Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở Việt Nam - Pdf 25

GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
MỤC LỤC
1.2.1. Theo phạm vi và mức độ quan trọng: 8
1.2.2. Theo vị trí của các bên tham gia 9
1.2.3. Theo quá trình nghiệp vụ (logistical operations) chia thành 3 nhóm cơ
bản 9
1.2.4. Theo hướng vận động vật chất 9
1.2.5. Theo đối tượng hàng hóa 10
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
1.2.1. Theo phạm vi và mức độ quan trọng: 8
1.2.2. Theo vị trí của các bên tham gia 9
1.2.3. Theo quá trình nghiệp vụ (logistical operations) chia thành 3 nhóm cơ
bản 9
1.2.4. Theo hướng vận động vật chất 9
1.2.5. Theo đối tượng hàng hóa 10
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt
động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có bước phát
triển mạnh mẽ và sẽ``` còn phát triển mạnh hơn nữa khi Việt Nam đang từng bước
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất
kinh doanh, lưu thông, phân phối của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong kinh doanh
xuất nhập khẩu. Xây dựng một mạng lưới logistics phát triển đa dạng, uyển chuyển
sẽ cho phép chuyển tối ưu bộ phận sang tối ưu toàn bộ từ đó tối ưu hiệu quả của
vòng quay tăng trưởng, vòng quay thu mua hàng hoá, sản xuất, phân phối bán hàng,
vận tải, tái chế và thông qua sự hợp tác, sử dụng lại các nguồn nguyên vật liệu từ

3. Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của chuyên đề này, em xin tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
là các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động dịch vụ logistics ở Việt
Nam, và thực tiễn về hoạt động này trong các giai đoạn từ lúc bắt đầu hình thành
đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thu thập tài liệu, xử lý thông tin và hoàn thành chuyên đề, em
đã sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, tập hợp, thống kê, phân tích… và
tham khảo các nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài có liên quan.
5. Cơ cấu của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được chia làm ba chương, bao gồm:
Chương I: Tổng quan về hệ thống chính sách phát triển logistics ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng về chính sách phát triển logistics ở Việt Nam những năm
gần đây
Chương III: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển logistics ở Việt Nam
Do những lý do khách quan khó tránh khỏi cùng với vốn hiểu biết còn hạn hẹp
và nhỏ bé của bản thân, chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em còn có nhiều thiếu
sót. Vì thế, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài làm được
hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các cô chú cán bộ Ban
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
2
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
Nghiên cứu Chiến lược phát triển Thương mại - Viện Nghiên cứu thương mại và
đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS. TS Đặng Đình Đào đã giúp cho
em hoàn thành tốt chuyên đề thực tập của mình.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
3
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN LOGISTICS Ở VIỆT NAM

quản lý cuối thế kỷ 20 đã đưa logistics lên một tầm cao mới, có thể gọi đó là giai
đoạn phục hưng của logistics (logistical renaissance). Có 4 nhân tố chính dẫn đến sự
biến đổi này:
- Thương mại hoá thiết bị vi xử lý: trong thời kỳ này, các thiết bị điện tử bước
vào giai đoạn thương mại hóa rộng rãi.Giá các sản phẩm trở nên rất rẻ và phù hợp
với điều kiện đầu tư của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính những thiết bị này là cơ sở vật chất hỗ trợ rất nhiều cho nghiệp vụ logistics
(trao đổi thông tin, quản lý hàng tồn kho, tính toán các chi phí). Tại các nước phát
triển, bộ phận logistics là nơi sử dụng nguồn vật chất máy vi tính lớn nhất trong
công ty.
- Cuộc cách mạng viễn thông: Cùng với yếu tố trên, những tiến bộ của ngành
viễn thông nói chung và công nghệ thông tin nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả hoạt động này. Từ những năm 80s, người ta đã sử dụng công nghệ mã
vạch (bar code) để cải tiến hoạt động logistics. Trao đổi thông tin điện tử (EDI-
electronic data interchange) cũng bắt đầu được sử dụng giữa khách hàng và những
nhà cung ứng để truyền đạt và tiếp nhận dữ liệu giữa các cơ sở kinh doanh trong và
ngoài công ty. Ngoài ra còn phải kể đến vệ tinh, máy fax, máy photo, và các dụng
cụ ghi băng, ghi hình khác. Nhờ những phương tiện này mà người ta có được những
thông tin cập nhật trong quá trình thực thi logistics. Có nhiều doanh nghiệp đã sử
dụng nối mạng máy tính và dữ liệu kịp thời và chính xác.
- Ứng dụng rộng rãi những sáng kiến cải tiến về chất lượng: quan điểm quản trị
chất lượng đồng bộ (TQM) là động cơ quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoạt
động logistics. Thời kỳ sau Đại chiến thứ II, các doanh nghiệp ngày càng phải quan
tâm đến chất lượng hàng hoá và tính hiệu quả của các quy trình sản xuất. Quan
điểm “không sai hỏng - zero defects” và “làm đúng ngay từ lần đầu tiên - doing
things right the first time” trong TQM đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực
logistics. Các doanh nghiệp nhận ra rằng sản phẩm tốt mà đến muộn so với yêu cầu
hoặc bị hư hại đều không thể chấp nhận được. Việc thực thi kém công việc logistics
sẽ làm tổn hại đến sáng kiến cải tiến chất lượng.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng

