Tiểu luận tố tụng dân sự: Những vấn đề pháp lý về đình chỉ và tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố tụng dân sự. - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
KHOA PLDS&KSDS

BÀI TẬP LỚN CUỐI KỲ
Môn: Luật Tố tụng dân sự
ĐỀ TÀI SỐ 13
Những vấn đề pháp lý về đình chỉ và tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
trong tố tụng dân sự.

Họ và tên: ĐẶNG CHÍ NGUYỆN
MSSV

: 1453801010182

Lớp

: K2I

Hà Nội, tháng 4 năm 2017
1


Đề tài số 13:
Những vấn đề pháp lý về đình chỉ và tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
trong tố tụng dân sự.

2


MỤC LỤC


án dân sự trong tố tụng dân sự”. Trong quá trình nghiên cứu còn gặp nhiều khó
khăn và thiếu sót, mong quý thầy cô góp ý để em hoàn thiện hơn bài làm của
mình, em xin trân trọng cảm ơn.

4


B.
1.

NỘI DUNG
Một số vấn đề lý luận về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự
1.1

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự
a. Khái niệm

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu có căn cứ theo quy định của
pháp luật mà không thể tiếp tục giải quyết ngay thì Tòa án có thể ra quyết định
tạm đình chỉ vụ án dân sự. Việc tạm đình chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của
các đương sự. Có thể thấy “tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án
quyết định tạm ngừng giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật
quy định”.
b.

Đặc điểm

Thứ nhất, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải dựa trên những

bảo quyền bảo vệ bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do vậy, Tòa án thụ
lý vụ án đó cần thiết phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án cho đến khi có đủ điều
kiện tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó. Tòa án sẽ tuyên bố tạm đình chỉ giải
quyết án trong một thời gian nhất định cho đến khi các tình tiết, sự kiện là
nguyên nhân dẫn tới việc không đảm bảo quyền tham gia tố tụng, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp không còn tồn tại nữa.
1.2
a.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân

sự
Khái niệm
Dưới góc độ pháp lý, đình chỉ vụ án là việc các cơ quan tố tụng quyết

định kết thúc vụ án khi có những căn cứ luật định. Trong việc giải quyết vụ án
dân sự cũng tương tự, khi có căn cứ quy định trong tố tụng dân sự, Tòa án có thể
kết thúc việc giải quyết vụ án nhằm tránh xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên đương sự.
Có thể thấy, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án quyết định
ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.
6


Theo đó, sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì các hoạt
động tố tụng giải quyết vụ án dân sự được ngừng lại”1.
b.

Đặc điểm
Thứ nhất, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải dựa trên những căn cứ mà


phục những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo vụ
án đó được xử lý khách quan, chính xác. Trong nhiều trường hợp sau khi đã thụ
lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ án không thỏa mãn các điều kiện thụ lý theo
quy định của pháp luật. Việc Tòa án chấm dứt ngay việc giải quyết vụ án sẽ khắc
phục được những sai lầm từ việc thụ lý vụ án không đúng.
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự còn có ý nghĩa đảm bảo quyền tự định
đoạt của các đương sự, nhanh chóng quyết định về vụ án khi đối tượng cần giải
quyết trong vụ án không còn hoặc quyền lợi của đương sự đã chấm dứt mà
không thể kế thừa. Việc tiếp tục giải quyết vụ án không thực sự cần thiết nữa bởi
nguyên đơn đã rút đơn kiện, các đương sự đã tự hòa giải hay đương sự chết mà
quyền và nghĩa vụ của họ không được kế thừa,.v.v.
2.

Pháp luật Tố tụng dân sự về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự
2.1 Pháp luật Tố tụng dân sự về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
2.1.1 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Khoản 1

Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó Tòa án chỉ ra quyết định tạm
đình chỉ giải quyết vụ án dận sự khi có một trong các căn cứ được quy định tại
điều này.
a.

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia,
tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân thừa kế quyền và nghĩa
vụ tố tụng của cơ quan, cá nhân, tổ chức đó.
Trường hợp này được quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố


Để tiếp tục giải quyết vụ án dân sự thì cần phải có chủ thể kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức. Việc xác định được căn cứ theo Khoản
2 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự thì trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức
đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
dân sự của cơ quan, tổ chức đó được xác định như sau:
9


Thứ nhất, trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức
là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng.
Thứ hai, trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể
là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ
chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố
tụng.
Thứ ba, trường hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó
tham gia tố tụng.
b.

Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên
mà chưa xác định được người đai diện theo pháp luật.
Một người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc các bệnh tâm thần

hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015). Người chưa thành niên là người chưa đủ

trường hợp vụ án mà Tòa án đang giải quyết có liên quan đến vụ án hình sự,
hành chính, dân sự, lao động hay hôn nhân khác. Tòa án muốn giải quyết được
vụ án đang thụ lý thì phải dựa vào kết quả giải quyết các vụ việc trước đó vì khi
chưa có kết quả giải quyết những vụ việc có liên quan đó thì Tòa án không có đủ
căn cứ để giải quyết vụ án dân sự này. Trường hợp sự việc được pháp luật quy
định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án
là trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì phát hiện được sự việc mà
đương sự yêu cầu phải do cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết trước
mà đương sự chưa yêu cầu hoặc yêu cầu nhưng chưa có kết quả giải quyết. Vì
vậy, trong trường hợp này Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự và hướng dẫn đương sự gửi đơn yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền giải
quyết đó.
e.

Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ, hoặc
đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án
mới giải quyết được vụ án.
11


Trong giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, việc ủy thác tư pháp
quốc tế được thực hiện hết sức khó khăn do sự khác biệt về pháp luật giữa các
nước. Hơn nữa vụ việc cần phải thực hiện theo một quy trình tố tụng đặc biệt, vì
vậy thời gian để có kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ
là tương đối dài. Các tài liệu, chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng. Nếu quá
trình cung cấp tài liệu, chứng kéo dài thì cũng như ủy thác tư pháp quốc tế, sẽ
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Do đó, Tòa
án cần phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đế khi có kết
quả ủy thác hoặc có đầy đủ tài liệu chứng cứ để đảm bảo quyền lợi cho các bên
đương sự.


Các tường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Đây là một quy định mở, mang tính dự phòng của các nhà lập pháp đối

với những trương hợp phát sinh những lý do mà Tòa án phải tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự để đảm bảo quyền và lwoij ích hợp pháp của các đương sự.
2.1.2

Hậu quả pháp lý pháp lý của việc tạm đình chỉ giả quyết vụ
án dân sự

Theo quy định tại Điều 215 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì việc tạm đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự dẫn đến một số hậu quả sau:
Thứ nhất, Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết
trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.
Thứ hai, tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho
bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.
Thứ ba, trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều
214 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án
đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ
văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của
Bộ luật này.
13


Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ

và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Nếu không xác định được người thừa kế hoặc
quyền và nghĩa vụ được thừa kế là quyền về nghĩa vụ về nhân thân thì không
14


được thừa kế. Trong trường hợp này thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự.
b.

Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá
nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó

Khi cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản thì cần phải có, cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó. Tuy nhiên,
do một số lý do mà không có cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có thể kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức bị gải thể, phá sản. Do đó, Tòa
án cần phải đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
c.

Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét
xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan
Yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là điều kiện để Tòa án xác định

được đối tượng khởi kiện. Việc nguyên đơn rút đơn yêu cầu dẫn tới việc đối
tượng khởi kiện không còn nữa. Hơn nữa, nguyên đơn là người cho rằng quyền
là lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên đây là chủ thể không thể thiếu
trong tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Nếu Tòa án triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai mà nguyên đơn vẫn vắng mặt mà không đề nghị xét
xử vắng mặt hay không vì trở ngại khách quan thì coi như đã từ bỏ việc khởi

là vấn đề tư của cá nhân, cơ quan, tổ chức, không phải là vấn đề công của xã
hội. Do đó, khi giải quyết vụ án dân sự, nguyên đơn phải có nghĩa vụ nộp tạm
ứng các khoản chi phí trong tố tụng nhằm phục vụ cho quá trình giải quyết vụ
án. Nếu nguyên đơn không nộp các khoản tạm ứng này thì không có chi phí để
giải quyết vụ án, vì vậy, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngoài ra, trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và
chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải
quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.2
f.

Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra
bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết

2 Điểm đ Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

16


Đây là một trong những điểm mới trong quy định về thời hiệu khởi kiện
của BLTTDS 2015, theo đó, Tòa án chỉ áp dụng các qui định về thời hiệu theo
yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này
phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết
vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp
dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực
hiện nghĩa vụ. Khi thời hiệu khởi kiên đã hết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự.
g.


quy định của pháp luật.
Thứ hai, trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản
1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được
sung vào công quỹ nhà nước.
Thứ ba, trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường
hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì
tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.
Thứ tư, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2.3

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
được quy định tại Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, thẩm quyền
ra quyết định là khác nhau ở mỗi giai đoạn khác nhau.
Trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

18


Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Trường đại học Luật Hà Nội, nxb. Công

2.

An nhân dân.
Tập bài giảng Luật Tố tụng dân sự, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

3.

Minh Nhất, “Đình chỉ tố tụng dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm –
Một số kiến nghị hoàn thiện”, đăng trên http://www.tks.edu.vn.

4.

“Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 cần được hướng dẫn cụ thể hơn”, Bùi Thị Huyền, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật.



Danh mục văn bản pháp luật

1.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

2.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status