MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS
DTBLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
: Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên
họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015.
LSĐBSBLTTDS
: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004
NQ 05/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án
cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
NQ 06/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ ba: “Thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân
sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự”.
BLDS
: Bộ luật Dân sự 2005
PLTTGQCVADS
: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989
PLTTGQCVAKT
: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994
PLTTGQCTCLĐ
: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
trọng đó là Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị với
nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Trong đó đặc biệt Nghị quyết số 49/NQ-TW đã nhấn mạnh: “Hoàn thiện
chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ
tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch,
tôn trọng và bảo vệ quyền con người” và “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch,
thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh”. Như vậy, theo tinh thần
cải cách thì Đảng ta đã đặt ra chủ trương hoàn thiện các thủ tục tố tụng nói
chung và thủ tục tố tụng dân sự nói riêng để nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi ích
hợp pháp của con người và của công dân.
Để cụ thể hóa các chính sách của Đảng nêu trên và cũng như qua tổng kết
10 năm thi hành BLTTDS đã bộ lộ nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện
3
tố tụng cụ thể như: Quy định trong BLTTDS chưa rõ ràng, thiếu cụ thể làm
cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khó hiểu hoặc hiểu
khác nhau, Hội đồng Thẩm phán TANDTC phải ban hành nhiều nghị quyết,
TANDTC phối hợp với VKSNDTC ban hành nhiều thông tư hướng dẫn
nhưng đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc, khó thực hiện. Quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng, nhất là quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố
tụng dân sự chưa được quy định đầy đủ nhằm thể hiện tính công khai dân chủ
công bằng trong quá trình tố tụng; đồng thời trách nhiệm của đương sự trong
việc thực hiện nghĩa vụ, những yêu cầu của Tòa án chưa được quy định đầy
đủ, rõ ràng. Trong đó, vấn đề Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự – đây là một
yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự được thuận lợi, dễ dàng; việc
giải quyết của Tòa án rõ ràng, công khai minh bạch, nhanh chóng, đúng pháp
luật. Việc nghiên cứu, phân tích những quy định mới, những quy định được
sửa đổi, bổ sung của BLTTDS 2015 là cần thiết có ý nghĩa quan trọng trong
thực tiễn xét xử góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ tốt quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói chung và việc nghiên cứu toàn
diện về vấn đề đình chỉ, cơ sở khoa học và thực tiến về đình chỉ giải quyết vụ
án là rất cần thiết để từ đó làm rõ việc áp dụng trong thực tiễn pháp luật về
đình chỉ để từ đó đưa ra được những hạn chế của pháp luật hiện hành và đưa
ra đề xuất các biện pháp khắc phục để góp phần vào công cuộc hoàn thiện
pháp luật.
Từ những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
5
Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một trong những vấn đề
quan trọng trong tố tụng dân sự và được sự nhiều nhà Luật học, luật gia quan
tâm nghiên cứu theo chiều sâu để nâng cao hơn nữa các quy định của pháp
luật cho phù hợp với thực tiễn tình hình kinh tế xã hội. Trước khi BLTTDS
2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành thì đã nhiều tác giả nghiên cứu và
có bài viết về vấn đề này như: Tác giả Nguyễn Bá Châu với bài viết “Vì sao
những bản án kinh tế bị hủy, bị sửa phải xét xử lại vụ án, phải đình chỉ việc
giải quyết vụ án”đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000. Sau khi
BLTTDS 2004 được soạn thảo và ban hành thì tiếp tục có nhiều nhà nghiên
cứu, nhà Luật học đã đưa ra thảo luận và đống góp ý kiến bằng các bài viết
như:“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương –
Tạp chí Luật học số đặc san; Tiếp đến là Bài viết “Đình chỉ giải quyết vụ án
quyết VADS; pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết VADS
và thực tiễn thi hành, áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
đình chỉ giải quyết VADS ở các Toà án Việt Nam.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu làm
rõ một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VADS như khái niệm, phân
loại, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết VADS; những quy
định của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về đình chỉ giải quyết
VVDS.
