1
………… o0o…………
Đề tài : "Chính sách tiền tệ- thực trạng và giải
pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam"
5. Những tồn tại trong tổng nguồn vốn huy động và mức dư nợ cho vay trong nền kinh
tế bị tăng chậm 24
Phần III : Những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay
26
I. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến kinh tế thế giới và Việt Nam
26 3
II. Những định hướng cơ bản xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta trong
thời gian tới. 30
1. Điều hành cung ứng tiền tệ 30
2. Chính sách quản lư ngoại hối và điều hành tỷ giá 31
3. Chính sách huy động vốn và tín dụng 33
4. Điều hành chính sách tiền tệ với công cụ quản lư 34
5. Các giải pháp hỗ trợ cho chính sách tiền tệ 37
6. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách kinh tế vĩ mô khác. 38
Kết kuận 39
Danh mục tài liệu tham khảo 40
công cụ đặc biệt quan trọng.Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường, chính sách
tiền tệ(CSTT) có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế
như:công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, giá cả,lạm phát
Chúng ta phải thừa nhận rằng chính sách mở cửa và từng bước hội
nhập đã tạo ra nhiều cơ hội để chính sách tiền tệ đổi mới, thích hợp với nền
kinh tế đang chuyển dần sang kinh tế thị trường.Tuy nhiên, cùng với tiến
trình hội nhập ngày một sâu rộng và trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày một
sâu sắc,CSTT của VN đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Nói như vậy có nghĩa là ở VN, hệ thống NH nói chung và chính sách
tiền tệ nói riêng vẫn là một lĩnh vực cần được quan tâm nghiên cứu một
cách đầy đủ và có hệ thống.
Vì vậy nghiên cứu CSTT và các công cụ điều hành CSTT ởVN là
vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, đặc biệt là trong bối cảnh
hiện nay ở nước ta,khi nền KTTT đang được xác lập và phát triển.
Trên cơ sở đó em đã quyết định chọn đề tài:
“Chính sách tiền tệ- thực trạng và giải pháp hoàn thiện CSTT ở
Việt Nam”
Bài viết gồm 4 phần:
Phần I: Vai trò của NHNN trong việc xây dựng và thực hiện các mục
tiêu của chính sách tiền tệ.
Phần II: Vận dụng hệ thống các công cụ điều hành chính sách tiền tệ
hiện nay 5
Phần III: Thực trạng và những tồn tại từ hoạt động của chính sách
tiền tệ Việt Nam
Phần IV: Giải pháp hoàn thiện CSTT ở Việt Nam
6
2.1.1: ổn định giá cả:
Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT.Trong quá
trình thực nghiệm cho thấy để ổn định giá cả phải ổn định giá trị đồng
tiền,ổn định giá trị đồng tiền là ổn định sức mua của tiền tệ.Để đạt được
điều đó NHTƯ đã đề ra mục tiêu trong chính sách tiền tệ là ổn định chỉ số
giá cả.
Để thực hiện mục tiêu ổn định giá cả NHTƯ có nhiệm vụ ổn định giá
trị đồng tiền bằng cách áp dụng nhiều biện pháp để điều chỉnh sự biến động
giá cả trong phạm vi mong muốn cả về ngắn và dài hạn.
Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vĩ mô cũng như vi
mô.Nó giúp cho nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển kinh
tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động của giá cả.Mặt
khác nó còn giúp cho môi trường đầu tưư ổn định góp phần thu hút vốn đầu
tưư,khai thác mọi nguồn lực xã hội,thúc đẩy các DN cũng như các cá nhân
phát triển sản xuất đem lại nguồn lợi cho mình cũng như cho xã hội
2.1.2: Tăng trưởng kinh tế cao:
Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ổn định là yêu cầu phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia và là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo
cho sự ổn định của tiền tệ.Ngược lại tiền tệ ổn định thì tăng trưởng kinh tế
mới bền vững
Có thể nói, đây là một mục tiêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với các nước,đặc biệt là các nước đang phát triển.Bởi lẽ muốn phát triển
kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập để từ đó cải thiện đời sống con
người thì trước hết nền kinh tế phải có tăng trưởng cao.
