Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế , nhiều nớc trên thế giới đã có đợc
những thành công to lớn nhờ có các chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng
đắn mà một trong những yếu tố cơ bản là có đợc chính sách phát triển công
nghiệp phù hợp. Tiêu biểu cho sự thành công này phải kể đến các nớc NIC. Mặc
dù với xuất phát điểm không cao nhng nhờ có chính sách phát triển công nghiệp
đúng đắn, các nớc này đã nhanh chóng trở thành những con rồng châu á và
đang cạnh tranh với những nớc có nền kinh tế phát triển khác.
Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII
trình Đại hội đại biểu toanf quốc lần thứ IX có nêu: Mục tiêu tổng quát của
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 2010 là : Đẩy mạnh CNH
HĐH đa đất nớc ra khỏi tình trạng kém phát triển , tập trung sức xây dựng có
chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng và công nghệ cao sản xuất
t liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kỹ thuật; công nghệ chế biến
tiên tiến cho các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp , dịch vụ và đáp ứng
nhu cầu quốc phàng, tạo nền tảng đến 2020 nớc ta trở thành một nớc công
nghiệp .
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam cần thiết phải xây dựng vf thực hiện
đợc một chính sách phát triển kinh tế nói chung và một chính sách phát triển
công nghiệp hữu hiệu nói riêng. Song đối với Việt Nam quan niệm về chính
sách công nghiệp còn cha áo sự nhất uán. vì vậyn việc nghiên cứu chính sách
công nghiệp Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng cho
việc thực hiện dờng lối đẩy mạnh CNHHĐH đất nớc, đa Việt Nam cơ bản trở
thành một cớc công nghiệp vào năm 2020.
Đó cũng là lý do khiến em chọn đề tài: Một số giải pháp hoàn thiện
chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 2020, với
mong muốn gopó một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng
đất nớc .
Với sự giúp đỡ tận tình của Giáo viên hớng dẫn: Nguyễn Tiến Dũng và
Cán bộ hớng dẫn: Lê Thuỷ Chung , Em xin mạnh rạn đa ra cơ cấu đề tài nh

trong giai đoạn 1970 đã che dấu một thực tế là các nền kinh tế t bản có nhiều
điểm khác nhau về hệ thống chính sách kinh tế .
Trớc những thay đổi ở tren, đi kèm với sự chấm dứt của thời kỳ tăng tr-
ởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp, các nớc công nghiệp phát triển đã
buộc phải điều chỉnh t tởng kinh tế chủ đạo, xuất hiện rất nhiều các cố gắng tìm
kiếm những phơng thức can thiệp của Chính phủ .
Một trong những cố gắng đó đợc thể hiện qua thuật ngữ Chính sách
công nghiệp .
Mặc dù chính sách công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với một số nớc
công nghiệp phát triển nh Nhật Bản, Pháp và các nớc NIC Châu á nh: Hàn
Quốc, Đài Loan, Singapo thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II, song cho đến cuối
những năm 1970 khái niệm ít đợc nhắc đến trên phơng diện lý thuyết. Những
ngời ủng hộ chính sách công nghiệp chủ yếu tập trung vào xem xét chính sách
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghiệp trên khía cạnh các vấn đề chính sách thực thế mà không nghiên
cứu nhiều về nền tảng lý thuyết của chính sách công nghiệp . Thc tế này dẫn
đến tình trạng ngay cả những ngời ủng hộ rất mạnh mẽ chính sách công nghiệp
cũng không thể mô tả thực tế chính sách công nghiệp vận hành nh thế nào.
II. Tổng quan về chính sách phát triển công nghiệp
1.Khái niệm về chính sách phát triển công nghiệp
1.1. Các quan điểm .
Chính sách công nghiệp là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Chỉ xét
riêng ở Nhật Bản đã có những quan điểm bất đồng về chính sách công nghiệp.
a. Quan điểm của Trezise(1983).
Ông là một trong những ngời phản đối công nghiệp công nghiệp và cho
rằng trợ cấp của Chính phủ và các khoản vay u đãi cho khu vực doanh nghiệp
Nhật Bản là nhỏ hơn tơng đối so vơí một quyết định thành công của Nhật Bản.
b. Quan điểm của Reich(1982).
Là một trong những học giả ủng hộ rất mạnh mẽ quan điểm về chính
sách công nghiệp ở Mỹ .Theo quan điểm của ông, chính sách công nghiệp bao

tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hớng vào những ngành nhất định để đạt đ-
ợc những ngành nhất định để đạt đợc mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này có thể là
tăng trởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm). Chính sách
công nghiệp thờng đợc thể hiện dới dạng tổ chức ngành, chọn ngành u tiên,
chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu t trực tiếp của Nhà nớc, tín
dụng u đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn nhân lc của ngành,
chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của ngành, chính sách đầu t n-
ớc ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối với các ngành , chính sách đối
với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp tập trung.
2. Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp .
2.1 Nội dung
Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt
động hoạch định của một nớc ngằm phát triển công nghiệp, liên quan tới những
hoạt động hoạch dịnh này là những vấn đề điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu t ,
hiện đại hoá và cải tổ cơ cấu công nghiệp, chính sách thị trờng và xuất nhập
khẩu , chính sách khuyến khích R & D , chính sách đối với sản xuất quy mô
nhỏ và các chính sách có liên quan đến phát triển nguồn lực và năng lợng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là, trong chính sách công nghiệp cần định rõ các ngành công nghiệp
cụ thể sẽ đợc khuyến khích và dành cho nhừng lĩnh vực này những u tiên khác
nhau trong một thời gian nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
của đất nớc vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trởng kinh tế .
Ba là, xây dựng đồng bộ hệ thống các phơng tiện khuyến khích phát triển
các ngành công nghiệp đã dợc lựa chọn . Liên quan đến các phơng tiện này là
khuyến khích về tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát thích hợp hỗ trợ hoạt
động R & D, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu và kế hoạch dài hạn ,...
2.2. Mục tiêu.
Vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu của chính sách phát
triển công nghiệp. Phần lớn ở các nớc khi xây dựng chính sách phát triển công
nghiệp thờng đa ra nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, có thể nêu lên 2 mục tiêu chính

nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu vực này vào GDP
và tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế tạo
thì đây là một sự sai lầm về định hớng chính sách. Thêm vào đó, các biện pháp
điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ cha đủ để có thể thúc đẩy sự phát triển của
khu vực chế tạo vì đối với tăng trởng năng suất của khu vực này, sự phân bổ vốn
còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu t. Chính vì vậy, Chính
phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi. Những ngời phản
đối quan điển chính sách công nghiệp cho rằng tăng trởng kinh tế trong thời kỳ
hậu công nghiệp ở các nớc t bản phát triển đặt trọng tâm vào khu vực dịch vụ,
dịch vụ trở thành trung tâm của các hoạt động kinh tế. Vì vậy, các biện pháp
can thiệp của Chính phủ theo hớng u tiên khu vực công nghiệp mà không tập
trung cho phát triển khu vực dịch vụ không nhngx là không cần thiết mà còn có
ảnh hởng tiêu cực đối với nền kinh tế. Chính sách công nghiệp sẽ cản trở cơ chế
chọn lọc tự nhiên của thị trờng và ngăn cản việc tái phân bổ các nguồn lực khan
hiếm của nền kinh tế cho khu vực dịch vụ, vì vậy ảnh hởng tiêu cực đến triển
vọng tăng trởng lâu dài của nên kinh tế (quan điểm của Burtơn-1983).
Song sự thay đổi về cơ cấu theo hớng phát triển dịch vụ không phải chỉ
đơn thuần là vì con ngời mong muốn tiêu dùng nhiều dịch vụ khi đới sống đợc
cải thiện. Lý do chủ yếu nhất của sự dịch chuyển về cơ cấu này là do chi phí
lạm phát tơng đối của khu vực dịch vụ tăng trởng chậm trong năng suất của khu
vực này, chứ không phải là do sự dịch chuyển thật sự của nhu cẩu thị trờng về
phía khu vực dịch vụ khi thu nhập gia tăng.
Bên cạnh đó, xu hớng phi công nghiệp hoá quan sát đợc ở một số nớc
công nghiệp phát triển là một kết quả tất yếu trong dài hạn của sự chênh lệch
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng suất lao động giữa hai khu vực này chứ không nhất thiết là do khu vực
công nghiệp suy giảm sức cạnh tranh. Ngay cả các nền kinh tế hớng mạnh vào
xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nh Nhật Bản, Đức cũng chịu những ảnh h-

