BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MAI TRÚC
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ
VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI
ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS NGUYỄN QUANG TUYẾN
HÀ NỘI 2011
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tƣ liệu sản xuất: TLSX
Xã hội: XH
Sử dụng đất: SDĐ
Quyền sử dụng đất: QSDĐ
Ủy ban nhân dân: UBND
Tài nguyên và môi trƣờng: TN&MT
9
1.2.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
9
1.2.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai
11
1.2.1.3. Đặc điểm của vi phạm pháp luật đất đai
14
1.2.2.
Khái niệm ngƣời sử dụng đất
15
1.2.3.
Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật đất đai đối với ngƣời sử
18
dụng đất
1.2.4.
2.1.
Thực trạng chung về tình hình xử lý vi phạm pháp luật đất đai
30
do ngƣời sử dụng đất gây ra
2.2.
Thực trạng pháp luật về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất
34
đai cụ thể do ngƣời sử dụng đất gây ra
2.2.1.
Thực trạng áp dụng quy định về xử lý hành vi lấn, chiếm đất
34
đai
2.2.2.
Thực trạng áp dụng quy định vễ xử lý hành vi chuyển mục đích
38
sử dụng đất trái phép
2.2.3.
50
2.3.2.
Những hạn chế, khiếm khuyết
52
2.3.3.
Nguyên nhân của hạn chế, khiếm khuyết
53
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
56
về xử lý vi phạm pháp luật đất đai đối với người sử dụng
đất
3.1.
Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất
56
đai đối với ngƣời sử dụng đất
3.2.
61
3.2.5.
Bổ sung các quy định về tăng cƣờng công tác kiểm tra, thanh tra
62
đất đai, phát hiện và ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh
những hành vi vi phạm của ngƣời sử dụng đất
3.2.6.
Hoàn thiện pháp luật về tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai
63
trong nhân dân
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
64
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất
(TLSX) đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế,
coi thƣờng pháp luật mà còn gây mất lòng tin của xã hội vào sự nghiêm minh
của pháp luật, làm xói mòn lòng tin của ngƣời dân vào chế độ v.v. Trong những
năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật đất đai diễn ra khá phổ biến ở tất cả
các địa phƣơng trên cả nƣớc. Để từng bƣớc ngăn chăn và đẩy lùi hành vi vi
phạm pháp luật đất đai Nhà nƣớc ta đã tiến hành sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp
luật đất đai nói chung và các quy định về xử lý vi phạm pháp luật đất đai nói
riêng với những chế tài pháp lý cứng rắn đi đôi với tăng cƣờng thực hiện kiểm
tra, thanh tra đất đai. Công tác xử lý vi phạm pháp luật đất đai đã đạt đƣợc
những kết quả tích cực, góp phần từng bƣớc khắc phục tình trạng buông lỏng
quản lý đất đai. Mặc dù vậy hoạt động này vẫn bộc lộ những hạn chế, khiếm
khuyết nhƣ xử lý vi phạm pháp luật đất đai chƣa kịp thời, nghiêm minh; còn
nảy sinh hiện tƣợng bao che, nể nang, tham nhũng, tiêu cực, đặc biệt là tình
trạng “ phạt cho tồn tại” v.v. Vì vậy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả công
tác xử lý vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật của ngƣời SDĐ nói
riêng là một đòi hỏi mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm thiết lập
trật tự, kỷ cƣơng và tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý và
SDĐ đai. Tuy nhiên muốn thực hiện vấn đề này một cách có hiệu quả, chúng ta
cần đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp
luật về xử lý vi phạm pháp luật đất đai của ngƣời SDĐ.
Vi phạm pháp luật đất đai và xử lý vi phạm pháp luật đất đai là đề tài
nghiên cứu không mới ở nƣớc ta. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này. Song hiện nay dƣờng nhƣ vẫn chƣa có một chuyên khảo nào
3
đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và
thực tiễn về xử lý vi phạm pháp luật đất đai của ngƣời SDĐ đặt trong bối cảnh
tổng kết 08 năm thi hành Luật đất đai năm 2003. Nhận thức đƣợc vấn đề này,
tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý về xử lý vi phạm pháp
tên đề tài nghiên cứu là những vấn đề pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật đất
đai của ngƣời sử dụng đất (SDĐ), nên luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở
những vấn đề pháp lý về trách nhiệm hành chính áp dụng đối với ngƣời SDĐ có
hành vi vi phạm pháp luật đất đai với mốc thời gian từ khi Luật đất đai năm
1993 đƣợc ban hành đến nay.