Và hơn nữa, tác giả sẽ đưa ra và phân tích những bấp cập của những quy
định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hiện hành vẫn còn tồn tại và những
khó khăn, vướng mắc, các phát sinh khi áp dụng những quy định mới vào
thực tiễn. Còn những liên hệ, đối chiếu với những quy định về vấn đề đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự ở các nước trên thế giới sẽ tiếp tục được nghiên cứu
khi có điều kiện.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
7
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và cơ sở thực
tiễn về đình chỉ giải quyết VADS; nội dung các quy định đình chỉ giải quyết
VADS ở từng giai đoạn tố tụng và việc thực hiện chúng trên thực tế, từ đó
đánh giá đúng thực trạng, nhận diện được những bất cập và tìm ra các giải
pháp khắc phục.
Để đạt được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học về đình chỉ giải quyết
VADS như khái niệm, đặc điểm, phân loại, mục đích và ý nghĩa của việc đình
chỉ giải quyết VADS; Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các quy định về đình
chỉ giải quyết VADS; sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về
đình chỉ giải quyết VADS qua các giai đoạn, thời kỳ.
quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự hiện hành. Đồng thời, đánh giá đúng
thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
đình chỉ giải quyết VADS trong việc áp dụng vào thực tiễn thực hiện tại các
Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây khi áp dụng BLTTDS mới năm
2015.
- Phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VADS và
thực tiễn thực hiện đồng thời đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn
thiện và thực hiện chúng có hiệu quả trên thực tế.
Luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện và thực
hiện các quy định của BLTTDS về đình chỉ giải quyết VADS. Kết quả nghiên
cứu của luận văn còn cung cấp thêm một nguồn tài liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam trong giai
đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
9
Luận văn được kết cấu bởi 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn về vấn đề đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
theo thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
và đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm trong Bộ
luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam và những đề xuất, kiến nghị
hoàn thiện pháp luật.
cách hiểu của mình và giải thích cho ý hiểu của mình đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự. Cụ thể:
Tác giả Tống Công Cường có đưa ra quan điểm của mình về đình chỉ
đó là: “Đình chỉ là một phương thức giải quyết đặc biệt của Tòa án trong quá
trình giải quyết vụ việc dân sự” và “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt tố
tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa
giải”. Như vậy, tác giả Tống Công Cường đã nêu khái quát được việc đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án và đình chỉ là một trong
những phương thức giải quyết của Tòa đối với vụ việc cần giải quyết bao gồm:
Ra Bản án thông qua xét xử hay ra quyết định thỏa thuận thông qua phương thức
hòa giải. Tác giả đã giải thích được rằng việc đình chỉ sẽ dẫn đến hậu quả pháp
lý đó là làm chấm dứt các thủ tục tố tụng dân sự, nghĩa là Tòa án sẽ chấm dứt
việc thực hiện công việc theo trình tự, thủ tục tố tụng quy định của mình để giải
quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, quan điểm của tác giả Tồng Công Cương chưa
nêu được đầy đủ về thời gian của việc ngừng lại, chấm dứt hoạt động tố tụng dễ
gây khó hiểu và nhầm lẫn với khái niệm Tạm đình chỉ. Đồng thời, cách hiểu về
việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là làm chấm dứt hoạt động tố tụng khi có
căn cứ luật định mà không cần thông qua xét xử và hòa giải là không đúng. Bởi
lẽ, việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm,
sau khi đã có bản án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hoặc có thể Tòa án ra quyết
định đình chỉ ngay tại phiên toà xét xử khi có căn cứ luật định; Ngoài ra, Tòa án
ra quyết định đình chỉ trong trường hợp hòa giải thành mà một trong các bên yêu
cầu dừng giải quyết vụ án (Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, khi Tòa án hòa giải hành
vợ chồng đã đoàn tụ thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án).