Chính sách tiền tệ trong một khoảng thời gian nào đó của một quốc
gia có thể được xác định theo một trong hai hướng:Chính sách tiền tệ mở
điều hành CSTT của các quốc gia
2.1.3 Tạo công ăn việc làm:
Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinhtế-xã hội của
mọi quốc gia hiện nay.Nếu xã hội có ít công ăn việc làm,tỷ lệ thất nghiệp
cao sẽ dẫn đến hậu quả là sự lãng phí về các nguồn lực làm giảm sản lượng
quốc gia, hơn nữa còn làm giảm thu nhập trong dân chúng gây khó khăn
cho đời sống của họ.Vì vậy việc làm cao là một trong những yêu cầu bức
thiết của mọi quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển
CSTT có vai trò to lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người
lao động.Chẳng hạn khi nền kinh tế của một quốc gia đang ở trong tình
trạng suy thoái.Tình hình lúc đó là sản xuất ở dưới mức tiềm năng, đầu tưư
giảm, kéo theo tình trạng thất nghiệp gia tăng.
Để thoát khỏi tình trạng đó, NHTƯ quyết định thi hành CSTT “mở rộng”
Với các công cụ điều tiết trong tay trong tay, NHTƯ sẽ làm cho cung tiền
tăng lên lãi xuất giảm xuống nhờ đó mà khuyến khích đầu tưư. Hơn nữa
sau thời kỳ suy thoái tiền công thường giảm thấp dẫn đến thúc đẩy các 8
doanh nghiệp mở rộng sản xuất tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội.
Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống
Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện CSTT mở rộng sẽ khuyến
khích đầu tưư tạo nhiều công ăn việc làm với cái giá phải trả là lạm phát
tăng. Ngược lại, khi NHTƯ thi hành CSTT thắt chặt thì đầu tưư giảm sút
và thất nghiệp gia tăng.
Rõ ràng trong quá trình điều tiết vĩ mô, khi NHTƯ quyết định thay đổi
CSTT từ thắt chặt sang mở rộng thì một trong những mục tiêu phải đạt
được của CSTT là tạo ra công ăn việc làm cao trong xã hội
2.1.4) ổn định thị trường tài chính
có thể đưa ra dấu hiệu giúp ngân hàng trung ương biết được tác động của
mình là đúng hay sai, NHTƯ phải kiểm soát và chi phối được mục tiêu này
để đạt được mục tiêu cuối cùng. Và điều quan trọng là nó phải có khả năng
ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng của CSTT
Các mục tiêu trung gian của CSTT bao gồm: Mức cung tiền tệ, lãi
suất thị trường trung và dài hạn, tỷ giá, khối lượng tín dụng.
Hiện nay các nước thường sử dụng mức cung tiền tệ hoặc lãi suất
tiền tệ làm mục tiêu trung gian của CSTT
Với các mục tiêu trung gian NHTƯ không thể chủ đọng tác động
một cách hoàn toàn vì vậy NHTƯ phải lựa chọn các mục tiêu hoạt động để
chỉ đạo thường xuyên và trực tiếp
2.3) Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu được NHTƯ lựa chọn để so cho khi
NHTƯ sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hưởng đến mục tiêu trung
gian. Để được lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì các mục tiêu đó phải
mang tính định lượng, có thể đo lường được, chỉ tiêu đó phải hết sức nhạy
cảm với sự biến động của CSTT và phải tác động đến mục tiêu trung gian.
II- Vai trò của NHTƯ trong xây dựng và thực hiện CSTT:
Trong 15 năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo
NHNN từng bước đổi mới vững chắc, góp phần xứng đáng trong những
thành tựu của nền kinh tế đạt được: Mức tăng trưởng kinh tế cao và liên
tục, ổn định và kiểm soát lạm phát, cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân.