4. Tình hình nghiên cứu
Ở phạm vi và mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu trực
tiếp hoặc gián tiếp về xử lý vi phạm pháp luật đất đai của ngƣời SDĐ nhƣ: Xử
lý vi phạm hành chính đối với người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai,
khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Thanh Huyền (2006); Xử lý vi phạm hành
chính đối với người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai, khóa luận tốt nghiệp
của Nguyễn Thu Hà (2008); Chƣơng VIII - Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật đất đai - Giáo trình
Luật đất đai - Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2009; … Nhìn chung, các công
trình nghiên cứu trên đã đề cập một số cơ sở lý luận về xử lý vi phạm pháp luật
đất đai cũng nhƣ đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất
đai. Tuy nhiên cho đến nay dƣờng nhƣ vẫn chƣa có một luận văn thạc sĩ luật
học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cả về khía cạnh lý luận và khía
cạnh thực tiễn pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất đai của ngƣời SDĐ đặt
trong bối cảnh tổng kết 08 năm thi hành Luật đất đai năm 2003 tạo tiền đề cho
việc xây dựng, ban hành một đạo luật đất đai mới.
5. Phương pháp nghiên cứu
5
Để đạt đƣợc các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu Luận văn đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin;
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nƣớc ta đang chuyển sang nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng XHCN. Khâu đột phá trong chính sách kinh tế cho bƣớc
chuyển này là việc ban hành và thực hiện những chế độ, chính sách mới trong
lĩnh vực quản lý đất đai. Để giải phóng mọi năng lực sản xuất của ngƣời lao
động trong sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề an ninh lƣơng thực
quốc gia, pháp luật đất đai đã xác định và đề cao vai trò của hộ gia đình: Thừa
nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp. Nhà nƣớc
giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Hộ gia đình, cá nhân
đƣợc chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) trong thời hạn giao đất (Điều 1 Luật
đất đai năm 1993). Những quy định này đã phát huy hiệu quả tích cực: Ngƣời
sử dụng đất (SDĐ) yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai, khuyến khích nông dân
đầu tƣ, nâng cao hiệu quả SDĐ. Nƣớc ta từ một nƣớc thiếu lƣơng thực, hàng
năm phải nhập hàng vạn tấn lƣơng thực đã tự túc đƣợc lƣơng thực và vƣơn lên
trở thành nƣớc xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Tuy nhiên bên cạnh mặt tích
cực, những quy định của Luật đất đai năm 1993 về giao QSDĐ cho hộ gia đình,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và cho phép QSDĐ tham gia các giao dịch dân
sự đã làm cho ngƣời SDĐ ngày càng thấy đƣợc giá trị của đất đai. Hơn nữa,
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng do chạy theo lợi nhuận mà ngƣời SDĐ đã
không từ bỏ bất kỳ thủ đoạn nào kể cả thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đất
7
đai. Vì vậy những hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần phải bị xử lý kịp thời,
nghiêm minh bằng pháp luật; bởi vì:
Thứ nhất, hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp
luật đất đai nói riêng đã gây ra những hệ quả tiêu cực đối với đời sống kinh tế xã hội; cụ thể:
- Hành vi vi phạm pháp luật đất đai xâm phạm đến khách thể của hoạt
động quản lý nhà nƣớc về đất đai. Trật tự quản lý đất đai do Nhà nƣớc xây dựng
bị phá vỡ, làm rối loại sự vận hành của quan hệ đất đai vận động theo một quỹ
xử của chủ thể tham gia quan hệ đất đai phù hợp với lợi ích chung của xã hội thì
pháp luật bảo vệ, khuyến khích phát triển; (ii) Ngƣợc lại, đối với những ứng xử
của chủ thể tham gia quan hệ đất đai không phù hợp với lợi ích chung của xã
hội thì pháp luật xử lý, ngăn chặn và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội.