tồn tại của cơ cấu thị trờng này vẫn là một lý do quan trọng biện minh cho vai
trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị
trờng.
4.2. Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ.
Trong thực tế, cũng nh khả năng thị trờng tự do có những khuyết tật, sự
can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì bản
thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó.
Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt đợc mục tiêu can thiệp
vào nền kinh tế.
Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt các
thông tin về thất bại thị trờng trong nhiều trờng hợp có thể còn lớn hơn cả lợi
ích mà các biện pháp khắc phục khuyết tật thị trờng mang lại.
Thứ hai, vì có sự xuất hiện của việc thu thập , xử lý thông tin, sự can thiệp của
Chính phủ có thể lại dẫn đến những chi phí nhất định đối với xã hội, và chi phí
này cũng có thể lớn hơn lợi ích mà nó mang lại.
4.3. Lý thuyết thể chế mới về sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế.
Nh đã phân tích trong phần trên, can thiệp của Chính phủ để khắc phục
những khuyết tật củâ thị trờng sẽ dẫn đến những chi phí nhất định mà những chi
phí này có thể lớn hơn cả lợi ích thu đợc từ sự can thiệp của Chính phủ. Tuy
nhiên, điều đó không đủ để có thể kết luận rằng Chính phủ không thể can thiệp
có hiệu quả vào nền kinh tế.
Lý thuyết thể chế mới cho rằng chi phí về thông tin có thể giảm thong
qua những thay đổi thichs hợp trong hệ thống tổ chức của bộ náy hành chính và
trong quan niệm về giá trị của các cá nhân là thành viên của bộ váy chính quyền
và xã hội. Những chi phí thu thập và xử lý thông tin sẽ có thể đợc loại bỏ thông
qua việc cho phép cạnh tranh giữa các Đảng phái và sử dụng các công cụ can
thiệp thích hợp.
Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng thị trờng không phải là một cơ chế
điều phối duy nhất đối với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Thị tr-
ờng,Chính phủ, các hãng, và các thể chế kinh tế khác đều có vai trò trong một

chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhng có thể đơc biện
minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc lậpcủa từng hệ
thống chính quyền.
Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công
nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách phát
triển công nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Phân loại chính sách công nghiệp .
Bản thân nền công nghiệp, đối tợng của chính sách, là thực thể luôn luôn
động. Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ, từng phút
với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối tợng. Không có
lý luận chung cho chính sách công nghiệp. Do vậy, phải phân loại chính sách
công nghiệp theo mục đích, chủng loại, và tính chất.
5.1. Phân loại theo vai trò của Nhà nớc trong sự phân công giữa Nhà nớc và
các doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này, chức năng của chính sách công nghiệp hớng
vào 3 mục đích chính:
- Hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh
nghiệp t nhân (chỉ đạo hay quy chế cho pjhép công nghiệp hợp tác, bổ sung
hoặc hỗ trợ đối với doanh nghiệp t nhân). Các chính sách này khác nhau ở chỗ
là dựa vào pháp luật (quyề lực hay chỉ đạo hớng dẫn, ).
- Khống chế các giao dịch bất chính: Bao gồm chính sách có mục đích
duy trì trật tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán
quyết hình thức (đăng ký, thông báo,).
- Dự thảo luật: gồm chính sách tạo lập môi trờng mới hay chính sách xuất
phát từ thái độ thụ động tạo ra trật tự để đối phó với môi trờng mới.
5.2. Phân loại theo đối tợng mục đích của chính sách.
- Các vấn đề cơ cấu công nghiệp : gồm chính sách có đối tợng là toàn bộ
cơ cấu công nghiệp với chính sách có đối tợng là từng ngành (hay từng doanh
nghiệp ).