Ngày nay CSTT ngày càng trở nên quan trọng, đối với hoạt động của
các NHTƯ, không ít các quốc gia đã xác định mục tiêu hoạt động của
NHTƯ cũng là mục tiêu của CSTT. Vì vậy,việc nâng cao vai trò của
NHNN trong xây dựng và thực thi CSTT có ý nghĩa quan trọng để góp
phần đổi mới, hoàn thiện NHNN trong thời gian tới
Thực trạng vai trò của NHNN:
- Thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền quốc gia. Theo quy
+ Trong bất cứ sự phát triển nào đều phải trải qua các giai đoạn, nếu
chuyển ngay sang một mô hình tổ chức hoàn toàn khác thì chẳng những các
cơ quan, đơn vị có liên quan chưa chấp nhận, gây ách tắc trong việc phối
hợp lẫn nhau, mà bản thân NHNN cũng chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện
cần thiết để theo cơ chế hoạt động hoàn toàn mới
Một số vấn đề còn bất cập:
-Vai trò tương đối hạn chế: 11
Vì NHNN là thành viên của chính phủ nên NHNN không thể trực
tiếp trình dự án CSTT quốc gia trước Quốc hội mà phải thông qua chính
phủ.
- Chưa thực sự chủ động trong thực thi CSTT
Định kỳ lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm đều đã được
chính phủ chỉ định để chi cho các mục tiêu cụ thể vì vậy NHNN khó có thể
chủ động trong việc sử dụng công cụ này để điều tiết lượng tiền trong lưu
thông.
Còn khá nhiều cơ quan, tổ chức tham gia chỉ đạo, giám sát xây
dựng và thực hiện CSTT.
ý kiến đề xuất:
- Cho phép NHNN chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung
ứng cho lưu thông tiền tệ.
Hàng năm, chính phủ duyệt lượng tiền bổ xung cho lưu thông,
nhưng không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu cho chi tiêu ngân sách NN mà
phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, của điều hành CSTT
để NHNN cố thể chủ
động trong công tác phát hành tiền phục vụ thực hiện tốt CSTT.
-Góp phần tăng cường khả năng điều hành các công cụ thực hiện CSTT của
Là sự hạn chế đối với giá trị của đồng nội tệ và nó là một yếu tố cần
thiết đói với sự thành công của việc thực thi các giải pháp CSTT khác
nhau.
1/ CSTT lấy tỉ giá hối đoái làm mục tiêu:
CSTT lấy tỉ giá hối đoái làm mục tiêu là một giải pháp có lịch sử khá
lâu dài. Chính sách này có thể được thực thi dưói dạng gắn giá trị của đồng
nội tệ vào một loại hàng hoá như vàng. Đây là đặc điểm chủ yếu của chế
độ bản vị vàng.
Có đồng tiền được đồmg tiền của nước kia gắn vào.
Hơn thế nữa, tỉ giá mục tiêu có nghĩa là các cú sốc đối với các nước
có đồng tiền được đòng tiền nước khác gắn vào sẽ lan truyền sang nước ấy
vì những thay đổi về laĩ xuất ở nước có đồng mạnh sẽ dẫn đến thay đổi về
lãi xuất ở nước có đồng tiền yếu.
Tỉ giá mục tiêu có bất lợi là nó xoá bỏ tín hiệu mà tiền tệ ngoại hối
hàng ngày đưa ra về quan điêmr CSTT. Dưới chế độ tỉ giá mục tiêu, các
NHTW thường thoe đuổi chính sách mở rộng quá mức mà không được
phát hiện ra trước khi đã muộn khi các cuộc tấn công của các nhà đầu cơ
đang diễn ra. Hơn nữa tỉ giá mục tiêu sẽ làm cho các nước áp dụng CSTT
này dễ bị các cuộc đầu cơ đồng tiền của nước ngoài tấn công.
Một bất lợi nữa của CSTT là do không biết chắc chắn về giá trị
tương lai của đòng tiền bản tệ nên nhiều doanh nghiệp phi tài chính và 13
chính phủ ở các nước tiên tiến mới nổi thích phát hành trái phiếu vay nợ
nếu đó được định giá bằng ngoại tệ.
2/ CSTT lấy các đại lượng tiền tệ làm mục tiêu:
ở nhiều nước, do không thực thi đựoc CSTT lâý tỉ giá làm mục tiêu
vì đất nước của họ quá lớn hoặc không xác định đước đồng tiền của nước
14
về những chính sách trong nước khác và giúp cho việc đối phó với các cú
sốc trong nước.