Thứ ba, pháp luật có mục đích là giáo dục, răn đe con ngƣời để họ có
những hành vi ứng xử vừa mang lại lợi ích cho bản thân mình nhƣng lại không
làm phƣơng hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác. Tuy nhiên, nếu
giáo dục thuyết phục không mang lại hiệu quả thì pháp luật phải trừng trị, xử lý
đối với những ngƣời có hành vi ứng xử làm phƣơng hại đến lợi ích chung của
cộng đồng cũng nhƣ lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác. Hành vi vi phạm
pháp luật đất đai cũng cần phải đƣợc xử lý thích đáng. Có nhƣ vậy thì tính
thƣợng tôn của pháp luật mới đƣợc mọi ngƣời tuân thủ triệt để.
Thứ tư, đất đai vừa là TLSX đặc biệt, vừa là lãnh thổ quốc gia, nơi cƣ trú
của con ngƣời; đồng thời là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng
sống. Do đó, đất đai là khách thể đặc biệt thuộc đối tƣợng bảo vệ nghiêm ngặt
của pháp luật. Hơn nữa, đất đai không do con ngƣời tạo ra mà do tự nhiên tạo
ra, cố định về vị trí địa lý và bị giới hạn bởi không gian, diện tích đang có xu
hƣớng giảm xuống do sự tác động của con ngƣời và thiên nhiên; trong khi đó,
9
nhu cầu SDĐ của con ngƣời ngày càng tăng do sự bùng nổ dân số. Hơn nữa, đất
đai là nguồn tài nguyên rất khó tái tạo hoặc nếu tái tạo phải bỏ một số tiền
không nhỏ nếu bị xâm phạm. Vì vậy, Nhà nƣớc cần phải xây dựng các quy định
về xử lý vi phạm pháp luật đất đai nhằm phòng ngừa, răn đe hoặc trừng trị
những hành vi SDĐ sai mục đích, lãng phí, kém hiệu quả.
Thứ năm, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trƣờng,
dƣới tác động của các quy luật khách quan của cơ chế thị trƣờng ngƣời dân
ngày càng nhận thấy giá trị to lớn của đất đai. Chính vì vậy bên cạnh việc SDĐ
trái pháp luật nói chung; 2. Nghĩa hẹp: các việc sai, trái pháp luật chƣa cấu
thành tội phạm và thƣờng đƣợc gọi là vi phạm hành chính” [6, tr.568].
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tƣ pháp): “Vi
phạm pháp luật: Hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ.
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con ngƣời gồm
hành vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành vi trái quy định của
pháp luật. Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điều
pháp luật cho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc
phải làm hoặc làm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chƣa đựng lỗi của
chủ thể - trạng thái tâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi
của mình ở thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do
chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp
luật là cá nhân thì ngƣời đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật
định, không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức đƣợc hậu quả nguy
hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả pháp lý của nó). Tùy thuộc
11
vào tính chất của vi phạm pháp luật, vào hậu quả có hại và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi cũng nhƣ tính chất của chế tài có thể đƣợc áp dụng đối
với hành vi mà các vi phạm pháp luật đƣợc chia thành hai loại là tội phạm và vi
phạm, trong đó vi phạm có thể là vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm
kỉ luật nhà nƣớc”[7, tr.852].
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể hiểu vi phạm pháp luật là
hành vi của con ngƣời xâm phạm những điều bị pháp luật cấm hoặc không cho
phép thực hiện.
1.2.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai
Trong quản lý và SDĐ đai, con ngƣời có những hành vi ứng xử khác
nhất định của đời sống xã hội đƣợc thực hiện thông qua các hành vi ứng xử.
Theo C.Mác thì: “Con ngƣời chỉ tồn tại với pháp luật thông qua hành vi của
mình” [9, tr.19]. Nhƣ vậy, đối tƣợng điều chỉnh của ngành luật đất đai là nhóm
quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong việc chiếm hữu, quản lý và SDĐ
đai đƣợc thực hiện thông qua các hành vi ứng xử. Nếu các hành vi ứng xử này
vi phạm những điều pháp luật đất đai nghiêm cấm thì bị coi là hành vi trái pháp
luật đất đai. Vậy hành vi trái pháp luật đất đai là gì?