- Về phơng pháp luận.
+ Phân biệt chính sách bất biến, chính sách tạm thời hay chính sách khẩn
cấp.
+ Phân biệt chính sách có tính uy quyền (chỉ huy, cơ chế,) với các
chính sách hỗ trợ (tài trợ, cho vay vốn , chế độ thuế) hoặc chính sách có tính
hoàn thiện môi trờng (nh cung cấp thông tin, đa ra quy cách, phát triển kỹ thuật,
) hay chính sách mang tính hớng đạo.
Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp nh sau:
Chính sách nhằm ảnh hởng tới cơ cấu của một nớc. Tức là một chính
sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nớc ngoài nh : ngoại thơng, đầu t
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính sách điều
tiết và sử dụng nguồn lực.
Các chính sách sửa chữa các thất bại của thị trờng do tính không hoàn
thiện của hoạt động kỹ thuật và thông tin. Tức là một chính sách khắc phục các
dạng thất bại của thị trờng bằng cách cung cấp thông tin chính xác, sử dụng các
công cụ chính qua trợ cấp, thuế và chỉ đạo việc phân phối nguồn lực theo hớng
mông muốn.
Chính sách can thiệp về mặt hành chính vào tổ chức sản xuất theo từng
ngành nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế. Cụ thẻ là chính sách nhằm trực tiếp can
thiệp vào cơ cấu cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong các nhành sản xuất
thông qua hình thức liên minh giảm giá, liên minh đầu t thiết bị,
Chính sách đợc hoạch định theo yêu cầu chính trị là củ yếu chứ không
phải mang tính kinh tế. Tức là chính sách bao gồm quy chế tự chủ xuất khẩu
hay hiệp định đa phơng nhằm xử lý mâu thuẫn ngoại thơng.
6. Khái quát về chính sách công nghiệp của Việt Nam.
Nh đã phân téch trong các phần ở trên, chính sách công nghiệp là một
khái niệm rộng, phức tạp và vòn tơng đối mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu
trên thế giới, nhất là trên phơng diện lý thuyết.
Trong bối cảnh nh vậy :

Trên cơ sở các mục tiêu và định hớng phát triển công nghiệp nh vậy, phải
thiết lập hệ thống các chính sách đợc sử dụng để hỗ trợ cho phát triển công
nghiệp, trong đó phải kể đến một số chính sách chính nh : chính sách vốn,
chính sách nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học và chính sách thuế
quan.
Nh vậy, chính sách công nghiệp của Việt Nam có thể đợc hiể là tập hợp
của các định hớng, chính sách, công cụ điều chỉnh đối với một số ngành công
nghiệp để đạt đợc mục tiêu đa Việt Nam từ một nớc nông nghiệp sang một nớc
công nghiệp vào năm 2020. Nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay
đổi qua mỗi thòi kỳ nhng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động
cuả các khu vực công nghiệp theo chiều hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế-
xã hội của đất nớc.
Nhiệm vụ này đợc thể hiện trên hai mặt sau :
Một là, tạo điều kiện thuân lợi cho các doanh nghiệp trong nớc mở rông thị tr-
ờng ra nớc ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu
dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nền kinh
tế trong nớc.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là, bảo vệ thị trờng nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc
đứng vững và vơn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng cho yêu cầu
tăng cờng lợi ích quốc gia.
Thêm vào đó, cũng cần phải nhấn mạnh rằng cách hiểu ở các phần trên
về chính sách công nghiệp là quan điểm áp dụng cho các nền kinh tế thị trờng.
Rất nhiều mô tả về chính sách công nghiệp đơc khái quát từ thực tế vận hành
chính sách công nghiệp ở những nớc nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, là
những nớc có hệ thống chính trị khác với Việt Nam và hiện đang ở trình độ phát
triển cao hơn Việt Nam.
Nhận định về chính sách công nghiệp Việt Nam cần phải đợc xẽmét
trong bối cảnh Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi sang một nền kinh
tế thị trờng , Chính phủ đang phải đối mặt với vấn đề cải cách khu vực doanh

