự xâm nhập
của hàng hoá nước ngoài vào trong nước, hoặc trợ cấp dưới mọi hình thức cho
sản xuất nông nghiệp mà quan trọng hơn là những phương thức bảo hộ đó phải
đạt được mục tiêu phân bổ nguồn lực hợp lý hướng tới nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều này
cũng có nghĩa là không nên hỗ trợ cho những ngành sản xuất yếu kém, không có
khả năng phát triển và không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị
trường.
iii). Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ, Bộ Nông nghiệp và PTNT
năm 2010 về: “Nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất chính sách bù đắp thu
nhập cho những hộ sản xuất lúa trong vùng lúa chuyên canh nhằm đảm bảo an
ninh lương thực Quốc gia”; Chủ nhiệm TS. Phạm Bảo Dương đã chỉ rằng:
Thể chế và chính sách là một trong những nhân tố tác động có ảnh hưởng
trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất lúa. Một chính sách tốt, phù hợp có thể
kích thích sản xuất lúa phát triển, đảm bảo được an ninh lương thực và ngược
lại. Nguyên tắc là, các khoản hỗ trợ cho người trồng lúa có thể chuyển giao trực
tiếp đến tay họ.
Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quá trình cung cấp các hỗ trợ đó
là các khoản hỗ trợ của Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu thông qua các doanh
nghiệp thu mua kinh doanh nông sản, nên khi Chính phủ muốn hỗ trợ nông dân
thường phải dựa vào hệ thống doanh nghiệp làm trung gian và người nông dân
chỉ là đối tượng thụ hưởng gián tiếp. Tuy nhiên, hình thức này bị cấm trong

12
sách này hỗ trợ có thể giúp nông dân hình thành các trung tâm mua bán lúa gạo
để tạo ra mạng lưới lưu thông lúa gạo với chi phí thấp nhất.
iv). Báo cáo kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất chính sách bù
đắp thu nhập cho những hộ sản xuất lúa trong vùng lúa chuyên canh nhằm đảm
bảo an ninh lương thực Quốc gia”, Chủ nhiệm TS. Phạm Bảo Dương: “Ngoài
một số hình thức bị cấm, các hình thức trợ cấp còn lại là rất đa dạng theo quy
định của WTO có thể vận dụng cho thực tế của Việt Nam. Vấn đề là chọn loại
nào, hỗ trợ "gốc" để tạo ra tính bền vững hay hỗ trợ "ngọn" chỉ tạo ra lợi ích
thời điểm (tình thế) không mang tính lâu dài thì cần suy tính để áp dụng có lợi
nhất cho nông dân. Bên cạnh đó cần xác định, chính sách áp dụng cho ai, mức
độ là bao nhiêu, trong thời gian bao lâu để vừa thúc đẩy được sản xuất, không
tạo ra sự ỉ lại và nâng cao được hiệu quả và sức cạnh tranh cho toàn ngành sản
phẩm mà chính sách tác động” (Hội nông dân VN, 2008).
Từ khảo cứu các nghiên cứu trên, Luận văn cho rằng việc nghiên cứu cơ
sở khoa học và thực tiễn của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu, nhằm
kiến nghị với chính quyền tỉnh Đồng Nai và huyện Xuân Lộc hoàn thiện chính
sách hỗ trợ phát triển hồ tiêu trong những năm tới là cần thiết và có ý nghĩa thực
tiễn to lớn, nâng cao các giải pháp phát triển nông nghiệp nói chung và ngành
sản phẩm hồ tiêu nói riêng trong phạm vi khả năng ngân sách và tài chính của
tỉnh, huyện và trong điều kiện vẫn không vi phạm quy định của WTO về hỗ trợ
sản xuất nông nghiệp, nhằm mục đích nâng cao thu nhập cho nông dân và năng
lực cạnh tranh của sản phẩm Hồ tiêu trên thị trường trong nước và phục vụ mục
tiêu xuất khẩu, đúng theo chủ trương phát triển nông nghiệp của tỉnh và huyện.
1.2. Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
1.2.1. Khái niệm về chính sách, chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản.
1.2.1.1. Khái niệm về chính sách.
Cụm từ “Chính sách” đã được dùng phổ biến trong các lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, chưa có định nghĩa tổng quát và đầy đủ về cụm
từ này và do có nhiều cách tiếp cận và mức độ phản ánh của chính sách, tùy theo