Hành vi trái pháp luật đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng những quy định của pháp luật đất đai, xâm hại tới những khách thể
đƣợc pháp luật đất đai bảo vệ. Hành vi trái pháp luật đất đai đƣợc biểu hiện trên
thực tế bằng hành động (ví dụ: lấn, chiếm đất đai; SDĐ không đúng mục đích;
hủy hoại đất đai; giao đất không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tƣợng
v.v) hoặc không hành động (ví dụ: không bồi bổ cải tạo đất; nhận đất mà không
sử dụng; bỏ hoang hóa, lãng phí đất đai v.v). Tuy nhiên trên thực tế có trƣờng
hợp xử sự của một ngƣời không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định
13
của pháp luật đất đai nhằm ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn có thể xảy ra cho xã
hội thì không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
Thứ hai, vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai của
một cá nhân đƣợc thực hiện do lỗi của họ gây ra.
Theo khoa học pháp lý, lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của chủ
thể thực hiện hành vi vi phạm. Lỗi có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý thể hiện nhận
thức của bản thân ngƣời vi phạm đối với hành vi và hậu quả do họ gây ra.
- Lỗi cố ý đƣợc thể hiện ở chỗ ngƣời có hành vi vi phạm nhận thức đƣợc
tính chất hành vi của mình nhƣng vẫn thực hiện. Lỗi cố ý có hai hình thức thể
hiện là lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
- Lỗi vô ý bao gồm: Lỗi vô ý do cẩu thả là ngƣời có hành vi vi phạm
đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ ổn định; ngƣời
nhận chuyển QSDĐ hợp pháp), tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt
động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật đất đai mà chƣa đến
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Điều này có
nghĩa là chủ thể vi phạm pháp luật đất đai bao gồm cá nhân trong nƣớc, cá nhân
nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài (gọi chung là cá nhân); cơ
quan, tổ chức trong nƣớc, tổ chức nƣớc ngoài (gọi chung là tổ chức); hộ gia
đình; cơ sở tôn giáo có hành vi vi phạm hành chính trong SDĐ đai hoặc trong
việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai.
Cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp
luật về quản lý đất đai không thuộc nhóm chủ thể vi phạm pháp luật đất đai
trong SDĐ.
15
Thứ hai, khách thể của vi phạm pháp luật đất đai là các quyền và lợi ích
hợp pháp của Nhà nƣớc với tƣ cách đại diện chủ sở hữu đất đai; quyền và lợi
ích hợp pháp của ngƣời SDĐ đƣợc pháp luật đất đai bảo vệ.
Thứ ba, do đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu
dân cƣ, xây dựng cơ sở kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống nên vi phạm pháp luật đất đai không
chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời SDĐ mà còn xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, của cộng đồng.
Hậu quả của vi phạm pháp luật đất đai để lại những tác động tiêu cực trên
nhiều phƣơng diện chính trị, kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Việc khắc phục hậu
quả của vi phạm pháp luật đất đai tiến hành rất khó khăn, phức tạp và rất tốn
kém; thậm chí có trƣờng hợp vi phạm pháp luật đất đai để lại hậu quả không thể
khắc phục đƣợc.
Thứ tư, việc SDĐ thƣờng liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nhà ở,
đƣa ra khái niệm ngƣời SDĐ theo phƣơng diện pháp lý; theo đó, ngƣời SDĐ
phải là ngƣời (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) đƣợc Nhà nƣớc với tƣ cách đại
diện chủ sở hữu giao đất, cho thuê đất sử dụng; công nhận QSDĐ sử dụng ổn
định; đƣợc Nhà nƣớc công nhận tính hợp pháp của việc nhận chuyển QSDĐ.
Theo quan điểm này, ngƣời trên thực tế ngƣời SDĐ nhƣng không đƣợc Nhà
nƣớc giao đất, cho thuê đất sử dụng; công nhận QSDĐ sử dụng ổn định; không
đƣợc Nhà nƣớc công nhận tính hợp pháp của việc nhận chuyển QSDĐ thì
không phải là ngƣời SDĐ. Quan niệm về ngƣời SDĐ theo quan niệm trên đây
dƣờng nhƣ là chƣa hợp lý; bởi lẽ, “Nếu quan niệm ngƣời sử dụng đất chỉ là
ngƣời đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất để sử dụng nhƣ quan điểm thứ nhất
đề cập là đúng, song mới chỉ nhìn nhận ngƣời sử dụng đất trong trạng thái
“tĩnh” (trong mối quan hệ hành chính với Nhà nƣớc) mà chƣa tiếp cận xem xét
17
trong mối quan hệ theo chiều “ngang” (mối quan hệ giữa những ngƣời sử dụng
đất với nhau)” [4, tr.25]. Trên thực tế pháp luật cho phép ngƣời SDĐ đƣợc
chuyển QSDĐ, đƣợc nhận thừa kế hoặc cho thuê lại QSDĐ trong thời hạn giao
đất, cho thuê đất. Do đó những ngƣời nhận chuyển QSDĐ, nhận thừa kế hoặc
thuê lại QSDĐ hợp pháp là ngƣời SDĐ trên thực tế. Vì vậy, pháp luật cần phải
công nhận những ngƣời SDĐ trên thực tế là ngƣời SDĐ hợp pháp.