Ngoài ra nó còn có một lợi thế nữa là công chúng rất dễ dàng hiểu
được giải pháp CSTT của NHTW và giải pháp này có tính minh bạch cao.
Do mục tiêu lạm phát bằng con số rõ ràng sẽ tăng tính trách nhiệm
của NHTW, CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu sẽ có khả năng tiềm tàng là
làm giảm khả năng NHTW rơi vào cái bẫy của chính sách tình thế, các
biện pháp chính sách không kịp thời nhằm cố tăng sản lượng và công ăn
việc làm bằng cách buộc NHTW thực hiện các CSTT mở rộng quá mức.
Một lợi thế then chốt của CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu là nó có
thể giúp tập trung cuộc tranh luận về chính sách vào cái mà về dài hạn
NHTW phải làm đó là kiểm soát lạm phát chứ không phải thảo luận cái mà
buộc NHTW không thể làm được đó là nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế lên
và tạo ra nhiều công ăn việc làm vinhx viễn thông qua CSTT bành trướng.
Mặc dù người ta nói nhiều về việc theo đuổi mục tiêu “ ổn định giá
cả “. Trong thực tế, tất cả các nước thực thi CSTT lấy lạm phát làm mục
tiêu đều chọn mục tiêu là tỉ lệ lạm phát chứ không chọn mặt bằng giá làm
mục tiêu.
Tất cả các nnước thực thi giải pháp chính sách này đều muốn có
những bước đi từ từ để xử lý vấn đề thiểu phát nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất sự suy giảm sản lượng bằng cách giảm thấp hơn từng bước mục tieeu
lạm phát trung hạn để hướng vào mục tiêu dài hạn.
Một yếu tố nữa của tính linh hoạt trong chính sách lấy lạm phát làm
mục tiêu là việc người ta cho phép đi trệch mục tiêu lạm phát để đối phó
với cú sốc về cung.
Mặc dù chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu tỏ thành công
trong việc làm giảm và kiểm soát được lạm phát, chính sách này không
ta thấy rằng mỗi giải pháp CSTT có những điểm lợi và điểm bất lợi riêng
của nó. Việc áp dụng giải pháp CSTT này hay giải pháp khác phụ thuộc
vào điều kiện chính trị, văn hoá - lịch sử đặc biệt là cơ cấu kinh tế, cơ chế
quản lý và khuôn khổ pháp lý theo đó NHTW vận hành. Một điểm rút ra từ
các giải pháp này là phải nâng cao trách nhiệm và tính độc lập của NHTW
hạn chế tối đa những biện pháp tình thế, tuỳ tiện để CSTT có thể đạt được
mục tiêu dài hạn là lạm phát thấp, môi trường kinh tế ổn định và một nền
kinh tế phát tiển bền vững và lành mạnh. /.
16
PHẦN II
VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ HIỆN NAY
Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,
phát triển và tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của quốc gia.Trong khi
nền kinh tế phát triển thấp, tích luỹ từ nội bộ không,các nguồn lực của nền
kinh tế chưa có điều kiện khai thác thì việc hỗ trợ của dòng vốn từ bên
ngoài là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng đối việc tăng trưởng kinh
tế.
Tuy nhiên để có thể thu hút dòng vốn từ bên ngoài đòi hỏi chúng ta
phải thực thi hàng loạt các chính sách kinh tế có liên quan nhằm tạo môi
trường cho dòng vốn được lưu chuyển dưới dạng tác động của cung cầu
tiền tệ trên thị trường.Ta biết rằng tiền tệ là vấn đề rất nhạy cảm,việc thực
thi chính sách tiền tệ không những tác động đến tình trạng của nền kinh tế
quốc gia mà còn ảnh hưởng đến các nước khác do xu thế toàn cầu hoá, khu
vực hoá nền kinh tế thế giới.
Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHTƯ có thể sử
dụng để tác động vào mục tiêu của CSTT
Mỗi loại công cụ đều có cơ chế tác động riêng và đem lại những kết
quả trên những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên các công cụ này đều nhằm
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lượng tiền cung ứng và lãi suất để từ
đó đạt được các mục tiêu của CSTT
I/ Công cụ trực tiếp:
Công cụ trực tiếp là công cụ có tác động về lượng và NHTƯ kiểm
soát công cụ bằng biện pháp hành chính. Khi NHTƯ sử dụng công cụ trực
tiếp nó tác động trực tiếp vào mục tiêu trung gian, từ mục tiêu trung gian đã
tác động đến tổng cầu.
1-Hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng là công cụ trực tiếp của CSTT, đó chính là mức dư
nợ tối đa mà NHTƯ buộc các TCTD phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho
nền kinh tế
Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ tín dụng của các
NHTM, từ đó nó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế, vì
mỗi khoản cho vay cấu thành dư nợ tín dụng của các NHTM thì tương
đương với nó là một nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh hưởng đến tỷ
trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng
Để cho hạn mức tín dụng có hiêu quả thì khi đưa ra hạn mức tín
dụng bao giờ cũng phải nhỏ hơn nhu cầu vay của nền kinh tế dẫn đến khan
hiếm tiền. Khi đó viêc thay đổi HMTD mới có ý nghĩa tác động vào hạn
mức đồng thời tác động đến vốn trong nền kinh tế
Tuy nhiên, hạn mức tín dụng nhỏ hơn nhu cầu vay của nền kinh tế là
bao nhiêu còn là vấn đề cần xem xét. NHTƯ căn cứ vào mục tiêu của 18
khi thị trường tiền tệ đã ổn định và thị trường vốn đã đi vào hoạt động thì
công cụ HMTD sẽ được xoá bỏ
2- Công cụ lãi suất: 19
Bên cạnh HMTD, NHTƯ còn sử dụng công cụ lãi suất ấn định dưới
các hình thức như: ấn định khung lãi suất, ấn định trần lãi suất cho vay, sàn
lãi suất tiền gửi.
NHTƯ ấn định trực tiếp trần lãi suất cho vay để khống chế mức lãi
suất mà các NHTM áp dụng cho vay với nền kinh tế
Khi NHTƯ tăng, giảm trần lãi suất cho vay, NHTM cũng phải tăng,
giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về
vốn của các tổ chức kinh tế
Công cụ này không phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế sự cạnh
tranh của các NHTM. Đặc biệt trong trường hợp NHTƯ ấn định mức lãi
suất không phù hợp như mức lãi suất quá thấp sẽ làm cho cầu tiền tăng
nhanh hơn dự đoán, các ngân hàng gặp khó khăn về nguồn vốn để đáp ứng
nhu cầu này, mặt khác nếu mức lãi suất quá cao sẽ làm cầu tiền giảm dẫn
đến đầu tưư giảm, hệ thống NHTM sẽ không kịp điều chỉnh theo, bỏ lỡ cơ
hội đầu tưư. Khi NHTƯ ấn định lãi suất buộc các NHTM phải chấp hành
làm hạn chế tính linh hoạt của thị trường tiền tệ.
II. Công cụ gián tiếp:
Công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là công cụ tác động vào mục
tiêu trung gian qua việc điều chỉnh các mục tiêu hoạt động
1-Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải gửi tại NHTƯ để thực
hiện CSTT quốc gia. Nó được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên
tổng số dư tiền gửi tuỳ theo tính chất và thời hạn mà các TCTD huy động
thực hiện DTBB đúng như quy định phù hợp với mục tiêu điều hành CSTT
trong giai đoạn này.
Vào cuối năm 1998 đầu năm 1999, NHNN tiếp tục hạ thấp tỉ lệ
DTBB đối với các NHTM nhằm mở rộng tín dụng và kích thích đầu tưư.