ớc trong các lĩnh vực nh: tinh chế đờng, diện lực, lọc dầu. Các công ty thuộc
lĩnh vực xi măng, giấy và những công ty nhỏ hơn đợc t nhân hoá, nhờ đó giúp
chuyển vốn của các địa chủ từ sản xuất nông nghiệp vào khu vực công nghiệp.
Đồng thời Chính phủ ủng hộ sự phát triển của các khu vực thay thế nhập khẩu
bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chú ý phát triển các công ty t
nhân thông qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn viện trợ của Mỹ.
Nhật Bản, nền kinh tế sau chiến tranh đang trong tình trạng đổ nát và tụt hậu
khá xa về công nghệ so với các quốc gia công nghiệp hoá. những năm đầu sau
chiến tranh, chiến lợc của Mỹ đối với Nhật Bản là kiềm chế tăng trởng kinh tế.
Tăng trởng nhanh của Liên Xô cũ và sự mở rộng nhanh chóng của thế giới cộng
sản buộc Mỹ thay đôỉ chiến lợc đối ngoại đối với Nhật Bản. Kế hoạch Marshall
do Mỹ đa ra nhằm mục tiêu hỗ trợ quá trình tái thiết Nhật Bản và Châu Âu sau
chiến tranh. Các nỗ lực phát triển kinh tế của Chính phủ Nhật Bản trong thời kỳ
đầu là tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển các ngành
công nghiệp nh điên, than, sắt théo, và đong tàu. Cũng trong giai đoạn này,
mộtkhuôn khổ cơ bản của chính sách ccn đã đợc xác lập với các lĩnh vực u tiên
khuyến khích về thuế, tài chính và đầu t nớc ngoài. Ngoài ra, Chính phủ Nhật
Bản còn quản lý chặt chẽ, phân bổ các chỉ tiêu nhập khẩu máy móc và nguyên
vật liệu, kiểm soát về giá cả áp dụng cho các khu vực u tiên.
Sự kết thúc tạm thời của căng thẳng Nam Bắc có ảnh hởng đến nền
kinh tế Hàn Quốc trên ba phơng diên : cải cách ruộng đất, chủ nghĩa dân tộc, và
viện trợ của Hoa Kỳ. Chế độ địa chủ bắt đẩu bãi bỏ từ 1953. Nông dân đợc chia
đất và trở thành những ngời sở hữu đất đai. Tầng lớp địa chủ bị bắt buộc phải
chuyển sang các khu vực thơng mại và công nghiệp. thêm vào đó, sự tồn tại của
cơ chế quản lý sở hữu ruộng đất chặt chẽ cho phép chính quyền có thể thực thi
những chính sách nhất định để áp đặt các định hơng phát triển đối với khu vực
nông nghiệp. Bằng việc không chú ý đầu t phát triển nông thôn trong khi tạo ra
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các điều kiện thuận lợi cho khu vực công nghiệp, chính quyền Hàn Quốc trong
khoảng thời gian từ 1949-1962 đã có khởng 5 triệu ngời dân từ khu vực nông

(Những năm 50)
Phát triển và khuyến khích
các ngành công nghiệp
thay thế nhập khẩu/ hệ
thống trợ cấp bằng hạn
ngạch/ tỷ giá hối đoái kép/
miễn giảm thuế cho máy
móc, nguyên liệu nhập
khẩu
Công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu
(nửa đầu thập kỷ 50)
Điều chỉnh các ngành
công nghiệp công cộng
chủ chốt (đờng, xi
măng, phân hoá học)/
khuyến khích công
nghiệp dệt bằng hạn
chế số lợng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khuyến khích phát triển
công nghiệp
(nửa sau thập kỷ 50)
Bảo hộ bằng thuế quan
với các sản phẩm sợi tổng
hợp, dệt may, hoá dầu,
máy móc, điện tử dân
dụng/ chính sách tài
chính và thuế khoá có
chọn lọc/ khuyến khích

công nghiệp chủ đạo thông
qua can thiệp của Chính
phủ và đầu t cho nghiên
cứu ứng dụng.
Công nghiệp hoá h ớng
xuất khẩu (những năm
60)
Tăng cờng sử dụng vốn
nớc ngoài (các khoản
vay và đầu t trực tiếp)/
tập trung vào khu vực
kinh tế t nhân/ lập các
KCX/ miễn giảm thuế/
khuyến khích các công
ty thơng mại .
Tăng tr ởng ổn định
(từ những năm 70)
Lập các kế hoạch tầm xa/
sử dụng cơ chế thị trờng /
phát triển các ngành sử
dụng nhiều yếu tố tri
thức, công nghệ cao
CNH các ngành công
nghiệp nặng, hoá chất h -
ớng xuất khẩu
(những năm 70)
Kế hoạch chiến lợc phát
triển công nghiệp nặng,
hoá chất/ tài trợ có kiểm
soát cho các hoạt động