Còn theo quan điểm của các Luật gia khác như Tiến sỹ Nguyễn Công
Bình thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc “Tòa án ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự đã thụ lý...Việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến
12
nhiệm vụ “ Xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo
quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh
tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không
áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài
sản, quyền nhân thân”. Do đó, Tòa án có chức năng giải quyết các vụ án dân
sự, và trong quá trình giải quyết có đủ căn cứ thì Tòa án buộc đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự. Và tác giả cũng nêu rõ là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
là “ngừng hẳn” việc giải quyết vụ án dân sự sau khi đã “thụ lý”. Đồng thời,
trong khái niệm đã nêu rõ được đặc điểm, bản chất của đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự khác với việc tạm đình chỉ là ngừng giải quyết trong một thời gian,
khi đủ điều kiện thì tiếp tục giải quyết. Việc ra Quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án chỉ được thực hiện kể từ sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án vào sổ thụ lý, để
phân biệt với những trường hợp khác đó là Tòa án trả lại đơn khởi kiện như
trường hợp “hết thời hạn được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí mà
người khởi kiện không nộp hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án,
trừ trường hợp có lý do chính đáng” thì Tòa án không đình chỉ được vì chưa
thụ lý vụ án hoặc Tòa án chuyển thẩm quyền cho Tòa án khi phát hiện không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình.
Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luật
định để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của
vụ án không còn có thể là các sự kiện như đương sự chết mà quyền và nghĩa
vụ không được thừa kế do tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án cần giải
quyết (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng); sự việc đã được giải quyết
bằng bản án , quyết định có hiệu lực pháp luật; người có nghĩa vụ chết nhưng
không để lại di sản thừa kế; đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, bị
14
không nêu được đầy đủ, toàn diện về khái niệm chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Và trong Bộ luật tố tụng dân sự cũng chưa có quy định cụ thể nêu về khái
niệm như thế nào là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Vì vậy qua tổng kết, nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm của các nhà
nghiên cứu, các luật gia nêu trên thì có thể đưa ra được kết luận khái quát về
khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó là:
“ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc của Tòa án quyết định chấm dứt
hoàn toàn hay ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý khi có những
căn cứ do pháp luật quy định như trên cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối
tượng của vụ án cần giải quyết ở Tòa án không còn hoặc được suy đoán là
không còn tồn tại; vụ án dân sự đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các
quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác; có sự sai lầm của Tòa án trong
việc thụ lý vụ án; Được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực
pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ việc đó nữa, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy
định khác”.
1.1.2. Phân loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
Theo tác giả Trần Ngọc Thỉnh thì: “Có thể chia vụ án dân sự ra làm hai
loại: Loại thứ nhất là việc kiện dân sự... Loại thứ hai là việc dân sự”. Như
vậy, trong tố tụng dân sự thì có vụ án dân sự và vụ việc dân sự. Trước đây,
khi chưa có sự ra đời của BLTTDS thì khái niệm vụ án dân sự và vụ việc dân
sự chưa có sự tách bạch mà vẫn quy định chung đó là VADS – bao gồm cả
các vụ việc có tranh chấp và vụ việc không có tranh chấp. Tại 03 (ba) pháp
lệnh
về
thủ
gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án....”.
Như vậy, hiện nay BLTTDS năm 2015 đã có quy định rõ ràng về việc phân biệt
giữa vụ án và vụ việc dân sự thể hiện rất rõ qua việc có những quy định riêng về thủ
tục giải quyết vụ án dân sự và có quy định riêng về thủ tục giải quyết vụ việc dân
sự. Vụ án dân sự theo Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự có đề cập đến vụ án dân
sự, theo đó các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động được gọi chung là vụ án dân sự. Có thể hiểu một cách
đơn giản, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thông
qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu
cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn việc dân sự theo
BLTTDS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu
cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, là căn cứ
17
phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân, kinh doanh thương mại, lao động
của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, yêu cầu tòa án công nhân
cho mình về quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và
lao động.