Tuy nhiên, qua vài tháng sau nền kinh tế vẫn tiếp tục có những biểu
hiện khác thường. Trước tình hình đó, NHNN ra quyết định giảm tỉ lệ
DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng của các
NHTM do lãi suất giảm tạo điều kiện để các NHTM giảm lãi suất cho
vay,từ đó tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế góp phần đưa nền
kinh tế tăng trưởng trở lại
Công cụ này có ưu, nhược điểm sau:
*Ưu điểm: DTBB là công cụ chủ động của NHTƯ, NHTƯ có
quyền quy định mà các NHTM không có quyền phản đối, sự thay đổi tỉ lệ
DTBB là tuỳ thuộc vào ý muốn của NHTƯ. Thay đổi một tỉ lệ DTBB sẽ
gây tác động mạnh tới thay đổi lượng tiền cung ứng vì NHTƯ chỉ cần thay
đổi một tỉ lệ % nhỏ tỉ lệ DTBB thì sẽ dẫn đến thay đổi bội số của lượng tiền
cung ứng vì nó tác động đến tát cả các TCTD
*Nhược điểm: Tuy nhiên tăng, giảm DTBB không thể thay đổi
thường xuyên vì nếu thay đổi thường xuyên sẽ gây xáo trộn hoạt động của 21
các TCTD dẫn đến việc quản lý vốn khả dụng của các NHTM trở nên khó
khăn. Tiền gửi DTBB không tính lãi nên sẽ ảnh hưởng đến chi phí của các
TCTD, nếu DTBB cao dẫn đến chi phí lớn coi như một khoản thuế đánh
vào các TCTD
Vì vậy, sử dụng công cụ DTBB là giải pháp tình thế khi cần thiết
phải thắt chặt tiền tệ. Hiện nay một số nước không còn chú ý đến công cụ
này nữa và có thể quy định mức DTBB bằng 0 hoặc kết hợp với các công
công cụ này thể hiện qua việc chủ động quy định lãi suất tái chiết khấu, hạn
mức tái chiết khấu và các điều kiện chiết khấu cho từng đối tượng cụ thể.
Chính sách tái chiết khấu là công cụ linh hoạt, sự nhạy cảm của
CSTT với lãi suất sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cơ cấu cho vay của các TCTD
với hiệu ứng thông báo mạnh có tác động đến nền kinh tế. NHTƯ có thể
dùnh chính sách này để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng cung cấp
dự trữ cho hệ thống NHTM khi nó thiếu vốn khả dụng, nhất là trong điều
kiện xảy ra khủng hoảng ngân hàng, lúc này cửa sổ chiết khấu giống như
cái van an toàn cho hệ thống tiền tệ của quốc gia.
*Nhược điểm: Công cụ này không phát huy hiệu quả khi các điều
kiện tái chiết khấu không đảm bảo. Nhiều khi NHTƯ không thể chủ động
chi phối được số tiền tái chiết khấu vì nó còn phụ thuộc vào nhu cầu vốn
của TCTD. Mặt khác, công cụ này còn có ý nghĩa tác động một chiều, khi
cần tăng lượng tiền cung ứng thì NHTƯ sẽ điều chỉnh lãi suất thấp để các
NHTM có nhu cầu vay và sẽ gặp khó khăn khi cần thu tiền về vì bị ràng
buộc bởi thời gian. Hơn nữa, chính sách tái chiết khếu có thể làm lẫn lộn
những ý định của NHTƯ do việc thay đổi lãi suất, vì thế để khắc phục phải
biết kết hợp công cụ này với các công cụ khác như công cụ dự trữ bắt buộc.
2- Công cụ nghiệp vụ thị trường mở:
Thị trường mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người ta thực hiện việc
mua-bán các công cụ tài chính ngắn hạn.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua- bán các chứng từ có giá
ngắn hạn của NHTƯ trên thị trường mở.
ởViệt nam, sau nhiều năm tích cực chuẩn bị triển khai, tới ngày
12/7/2000, nghiệp vụ thị trường mở do NHNN chủ trì đã mở phiên giao
dịch đầu tiên đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong điều hành
CSTT của NHTƯ theo phương pháp gián tiếp.
ở đây ta trình bày vài nét về mục tiêu và nhiệm vụ của CSTT-Xuất
phát điểm để NHTƯ đưa ra các công cụ điều hành.
còn các tổ chức khác, thậm chí cả các cá nhân miễn là họ có tiền mặt và
tiền gửi
Thứ hai: Nừu cơ sở pháp lý cho phép các TCTD hoạt động đa năng
như hệ thống TCTD của VN hiện nay thì phạm vi thành viên tham gia mở
rộng đến TCTD là đủ.