động của nhiều tổ chức trong chuỗi logistics và phản hồi thông tin cần thiết tới các tổ
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
6
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
chức trong sản xuất và/hoặc các bộ phận phân phối vật chất vào thời gian thực tế
bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và các mạng lưới liên lạc kỹ thuật số”.
Điều 233 – Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Dịch vụ logistic là
hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức một hoặc nhiều công đoạn bao
gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy
tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các
dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng
thù lao”.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ logistics, nhưng mỗi định nghĩa
nhằm vào một khía cạnh nào đó, ví dụ: “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực
hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu giữ
nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm…”. Lại có định nghĩa: “Logistics là quá trình
cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm”. Những định nghĩa
này nhằm đạt yêu cầu cuối cùng của dịch vụ logistics, tức là đảm bảo chất lượng đòi
hỏi phải có.
Có thể nói, logistic là nghệ thuật và khoa học của quản lý điều chỉnh luồng di
chuyển của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác như sản
phẩm, dịch vụ và con người từ nguồn lực của sản xuất cho đến thị trường. Nó thể
hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lưu kho, giao nhận nguyên
vật liêu, bao bì đóng gói. Trách nhiệm vận hành logistic là việc tái định vị (theo
mục tiêu địa lý) của nguyên vật liệu thô, của công việc trong toàn quá trình và tồn
kho theo yêu cầu chi phí tối thiểu có thể.
Logistics có thể được hiểu như là việc có được đúng số lượng cần thiết ở đúng
thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó phối hợp tất cả các lĩnh vực sản xuất công
nghiệp, quản lý vòng đời dự án, chuỗi cung cấp và hiệu quả. Đây là sự chuyển động
đồng bộ hoá các nguyên liệu, sản phẩm, nhấn mạnh đến sự chuyển động cả ở đầu vào

- Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập
chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu
nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh
doanh .
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
8
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
1.2.2. Theo vị trí của các bên tham gia
- Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là hoạt động logistics
do người chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng
nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.
- Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): chỉ hoạt động
logistics do người cung cấp dịch vụ logistics cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi
cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.
- Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt chủ
hàng tổ chức thực hiện và quản lí các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
1.2.3. Theo quá trình nghiệp vụ (logistical operations) chia thành 3 nhóm
cơ bản
- Hoạt động mua ( Procurement) là các hoạt động liên quan đến đến việc tạo
ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài. Mục tiêu chung
của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động
mua hàng với chi phí thấp
- Hoạt động hỗ trợ sản xuất ( Manufacturing support) tập trung vào hoạt
động quản trị dòng dư trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất.
Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải là sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi
nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra
- Hoạt động phân phối ra thị trường (Market distribution) liên quan đến viêc
cung cấp các dịch vụ khách hàng. Mục tiêu cơ bản của phân phối là hỗ trợ tạo ra
doanh thu qua việc cung cấp mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến
lược ở mức chi phí thấp nhất.

ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần
ở đâu. Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung;
-Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ
quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics hoạt động
liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào trong, đi
qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến
tay người tiêu dùng cuối cùng;
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
10
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
-Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động. Các yếu tố của
logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở
hạ tầng nhà xưởng, …
Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo cơ sở hình
thành hệ thống logistics hoàn chỉnh.
1.3.1.2 Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn
bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây
chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có
thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics
tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh
nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp
và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.
1.3.1.3 Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận,
vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics. Cùng với quá trình phát triển của
mình, logistics đã làm đa dạng khóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ
chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước,
chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan, … cho tới cung cấp
dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door). Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người
được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với
khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh. Ngày nay, để có thể

đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc
tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và
phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua. Để giải
quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch
vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà
máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp
các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các
hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà
đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, sự
phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đến các nơi tiêu thụ trở thành một bộ
phận vô cùng quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia. Tại Mỹ logistics đóng góp xấp
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
12
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
xỉ 9,9% trong GDP. Năm 1999 Mỹ chi khoảng 554 tỷ USD cho vận tải hàng hóa
đường thủy, hơn 332 tỷ USD cho chi phí kho dự trữ và, hơn 40 tỷ USD cho quản lý
truyền thông và quản lý các quá trình logistics, tổng cộng là 921 tỷ USD. Đầu tư
vào các cơ sở vận tải và phân phối, không tính các nguồn công cộng, ươc lượng
hàng trăm tỷ USD, cho thấy logistics là một ngành kinh doanh tiềm năng và vô
cùng quan trọng.
1.3.2.2 Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu
vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics hỗ trợ sự di
chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuân lợi trong
việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống
này, có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các
vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng,
và việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung
cấp bị vô hiệu.
1.3.2.3 Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối. Với tư cách
là các tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh

thực hiện bán hàng. Sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà
máy, chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện…Bởi lẽ các hoạt
động này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kế
họach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất, chi
phí sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sản xuất công
nghiệp hiện đại
Do chức năng logistics không được phân định rạch ròi nên đã có những ảnh
hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ khách hàng và tổng chi phí logistics bởi sự
sao nhãng và thiếu trách nhiệm với hoạt động này. Quan điểm kinh doanh hiện đại
ngày nay coi logistics là một chức năng độc lập, đồng thời có mối quan hệ tương hỗ
với hai chức năng cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất và marketing, phần giao
diện giữa chúng có những hoạt động chung
Hơn thế nữa, trong giai đoạn hiện nay, tại các quốc gia phát triển, quản trị
logistics còn được ghi nhận như một thành tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
14
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức. Vai trò của nó thể hiện rất rõ nét tại các doanh
nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường.
1.3.2.5 Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá
trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Quan điểm marketing
cho rằng, kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy 3
thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa
mãn khách hàng và lợi nhuận công ty. Logistics đóng vai trò quan trọng với các
thành phần này theo cách thức khác nhau. Nó giúp phối hợp các biến số marketing
–mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm
tăng lợi nhuận trong dài hạn.
1.3.2.6 Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm: Mỗi sản
phẩm được sản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị (form utility
and value) nhất định với con người. Tuy nhiên để được khách hàng tiêu thụ, hầu hết

vào hệ thống logistics hiệu quả hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao
hơn do dó tạo ra uy tín. Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong
bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sán vô hình
giống như bản quyển, phát minh, sáng chế, thương hiệu.
II. Chính sách phát triển các ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
2.1 Chính sách phát triển các phân ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
2.1.1 Dịch vụ vận tải đường
bộ
Quy định trong
nước
Dịch vụ vận tải đường bộ chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định. Một số
biện pháp này
được
áp dụng chung cho tất cả các hoạt động kinh doanh trong
ngành/phân ngành khác; các biện
pháp
khác chỉ áp dụng cho vận tải. Các quy
định được áp dụng phổ biến chung cho các hoạt động
kinh
doanh là thuế, thủ tục
hải quan và quản lý giá. Cũng có một số quy định gián tiếp áp dụng đối với
các
ngành/phân ngành và hoạt động kinh doanh khác nhưng có
tác
động lớn tới dịch
vụ vận tải đường bộ, ví dụ như thuế nhập khẩu áp dụng với một số loại
xe
và các
tiêu chuẩn môi trường. Cả các quy định chung và quy định riêng đều quan trọng
với hoạt