nghiệp kỹ thuật cao.
(những năm 80)
Xác định các ngành
công nghiệp chiến lợc/
miễn thuế đối với các
ngành điện tử và máy
móc/ lãi suất cho vay
thấp/ khuyến khích
công nghiệp ô tô.
2. Công nghiệp hoá hớng nội, thay thế nhập khẩu đợc chuyển hớng thành
công nghiệp hoá hớng ngoại, khuyến khích xuất khẩu vào thời điểm
thích hợp
Đây là điểm phân biệt quyết định sự thành công của các nớc NIE so với
các nền kinh tế Latin America. Chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
đã xuất hiện đầu tiên ở các nớc Mỹ Latin. Nhng do duy trì quá lâu chính sách
này nên đã biểu hiện những nhợc điểm rõ rệt.
Kinh nghiệm của Brazil thực hiện công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
cho thấy việc duy trì u tiên theo hớng thay thế nhập khẩu trong một khoảng thời
gian dài có thể là một nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự thất bại của chiêns l-
ợc công nghiệp hoá hớng nội.
- Khác với Brazil, ấn Độ, NIEs và Nhật Bản đều đã thực hiện các bơc
chuyển hớng ngoạn mục từ u tiên tái thiết kinh tế trong nớc thông qua thay thế
nhập khẩu bằng việc chuyển u tiên phát triển sang các khu vực khuyến khích
xuất khẩu vào nửa cuối thập kỷ 50(đối với Nhật Bản và Đài Loan ) và những
năm đầu của thập kỷ 60 (đối với Hàn Quốc).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2- Khuyến khích công nghiệp xuất khẩu và các chính sách kuyến khích
xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan .
Nhật Bản Hàn Quốc Đài Loan
Hợp lý hoá công nghiệp

giá để khuyến khích xuất
khẩu.
Khuyến khích phát triển
công nghiệp
(cửa sau những năm 50)
Xuất khẩu tàu biển/ cho
vay lãi suất thấp của
NHPT Nhật Bản/ khấu trừ
đặc biệt cho các khoản
thu nhập liên quan đến
giao dịch ở nớc ngoài.
Chuyển sang CNH h ớng
xuất khẩu.
(nửa sau những năm 50)
Bắt đẩu xuất khẩu gạo, đ-
ờng và nông sản chế biến
của khu vực công cộng/
cải cách hệ thống tỷ giá
theo hớng khuyến khích
xuất khẩu.
Tăng tr ởng cao
(những năm 60)
Tự do hoá kinh tế, tăng
sức cạnh tranh/ xuất khẩu
thiết bị máy móc/ tiếp tục
cho vay lãi suất thấp của
NHPT Nhật Bản/ khấu trừ
đặc biệt đối với xuất
khẩu/ phát triển thị trờng
nớc ngoài/ mở rộng quy

vay lãi suất thấp/ phát
triển các EPZ/ phá giá nội
tệ/ thành lập ngân hàng
XNK/ áp dụng thuế VAT.
Sự tiến bộ của các ngành
công nghiệp xuất khẩu
(những năm 70)
Củng cố các xí nghiệp
Nhà nớc/ phát triển
BHXK/ hệ thống cho vay
trung và dài hạn của NH
XNK/ hiệp hội phát triển
ngoại thơng.
Đối phó với xung đột th -
ơng mại
(những năm 80)
Hạn chế xuất khẩu tự
nguyện/ các công ty phát
triển đầu t kinh doanh tại
Mỹ(xuất khẩu tại chỗ)/
khuyến khích thị trờng tự
do.
Nhật Bản
Bắt đầu từ nửa cuối của thập kỷ 50, Nhật Bản đã thực hiện hàng loạt
những cải tiến về công nghệ và đề ra một chính sách công nghiệp đa dạng nhằm
mở rộng cơ sở công nghiệp trong nớc, khuyến khích phát triển các ngành công
nghiệp mới, cơ cấu lại các khu vực đang giảm sút.
Mục tiêu của chính sách công nghiệp trong thời kỳ này gồm hai phần:
thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu. Các ngành nh sợi tổng hợp, hoá
dầu, máy móc, phụ tùng, điện tử đợc xác định là các khu vực u tiên và đợc hởng