Thứ ba: Theo quyết định số 85/2000 ban hành quy chế nghiệp vụ thị
trường mở thì thành viên tham gia trước hết phải là TCTD có đủ các điều
kiện mở tài khoản tiền gửi tại NHTƯ, có hệ thống mạng vi tính kết nối với
NHTƯ vay phải được NHTƯ cáp giấy công nhận thành viên.
Nội dung thứ hai: Là phạm vi hàng hoá được sử dụng giao dịch trên
nghiệp vụ thị trường mở, về nguyên tắc mọi tài sản có thể mua bán trên
nghiệp vụ này vì chúng đều là những tài sản thế chấp. Tuy nhiên khác với 24
tái cấp vốn là thông qua hình thức cho vay có bảo đảm ở chỗ, tài sản thế
chấp trên nghiệp vụ thị trường mở phải là tài sản có khả năng thanh khoản
cao, đảm bảo quản lý dễ dàng đồng thời đáp ứng yêu cầu điều hành nghiệp
vụ này nhanh nhạy, chính xác và đạt được ý mong muốn. Tài sản hội tụ đủ
các điều kiện như vậy chỉ có thể là các giấy tờ có giá. Hiện nay các công cụ
được sử dụng để giao dịch trên thị trường mở là các tín phiếu kho bạc nhà
nước, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác. Về lâu dài, khi điều kiện pháp lý cho phép phạm vi giấy tờ có giá sẽ
được mở rộng không chỉ bao gồm các loại ngắn hạn mà cả các loại trung,
dài hạn có thể được xem xét làm công cụ giao dịch với điều kiện công cụ
đó có khả năng thanh khoản cao.
Nội dung thứ ba: Là vấn đề giá và lãi suất bao gồm giá mua, bán
trên nghiệp vụ thị trường mở. Giá và lãi suất là hai đại lượng ngược chiều
nhau. Khi mua giấy tờ có giá, người mua cần mua với loại có giá thấp tức
được.
Nghiệp vụ thị trường mở cho phép mua hoặc bán với số lượng, thời
gian giao dịch và một phương pháp giao dịch tuỳ ý, phù hợp với yêu cầu
của CSTT.Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng không thay đổi biểu hiện
mộy sự trì trệ trong lưu thông tiền tệ thì sẽ áp dụng phương thức giao dịch
là mua hoặc bán hẳn giấy tờ có giá nhằm tạo ra một sự chuyển ddộng tiền
tệ ban đầu cần thiết.
Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng thay đổi thất thường do nhiều
nguyên nhân để đảm bảo hạn chế sai sót trong việc cung ứng tiền, phương
thức giao dịch được áp dụng trên nghiệp vụ thị trường mở sẽ là phương
thức mua bán có kỳ hạn gọi là hợp đồng mua lại.
Nội dung thứ năm: ảnh hưởng tới hiệu quả của nghiệp vụ thị trường
mở đó là trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hànhCSTT, đặc biệt
là giữa nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ cho vay tái cấp vốn không
có bảo đảm bằng giấy tờ có giá hoặc giấy tờ có giá chất lượng thấp, thực
chất là cho vay tái cấp vốn theo chỉ định của ta hiện nay là một loại tín
dụng không phải ai cũng được quyền vay. Vì vậy TCTD được vay sẽ có
nhiều lợi thế trong giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở một khi tổ chức
đó tìm được nguồn vay với giá rẻ có thể sử dụng để mua giấy tờ có giá với
lãi suất có lợi hơn trên nghiệp vụ thị trường mở. Điều này không những tạo
ra một sân chơi thiếu bình đẳng giữa các thành viên mà còn làm cho mục
tiêu kích cầu tín dụng không thực hiện được. Để chống sự lạm dụng này,
NHTƯ các nước thường xét đơn xin vay rất nghiêm ngặt, mặt khác áp dụng
cơ chế nâng lãi suất ở thị vay để kích thích các TCTD ơu tiên bán giấy tờ
có giá trên nghiệp vụ thị trường mở. Khi lượng giấy tờ có giá không còn để
bán lúc đó NHTƯ mới giảm dần lãi suất vay đến mức ngang băngf lãi suất
trên thị trường mở.