giới;
- Nghị định số 23/2004/NĐ-CP ngày 13 tháng 1 năm 2004 về thời hạn sử dụng
xe
tải;
- Các quyết định số 54/2007/QD-BGTVT, số 55/2007/QD-BGTVT

số
56/2007/QD-BGTVT ngày 26 tháng 3 năm 2007 do Bộ trưởng Giao thông
vận tải ban hành về
đào
tạo, kiểm tra và cấp phép cho lái
xe;
- Quyết định số 16/2007/QD-BGTVT ngày 26 tháng 3 năm 26, 2007 của Bộ
trưởng Giao thông vận tải về vận tải hàng không bằng đường bộ trên một số
tuyến nhất định và vận chuyển
khách
du
lịch;
- Quyết định số 17/2007/QD-BGTVT ngày 26 tháng 3 năm 2007 của Bộ
trưởng Giao thông
vận
tải về chuyên chở hành khách bằng taxi;

Cam kết quốc
tế
Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về dịch vụ vận tải đường bộ đối
với hiện diện thương mại (phương thức 3) chỉ gồm hạn chế là dịch vụ có thể được
cung cấp dưới dạng hợp đồng
hợp
tác kinh doanh hoặc liên doanh và phần vốn góp

đẩy.
2.1.2 Dịch vụ vận tải đường
sắt
Quy định trong
nước
Giống dịch vụ vận tải đường bộ, bên cạnh các quy định chung điều chỉnh tất
cả các hoạt
động
kinh doanh, việc cung cấp dịch vụ đường sắt cũng phải tuân theo
các quy định
sau:
- Luật đường sắt số
35
/2005/QH1 1
ngà
y 14
t

h
áng 6
n

ă
m
2005
- Nghị định số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn thực thi
một số điều
trong
Luật đường
sắt.

2.1.3 Dịch vụ vận tải
biển
Quy định trong
nước
Có nhiều văn bản pháp quy điều chỉnh dịch vụ vận tải biển như
sau:
- Bộ luật hàng hải số 40/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm
2005.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 149/2003/QD-TTg ngày 21 tháng
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
18
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
7
năm
2003 về một số chính sách và cơ chế khuyến khích sự phát triển của đội tàu
Việt
Nam.
- Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2006 về quản lý cảng
biển và tuyến đường
biển.
- Nghị định số 49/2006/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm về đăng ký, bán và mua
tàu
biển.
- Nghị định số 115/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 07 năm 2007 về điều kiện
kinh doanh dịch
vụ
vận tải
biển.
- Quyết định số 47/2005/QD-BGTVT của Bộ trưởng giao thông vận tải ngày 23
tháng 9 năm

hóa xuất khẩu nhập khẩu sử dụng
ngân sách Nhà nước (mua sắm Chính phủ). Điều khoản này
cũng
quy định ưu
tiên đội tàu Việt Nam chuyên chở tài nguyên
thiên
nhiên.
Đoạn 4, Điều 3 của Quyết định số 149/2003/QD-TTg quy định hạn chế vốn
góp của phía
Việt
Nam trong Hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh không
dưới 51%, điều này có nghĩa phần
vốn
góp của phía nước ngoài trong liên doanh
không vượt quá 49%. Điều khoản này phù hợp với cam kết
của
Việt Nam đối với
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
19
GVHD: GS. TS. Đặng Đình Đào
phương thức 3a trong dịch vụ vận tải biển quốc tế.
*) Nghị định 115/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2007 về điều kiện kinh
doanh dịch vụ
vận

tải
biển. Nội dung của Nghị định 115 rất đơn giản. Điều 1
của Nghị định quy định trong Nghị
định
này, dịch vụ vận tải biển bao gồm: dịch