3
Franc Ellis (1995), Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, Nhà xuất bản Nông
nghiệp, trang 23.
4
Paul Samuelson, Kinh tế học, Viện kinh tế học, Bộ Ngoại giao, tập I, trang 117.
14
Theo PGS.TS. Lê Chi Mai, “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ
một chuỗi các quyết định của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang
đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. Theo đó, chính
sách do một hay nhiều cấp quản lý khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành
và thực thi trong thực tiễn một thời gian nhất định.
TS. Chu Tiến Quang định nghĩa: “chính sách là tập hợp các chủ trương,
quan điểm, giải pháp, công cụ nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Quá trình
hình thành chính sách có sự tác động của nhiều yếu tố, trước hết là sự nảy sinh
một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó cần giải quyết. Trên cơ sở thực tiễn hiện tại
của vấn đề và mong muốn đạt tới một thực tiễn tốt hơn, Chính phủ đặt ra mục
tiêu, đưa ra giải pháp và công cụ để thực hiện chủ trương đã định”
5
.
Trong cấu thành của chính sách có chủ thể chính sách và khách thể chính
sách. Chủ thể chính sách là các cơ quan ban hành và thực hiện chính sách gồm
Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ngành. Khách thể chính sách hay đối tượng
điều chỉnh của chính sách là những cá nhân, tổ chức, Doanh nghiệp, hộ gia đình
mà chính sách tác động vào.
Để triển khai một chính sách nào đó, chủ thể chính sách tác động đến
khách thể bằng các biện pháp tạo sức hấp dẫn, tạo động lực trong các đối tượng
nói trên nhằm khuyến khích họ làm theo mục tiêu, định hướng mà chủ thể chính
sách đưa ra, từ đó đạt được kết quả mong đợi. Trong trường hợp không khuyến
khích thì chủ thể chính sách có thể đưa ra các biện pháp ngăn chặn, các biện
pháp làm giảm hoặc mất động lực của đối tượng điều chỉnh để các đối tượng này

Từ khái niệm về “chính sách” nêu trên thì: “Chính sách hỗ trợ sản xuất,
tiêu thụ nông sản” là tập hợp các giải pháp, công cụ mà Nhà nước được sử dụng
để hỗ trợ quá trình sản xuất, tiêu thụ nông sản. Mục đích của chính sách hỗ trợ
sản xuất, tiêu thụ nông sản là nâng cao năng lực của nông dân, người sản xuất ,
chế biến nông sản trong sản xuất, tiêu thụ; nâng cao năng lực cạnh tranh của
hàng hóa nông sản và nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi đơn vị ha đất canh tác,
cuối cùng là tăng thu nhập cho người nông dân.
- Chủ thể của chính sách hỗ trợ là Nhà nước bao gồm Chính phủ, Chính
quyền địa phương các cấp (tỉnh, huyện, xã);
7
Từ điển Bách khoa toàn thư, />16
- Đối tượng hưởng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách: là nông dân,
các tổ chức kinh tế trực tiếp tham gia vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản;
- Mục tiêu của chính sách hỗ trợ giảm khó khăn, cản trở và nâng cao hiệu
quả sản xuất, tiêu thụ nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
nông sản, trên cơ sở đó nâng cao thu nhập và đời sống nông dân và cộng đồng
của họ
8
.
- Công cụ của chính sách hỗ trợ: là các biện pháp hỗ trợ về kinh tế, tài
chính; hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật; đào tạo; các biện pháp hỗ trợ khác.
1.2.2. Sự cần thiết và yêu cầu đối với chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
1.2.2.1. Sự cần thiết của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản.
- Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp tác động
làm thay đổi, điều chỉnh hành vi của hộ nông dân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp,
cá nhân, nhằm đạt được mục tiêu cùng gia tăng sản xuất theo định hướng nào đó
trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, nhiều hộ nông dân
cùng tham gia, mỗi hộ có những điều kiện chủ quan và năng lực sản xuất khác
nhau, rất khó tạo ra sản xuất quy mô lớn, tính đồng đều cao.

hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản như sau:
1.2.3.1. Theo phương thức tác động của chính sách, có:
- Chính sách hỗ trợ trực tiếp: Nhà nước sử dụng các nguồn lực của mình
để tác động trực tiếp vào người nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản như
hỗ trợ về giống, vật tư, phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc dưới
dạng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ do Nhà nước chủ động tổ chức ra và cung cấp
toàn bộ hoặc một phần kinh phí (dịch vụ công) để tạo sức hấp dẫn, khuyến khích
18
các thành phần bỏ vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, từ đó trực tiếp tác động
tạo ra động lực đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của họ.
- Chính sách hỗ trợ gián tiếp: Nhà nước áp dụng các giải pháp mang
tính khuyến khích, thúc đẩy nông dân tham gia phát triển sản xuất, tiêu thụ nông
sản như: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đường giao thông, hệ thống điện phục
vụ sản xuất, chế biến nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
các thành phần kinh tế khi bỏ vốn tham gia. Đối với lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, nông thôn các giải pháp can thiệp gián tiếp là cần thiết và huy động được
nguồn lực của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn.
1.2.3.2. Theo phân khúc của quá trình sản xuất nông nghiệp có các loại hình
chính sách hỗ trợ sau:
- Chính sách hỗ trợ đầu vào của sản xuất: Đối tượng hưởng lợi của
chính sách này là tổ chức và cá nhân được cung ứng các đầu vào cho sản xuất
nông nghiệp với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi ban đầu và thúc đẩy các tác
nhân này tham gia tích cực vào quá trình sản xuất tiếp theo;
- Chính sách hỗ trợ trong sản xuất: Đối tượng hưởng lợi của chính sách
là cá nhân, tổ chức tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Đối tượng hưởng lợi
nhận được các hỗ trợ từ Nhà nước về kỹ thuật, phương thức sản xuất…từ đó họ
sản xuất hiệu quả hơn và tạo ra sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao
hơn. Các chế độ hỗ trợ của chính sách có thể khác nhau tùy thuộc vào đối tượng
và hoạt động sản xuất mà họ đang tiến hành;
- Chính sách hỗ trợ đầu ra của sản xuất: Đối tượng hưởng lợi của chính

sản có những vai trò sau:

9
TS. Chu Tiến Quang “Giáo trình Xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn”; Trang 7.
20
1.2.4.1. Là công cụ để Nhà nước tác động vào các đối tượng hoạt động trong
sản xuất, tiêu thụ nông sản.
- Đối tượng của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản là nông dân,
những người thu mua nông sản, các doanh nghiệp chế biến và các tổ chức tiêu
thụ nông sản tới người tiêu dùng cuối cùng;
- Đặc điểm cơ bản của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản là tác
động tới các đối tượng hộ nông dân quy mô nhỏ, phân tán; những người thu mua
nông sản đa dạng về khả năng và tính chất tham gia; các doanh nghiệp và tổ
chức tiêu thụ nông sản cũng rất đa dạng, khác biệt về quy mô, công nghệ, khả
năng tiếp cận thị trường tiêu thụ;
- Chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản phải tác động đồng thời
vào các đối tượng trên để định hướng cho hoạt động của các đối tượng cùng
hướng tới lợi ích chung do quá trình sản xuất, tiêu thụ nông sản tạo ra. Sự lựa
chọn chính sách của Chính phủ đối với các đối tượng trên phải phù hợp với lợi
ích và điều kiện tiếp nhận của họ, từ đó mới có thể thúc đẩy và tạo động lực ở
từng nhóm đối tượng để cùng đạt tới mục tiêu mong muốn;
1.2.4.2. Là công cụ để Nhà nước thúc đẩy các đối tượng sản xuất, tiêu thụ nông
sản cùng tham gia thực hiện quy hoạch phát triển các ngành sản phẩm trong
nông nghiệp do Nhà nước xác định.
- Vai trò này thể hiện quyền lực đồng thời là nghĩa vụ của Nhà nước trong
việc đưa ra quy hoạch phát triển các ngành sản phẩm trong nông nghiệp theo các
vùng sinh thái. Đi theo quy hoạc này là kế hoạch phát triển hạ tầng, nguồn nhân
lực, KHCN, thị trường để đáp ứng cho nhu cầu của thực hiện quy hoạch phát
triển ngành sản phẩm nông sản đã được phê duyệt;
- Đồng thời để thực hiện quy hoạch phát triển ngành sản phẩm nông sản,