khích xuất khẩu.
Năm 1961, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện quốc hữu hoá toàn bộ hệ
thống ngân hàng. Bằng các mệnh lệnh hành chính, Chính phủ phân phối các
nguồn tín dụng khan hiếm cho các ngành công nghiệp đợc u tiên.
Vào đầu thập niên 70, khi chi phí nhân công ngày càng cao, Chính phủ
sử dụng hệ thống tín dụng để khuyến khích các doanh nghiệp chuyển hớng đầu
t mạnh vào các ngành công nghiệp nặng hớng ra xuất khẩu nh hoá chất, đóng
tàu, luyện thép. Tỷ trọng của xuất khẩu hàng hoá công nghiệp nặng trong tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng lên từ 14% năm 1974 lên 60% năm1984.
Đồng thời Chính phủ cũng tiếp tục sử dụng hỗ trợ tín dụng để hậu thuẫn cho các
Cheabol phát triển mở rộng. Ztrong thời gian từ 1972 đến 1979 số lợng các
doanh nghiệp trong nớc thuộc sở hữu các cheabol tăng từ 7,5% đến 25,4%, tốc
độ tăng trởng của các cheabol trong thời kỳ này đạt 44,7% trong khi đó tốc độ
tăng GDP là 10,2% .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để khuyến khích xuất khẩu chính phủ cho phép phá giá đồng tiền ở mức
độ đáng kể. Năm 1961 đồng won phá giá 50%. Các biện pháp phá giá mạnh mẽ
hơn vào năm 1963 và trong thời kỳ 1971 1972 đã có tác dụng rất quan trọng
để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Hàn Quốc trên thị trờng quốc tế. Theo
đánh giá của WB, đây là một trong những biểu hiện của sự thành công của
chính phủ Hàn Quốc trong việc nới lỏng dânf các hàng rào bảo hộ để làm cho
nền công nghiệp trong nớc có sức cạnh tranh cao hơn .
Đồng thời chính phủ cũng rất chú ý đến phối hợp trao đổi thông tin giữa
khu vực t nhân và các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô, đực biệt là cơ chế phối hợp
thông qua uỷ ban kế hoạch kinh tế Hàn Quốc. Bên cạnh đó trung tâm thơng mại
Hàn Quốc ( Kotra ) đợc thành lập cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc
giúp các ngành xuất khẩu phát triển.
Thời kỳ này chính phủ Hàn Quốc mới dần dần sử dụng ít đi các công cụ
chính sách theo chiều dọc để chuyển sang sử dụng các chính sách theo chiều
ngang. Vào đầu những năm 1980 chính phủ chủ yếu thực hiện sự lãnh đạo của

1.1. Giai đoạn (1954-1957)
Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời từ tháng 9 năm 1945, nhng chỉ
sau đó một thời gian ngắn, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hiệp định
Giơ-ne-vơ mới chỉ mang lại hoà bình trên nửa phía Bắc. Có thể nói, từ đây cho
đến 1975, chính sách công nghiệp hoàn toàn khác nhau.
Miền Bắc thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung theo mô hình
và với sự giúp đỡ của các nớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên
Xô, Trung Quốc và các nớc Đông Âu. Trong khi đó, ở Miền Nam, với sự có mặt
của Hoa Kỳ, một nền kinh tế phục vụ chiến tranh theo cơ chế thị trờng đợc kiến
tạo mạnh, đặc biệt bắt đầu từ 1960.
Do đó, Việt Nam tồn tại song song hai mô hình kinh tế khác nhau và tất
nhiên là với hai chính sách công nghiệp khác nhau.
Nét đặc trng của chính sách công nghiệp giai đoạn 1954-1957 ở Miền
Bắc là giai đoạn cải tạo công thơng nghiệp. Các cơ sở công nghiệp thong mại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của thực dân Pháp để lại và của các nhà t sản Việt Nam đèu đợc quốc hữu hoá.
ở giai đoạn này, thay đổi quan hệ sở hữu là chính sách đợc tập trung thực hiện
để đảm bảo Nhà nớc có đợc trong tay tiềm lực kinh tế cho sự quản lý tập trung.
Kết quả là nền kinh tế nói chung. Công nghiệp nói tiêng có 3 hình thức tổ
chức :
- Các nhà máy xí nghiệp và công ty thơng mại dịch vụ thuộc sở hữu Nhà
nớc (gọi chung là các doanh nghiệp Nhà nớc )
- Các hợp tác xã dựa trên sở hữu tập thể.
- Một số cơ sở công t hợp doanh, hình thức này chỉ còn lại rất ít cho đến
đầu những năm 1960.
Chính sách bao trùn của thời kỳ này trong công nghiệp là đặt nền móng
cho một nền công nghiệp dới sự kiểm soát tập trung của Nhà nớc. Cũng trong
thời kỳ này, những nhà quản lý học tập cách điều hành xí nghiệp theo phơng
thức vừa làm , vừa học và chờ đợi gào sự chỉ đạo trực thiếp của cấp trên. Đây
là giai đoạn mà công nghiệp hầu nh cha có sự đầu t mới nào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status