theo Bộ luật hàng hải năm 2005 có một số điều khoản liên quan
tới thuyền viên làm việc trên tàu mang
cờ
Việt Nam, nhưng Quyết định này tự
do hơn cam kết của Việt Nam trong GATS xét về số lượng
thủy
thủ nước ngoài
được phép làm việc trên tàu mang cờ Việt
Nam.
*) Bộ luật hàng hải 2005 và Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng
07
năm
2006 về Quản lý cảng biển và tuyến đường biển có các điều khoản liên
quan tới đầu tư xây dựng
cảng
biển tại Việt Nam khuyến khích tất cả các nhà đầu
tư (SOE, tư nhân, FDI ) và cho phép các
nhà
đầu tư quyết định vận hành cảng
biển (bởi nhà đầu tư hoặc cho các nhà vận hành khác thuê). Do
đó,
một doanh
nghiệp nước ngoài có thể tự đầu tư xây dựng và vận hành cảng biển, tự do hóa hơn
các
cam
kết của Việt Nam đối với dịch vụ xếp
dỡ.
Cam kết quốc tế
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
20

Nam
trở
thành thành viên WTO và nhận rất nhiều vốn FDI, đặc biệt là các dịch vụ
hỗ trợ vận tải
biển.
2.1.4 Dịch vụ vận tải hàng
không
Quy định trong
nước
Ngày 12 tháng 7 năm 2006, Luật hàng không mới được ban hành. Luật này
thay
thế
Luật hàng không ban hành ngày 26 tháng 12 năm 1991, được sửa đổi, bổ
sung ngày 20
tháng
4 năm 1995. Luật đưa ra những thay đổi lới đối với việc quản
lý vận tải hàng không. Trong
số
các đặc điểm nổi bật
có:
- Hoàn toàn tách biệt chức năng quản lý Nhà nước khỏi hoạt động kinh
doanh;
- Khuyến khích và đảm bảo sự tham gia bình đẳng, công bằng đối với các
thành phần kinh tế trong hoạt động sân bay và kinh doanh vận tải hàng
không;
- Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu
dùng;
- Phát triển dịch vụ hàng không nói
chung;
- Xác định cụ thể quyền lợi trong vận tải hàng

bản về vận tải đường thủy nội địa tại Việt Nam và quy định các
hoạt động vận tải đường thủy
nội
địa; các điều kiện đảm bảo an toàn cho cơ sở
hạ tầng vận tải đường thủy nội địa, tàu biển và
mọi

người
tham gia vận tải đường
thủy nội địa. Nhiều quy định pháp lý
liên
quan tới vận tải đường thủy nội địa dưới
dạng Nghị định, Quyết định và thông tư đã được
ban
hành sau đó. Quy định quan
trọng nhất là thị trường dịch vụ đã được mở cho tất cả các thành phần
kinh

tế.
Cam kết quốc
tế
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cho phép hiện diện thương mại để cung
cấp dịch vụ
hàng
hóa và hành khách dưới dạng thành lập liên doanh trong đó
phần vốn góp của phía nước ngoài
không
vượt quá
49%.
2.1.6 Vận tải đa phương thức và logistics nói chung

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc doanh
nghiệp nước ngoài chỉ được kinh
doanh
vận tải đa phương thức sau khi được Cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh vận tải
đa
phương thức hoặc
Giấy phép đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh vận tải đa phương thức”.
Đoạn
3 điều
6 quy định “Doanh nghiệp nước ngoài không đầu tư vào Việt Nam sẽ được cấp
Giấy phép
kinh
doanh vận tải đa phương thức nếu (1) Là doanh nghiệp của nước
thành viên ASEAN đã ký kết Hiệp
định
khung ASEAN về vận tải đa phương thức
hoặc là doanh nghiệp của nước đã ký hiệp định song phương,
đa
phương với Việt
Nam về vận tải đa phương thức, (2) Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vận
tải
đa phương thức do Cơ quan có thẩm quyền của nước đó cấp và đó được hợp
pháp hóa lãnh sự,
(3)


đại diện pháp lý tại Việt Nam là
doanh
nghiệp vận tải

định nghĩa về logistic, vốn là một dịch vụ rất rộng. Nghị định số 140
được thông qua năm 2007
hướng
dẫn các điều kiện cung cấp dịch vụ
logistics.
SV: Nguyễn Thị Thanh Hồng
23

Trích đoạn T10/2008 Cảng QT Cái Mép Thị Vải 700 CTCP XD số 6 và Phương hướng phát triển các ngành dịch vụ logistics: Điều chỉnh bổ sung Nghị định ND/140/CP Chính sách phát triển thị trường logistics
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status