với quy mô phù hợp, tạo ra sản lượng nông sản lớn với chất lượng đồng đều,
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm nông sản;
1.2.5. Sự cần thiết của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản điều kiện
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.
- Các nghiên cứu trong nước đã chỉ ra rằng, trong hội nhập kinh tế quốc
tế, nông nghiệp Việt Nam đã giành được một vị thế cao trên thị trường quốc tế
và thu được những thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, hiện nay nông nghiệp Việt Nam đang phải đương đầu với một
số thách thức lớn, đó là nông sản có năng lực cạnh tranh thấp và gia tăng các loại
rủi ro khách quan và chủ quan.
10
Bên cạnh đó, khung pháp lý của Việt Nam về
cơ sở hạ tầng, dịch vụ (như giao thông vận tải, quảng cáo, kho bãi, bảo hiểm,
ngân hàng, thông tin và hậu cần) phục vụ sản xuất, tiêu thụ nông sản còn nhiều
hạn chế và thiếu sự găn kết, hợp tác giữa các khâu, công đoạn của chuỗi giá trị
sản phẩm nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường hội nhập thành công vào
nền kinh tế toàn cầu. (Mutrap II-2007).
- Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam có mức thuế quan nông sản nhập
khẩu ở mức trung bình, hỗ trợ sản xuất trong nước ở mức thấp và trợ cấp xuất
khẩu ở mức tối thiểu. Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều sản phẩm
nông nghiệp nhập khẩu giá rẻ nhập khẩu, gây ra thâm hụt cán cân thương mại,
giảm thu nhập và gia tăng tỷ lệ hộ nông dân mất việc làm do không tiêu thụ
được nông sản làm ra. "Làm sao trợ lực cho hơn 10 triệu nông dân nghèo sản
xuất nhỏ lẻ, manh mún sang nền nông nghiệp quy mô lớn, mở rộng hợp tác?
Làm sao để đảm bảo 70% người lao động nông thôn không bị bỏ rơi trong quá
trình công nghiệp hoá? Người nông dân và ngành nông nghiệp đang trông đợi
10
Rủi ro khách quan là thiên tai, môi trường, dich bệnh, thị trường; rủi ro chủ quan là trình độ,
nhận thức thấp kém của nông dân và người sản xuất nông nghiệp.
23

24
cho sản xuất nông nghiệp, nếu thấy cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng
cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông sản.
Việt Nam vẫn được áp dụng bình thường các khoản hỗ trợ thuộc quy định
của “Hộp Xanh lá cây” trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO (xem bảng dưới
đây):
Biểu 1.1: Quy định về hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp theo
Hiệp định Nông nghiệp của WTO
Loại hỗ trợ Tính chất- nội dung Cơ chế áp dụng
Trợ cấp “hộp xanh lá
cây”
Phải là các hỗ trợ
- Hầu như không có tác động
bóp méo thương mại;
- Không phải là hình thức trợ
giá
Được phép áp dụng không bị
hạn chế
Trơ cấp “hộp xanh lơ” Hỗ trợ trực tiếp trong khuôn khổ
các chương trình hạn chế sản
xuất
Đây là các hình thức trợ cấp mà
các nước đã phát triển đã áp
dụng
Trợ cấp “hộp hổ phách” Các loại trợ cấp nội địa không
thuộc hộp xanh lá cây và xanh
lơ, tác động gây bóp méo
thương mại
Chỉ được phép áp dụng trong
giới hạn nhất định (gọi là mức

dễ bị khiếu kiện khi sản phẩm được hỗ trợ là sản phẩm xuất khẩu.
Các loại trợ cấp sản xuất trong nước thuộc hộp Xanh lá cây bao gồm 5
nhóm sau:
Nhóm 1: Trợ cấp cho các dịch vụ chung;
Nhóm 2: Trợ cấp nhằm mục tiêu dự trữ an ninh lương thực quốc gia;
Nhóm 3: Trợ cấp lương thực trong nước
Nhóm 4: Hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai
Nhóm 5: Hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất liên quan đến thu nhập: hỗ
trợ thu nhập (không được gắn với các yêu cầu về sản xuất); hỗ trợ tài chính của
Nhà nước vào các chương trình an toàn và bảo hiểm thu nhập cho nông dân (khi
mất mùa hoặc mất giá); hỗ trợ bù đắp thiệt hại do thiên tai.
Các biện pháp hỗ trợ trong cả 5 nhóm trên phải đáp ứng đủ 3 điều kiện:
- Không hoặc rất ít tác động bóp méo thương mại,
- Thông qua chương trình do Chính phủ tài trợ,
- Không có tác dụng trợ giá cho người sản xuất.

Trích đoạn Chi phí đầu tư 01ha Trường hợp hỗ trợ trồng mớ Trường hợp hỗ trợ thâm canh vườn tiêu Kết quả tổng hợp ý kiến nông dân về chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc Thực trạng tiêu thụ Hồ tiêu của nông dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status