Do đó, Đối tượng cần phải giải quyết trong VADS hoặc VDS chính là các
quan hệ pháp luật nội dung được xác định trên cơ sở các yêu cầu của đương
sự trong VADS hoặc VDS. Chính việc quy định riêng rẽ về VADS hay VDS
sẽ dẫn đến đến trình tự, thủ tục giải quyết hai loại này sẽ được BLTTDS quy
định khác nhau.
Nên việc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự bao gồm đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự. Đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự được hiểu là đình chỉ giải quyết những việc kiện có tranh chấp về quyền,
nghĩa vụ giữa các đương sự mà Tòa án đã thụ lý; Có nghĩa là Tòa án chấm dứt
việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật có tranh chấp cần
án dân sự là một trong những phương thức giải quyết vụ án của Tòa án các
cấp. Để cụ thể hóa và dễ áp dụng tránh việc lúng túng trong việc áp dụng thì
Luật quy định thẩm quyền thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án có quyền quyết định việc chấm dứt hay ngừng hẳn việc giải quyết vụ án
và ra quyết định đình chỉ trong giai đoạn từ sau khi thụ lý đến trước khi mở
phiên tòa xét xử. Còn tại phiên tòa xét xử thì một mình thẩm phán – Chủ tọa
phiên tòa không được quyết định việc có ngừng việc giải quyết vụ án và ra
quyết định đình chỉ mà đến giai đoạn này thì việc quyết định đình chỉ vụ án
và ra quyết định phải có sự đồng ý, nhất trí của Hội đồng xét xử khi phát hiện
có căn cứ để cho đình chỉ vụ án. Việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được
tiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm hay ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Việc đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sở thẩm, phúc thẩm có thể thực
hiện trước hoặc trong phiên tòa.
19
Thứ hai, Đình chỉ giải quyết VVDS phải dựa trên những căn cứ mà
pháp luật đã quy định trước chứ không được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủ
quan của Tòa án.
Việc các đương sự có yêu cầu khởi kiện ra Tòa án là nhằm mục đích
bảo vệ quyền lợi ích của mình; Vì vậy, khi Tòa án xác định căn cứ đình chỉ
giải quyết vụ việc không hợp lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của người
khởi kiện, người yêu cầu sẽ không được Tòa án xem xét giải quyết và hơn
nữa, quyền tiếp cận công lý của công dân không được đảm bảo nếu như trong
trường hợp việc khởi kiện, yêu cầu lại của đương sự không được pháp luật
chấp nhận. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan, công
bằng và bảo đảm công lý cho người dân khởi kiện thì phải quy định căn cứ
đình chỉ phải rõ ràng, hợp lý tránh gây khó hiểu, khó áp dụng cho người dân
và người tiến hành tố tụng và mất quyền lợi ích của đương sự trong vụ án.
đó, người khởi kiện, người yêu cầu sẽ không được tiếp tục khởi kiện lại tại
Tòa án về vụ án mà mình đã bị đình chỉ trước đó, trừ những trường hợp cá
biệt khác do pháp luật quy định thì đương sự có quyền được khởi kiện lại mặc
dù đã bị đình chỉ trước đó. Còn tạm đình chỉ vụ án dân sự thì vụ án dân sự sau
khi có quyết định tạm đình chỉ sẽ bị “tạm ngừng” một thời gian khi có căn cứ
theo luật định, việc tạm ngừng sẽ chấm dứt khi lý do tạm đình chỉ không còn
và Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án đó theo quy định của pháp luật. Về
nguyên tắc thì việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án là hoạt động tố tụng của Tòa
án về mặt thủ tục, chứ không phải là quyết định chấm dứt việc giải quyết về
mặt nội dung của vụ án và nó chỉ làm tạm ngưng tiến trình tố tụng đang được
tiến hành do xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định; ĐCGQVADS thì
ngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng của tòa án và không tiếp tục giải quyết nội
dung của của vụ án. Điều này sẽ dẫn đến sự khác nhau về hậu quả pháp lý đó
là:
21
Sau tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì vụ án dân sự được tiếp tục
giải quyết và tính chất gián đoạn, tạm thời của đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự đem lại sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được phục hồi khi
nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa. Vụ án sau khi có quyết
định đình chỉ giải quyết sẽ bị chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết về cả thủ tục
và việc giải quyết về mặt nội dung; hơn nữa, đương sự trong vụ án không có
quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án trừ trường hợp khác mà luật quy định.