Quan điểm thứ hai về ngƣời SDĐ dựa trên hai yếu tố: quy định của pháp
luật và thực tiễn SDĐ. Quan điểm này đã bao quát đƣợc đầy đủ và toàn diện
hơn các chủ thể SDĐ và phù hợp với thực tiễn SDĐ hiện nay. Tuy nhiên, theo
chúng tôi khái niệm ngƣời SDĐ cần đƣợc hiểu với nội hàm rộng hơn, không chỉ
là những ngƣời trực tiếp SDĐ mà còn bao gồm những ngƣời tổ chức, quản lý và
điều hành quá trình SDĐ bỏ vốn, công nghệ đầu tƣ vào đất đai, thuê ngƣời lao
động…Có nhƣ vậy thì mới phù hợp với thực tiễn SDĐ trong điều kiện kinh tế
thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay.
nƣớc Việt Nam cho thuê đất (Điều 9 Luật đất đai năm 2003).
1.2.3. Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật đất đai đối với người sử dụng đất
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật đều
bị xử lý; theo đó, ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý bằng một chế
tài pháp lý. Vậy xử lý vi phạm pháp luật là gì?. Theo Từ điển Luật học của Viện
Khoa học Pháp lý (Bộ Tƣ pháp): “Xử lý vi phạm pháp luật: Xem xét, quyết
định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lí đối với các cá nhân, tổ chức vi
phạm pháp luật. Việc xử lý vi phạm pháp luật, phải dựa vào các yếu tố cấu
thành hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi hành vi vi phạm pháp luật bao gồm bốn
yếu tố cấu thành là chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan.
Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực
trách nhiệm pháp lí. Nếu chủ thể là cá nhân thì phải đạt độ tuổi mà pháp luật
19
quy định có năng lực chịu trách nhiệm pháp lí và phải có trạng thái thần kinh
bình thƣờng, tức là không mắc bệnh tâm thần và các căn bệnh khác mà không
điều chỉnh đƣợc hành vi của mình.
Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo
vệ nhƣng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới.
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích của
hành vi vi phạm.
Mặt khách quan của hành vi vi phạm pháp luật là những biểu hiện bên
ngoài của vi phạm pháp luật. Mặt khách quan bao gồm hành vi trái pháp luật, sự
thiệt hại cho xã hội, mối quan hệ nhân quả. Việc xử lí vi phạm pháp luật phải
đƣợc tiến hành trong môi trƣờng bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản mà
trƣớc hết là nguyên tắc pháp chế, bảo đảm xử lí đúng ngƣời, đúng pháp luật,
công bằng, nhân đạo, không làm nhục con ngƣời, tôn trọng các quyền con
ngƣời của chính ngƣời bị xử lí, nhất là trong xử lí trách nhiệm hình sự” [6,
- Đối tượng bị xử lý vi phạm pháp luật đất đai
Theo Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, ngƣời có hành vi vi phạm hành
chính trong SDĐ bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Cá nhân trong nƣớc,
cá nhân nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài (gọi chung là cá
nhân); cơ quan tổ chức trong nƣớc, tổ chức nƣớc ngoài (gọi chung là tổ chức);
hộ gia đình; cơ sở tôn giáo.
Nhƣ vậy, ngƣời SDĐ và những ngƣời khác nếu có hành vi trái pháp luật
trong SDĐ, xâm hại trực tiếp đến quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà
nƣớc, QSDĐ của ngƣời sử dụng nhƣ: lấn chiếm đất đai, không SDĐ hoặc SDĐ
không đúng mục đích, chuyển mục đích SDĐ trái phép, hủy hoại đất…Những