Thứ tư, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tuy làm chấm dứt
việc giải quyết VADS ở một giai đoạn tố tụng nào đó nhưng nó không phải là
một quyết định giải quyết về nội dung của vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý.
Chúng ta có thể hiểu là vụ án dân sự được thụ lý tại Tòa án được giải
quyết bằng Bản án, quyết định công nhận thỏa thuận hoặc quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án. Trong đó, Bản án và quyết định công nhận sự thỏa thuận của
điều này thì Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện, yêu cầu không vì đã vào
sổ thu lý mà trong trường hợp này đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng là khắc phục được những sai lầm của
Tòa án cho việc thụ lý vụ án không đúng đem lại và đồng thời cũng góp phần
làm cho giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, đúng quy định của
pháp luật.
Ngoài ra, đối với những trường hợp vụ án đã được Tòa án thụ lý theo
đúng quy định của pháp luật nhưng trong quá trình tiến hành các trình tự, thủ
tục để giải quyết vụ án thì phát sinh những căn cứ như đối tượng khởi kiện
không còn hoặc suy đoán là không còn tồn tại thì Tòa án phải ra quyết định
đình chỉ vụ án. Việc này có ý nghĩa giúp cho Tòa án đưa ra phương hướng và
quyết định nhanh chóng để kết thúc vụ án, kết thúc nghĩa vụ về tố tụng của
đương sự và giải phóng cho các đương sự đặc biệt là bị đơn, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan không phải tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp.
23
Quyết định ĐCGQVADS làm giảm bớt chi phí tố tụng cho đương sự
khi việc tiến hành tố tụng không còn cần thiết nữa; đối với vụ án mà trong quá
trình giải quyết các đương sự có thể tự hòa giải với nhau, hoặc được Tòa án
hòa giải mà các bên đã tự tìm được phương hướng giải quyết cho vụ việc và
không cần thiết phải bằng quyết định hay bản án của Tòa án thì các bên tự
nguyện rút yêu cầu khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án ở Tòa án; điều này
có ý nghĩa tạo điều kiện cho các đương sự không tốn kém về mặt thời gian đi
lại, làm việc; đặc biệt là tốn kém và mất chi phí tố tụng, án phí, lệ phí phải
nộp vào ngân sách nhà nước (đối với những tranh chấp về tài sản thì khoản
tiền chi phí tố tụng và án phí, lệ phí phải nộp cũng không hề nhỏ).
Bên cạnh đó, cũng còn ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của các
đương sự, đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự. Đối với vụ án dân sự thì về bản chất đó là sự thỏa thuận của các bên và
và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách
tư pháp vào quá trình giải quyết các VADS mà còn phù hợp, phản ánh thực
tiễn giải quyết các VADS của các Tòa án nước ta.
Thực tiễn giải quyết các VADS của Tòa án nước ta đã cho thấy có rất
nhiều trường hợp Tòa án không thể tiếp tục giải quyết được mà phải ngừng
hẳn việc giải quyết VADS (hay đình chỉ giải quyết VADS) như trường hợp
Tòa án đang giải quyết VADS mà nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết mà
quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; trường hợp Tòa án đang giải
quyết VADS cơ quan, tổ chức là đương sự đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá
sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, cơ
quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn
hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; trường hợp các
đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án;
trường hợp VADS không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án v.v…
25