Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị hoàn hiện pháp luật - Pdf 40

Vấn đề đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
và kiến nghị hoàn hiện pháp luật.

BẢNG QUY ƯỞC VIẾT TẮT
ĐCGQVADS

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

VADS

Vụ án dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

BLDS

Bộ luật dân sự năm 2005

LPS

Luật phá sản năm 2004

HĐXX

Hội đồng xét xử

ĐCXXVADS

Đình chỉ xét xử vụ án dân sự

đề tài: “ vấn đề đinh chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
và kiến nghị hoàn hiện pháp luật”
NỘI DUNG
I, Khái quát về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1.1 Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án quyết định ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định [l,tr263].
Như vậy, ĐCGQVADS là việc toà án cho ngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng.
Đây không phải là một bước bắt buộc của thủ tục mà chỉ là một quyết định mà Tòa
án có thể áp dụng sau khi đã thụ lý vụ án khi có những lý do khiến quá trình giải
quyết vụ án phải dừng lại hẳn.
1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Thứ nhất, ĐCGQVADS là ngừng hẳn các hoạt động tố tụng để giải quyết một
VADS cụ thể. Lúc này sẽ kết thúc cả về mặt thủ tục tố tụng lẫn giải quyết nội dung
VADS, không được khôi phục lại, trừ trường họp pháp luật có quy định khác.
Thứ hai, căn cứ để ĐCGQVADS là những căn cứ do pháp luật quy định. Căn
cứ ĐCGQVADS bao gồm cả nguyên nhân chủ quan, khách quan và ở mỗi giai đoạn
xét xử, ở từng loại đình chỉ, các căn cứ này là không giống nhau.
Thứ ba, việc ĐCGQVADS phải do Tòa án áp dụng.
Như vậy, có thể hiểu ĐCGQVADS là quyết định ngừng vĩnh viễn việc giải quyết vụ
án dân sự của Tòa án khi có những căn cứ do pháp luật quy định.
1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Quyết định ĐCGQVADS nhằm giảm bớt chi phí tố tụng cho đương sự khi
việc tiếp tục tố tụng không thật sự cần thiết nữa bởi vụ án đã được giải quyết...Vì thế
đương sự không phải tốn kém tiền bạc, thời gian tham gia tố tụng.Việc ĐCGQVADS
cũng giúp tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho cả nhà nước.

2



+) “Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bổ phả sản mà không có cá

3


nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tổ tụng của cơ quan, tổ chức đó
Đây là trường hợp nguyên đơn, bị đơn là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng bị
giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản thì tư cách pháp lý của các cơ quan, tổ chức này
không còn, hoạt động trên thực tế sẽ chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ cũng chấm dứt
theo. Nếu không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của cơ quan, tổ chức đó thì Tòa án phải ĐCGQVADS.
+) “Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc người
khởi kiện không có quyền khởi kiện Hành vi khởi kiện của người khởi kiện là cơ sở
để tòa án giải quyết vụ án nhưng sau khi tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì người này
rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp nhận hoặc xác định người này không có quyền
khởi kiện làm cho cơ sở của việc giải quyết vụ án không còn nữa. Vì thế vụ án sẽ bị
đình chỉ giải quyết. Mục 10.1 phần II nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP cũng có hướng
dẫn chi tiết về vấn đề này.
+) “Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên
đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án”. Neu cơ quan, tổ chức
đã khởi kiện mà lại rút đơn kiện thì Tòa án có trách nhiệm ĐCGQVADS đó với điều
kiện không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có giải thích thỏa đáng thế nào là “không có nguyên
đơn”. Mặt khác, nguyên đơn được hiểu là người đã khởi kiện hoặc được người khác
khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của họ. Như vậy, khó có thể có trường
họp một vụ án không có nguyên đơn.
+) “Các đương sự đã tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết
vụ án Đây là việc các đương sự chủ động thỏa thuận về giải quyết vụ án trong quá
trình tố tụng mà không cần đến sự tác động của Tòa án. Khi xuất hiện căn cứ này,
tòa án phải ĐCGQVADS vì lúc này đối tượng xét xử của vụ án không còn. Căn cứ

căn cứ cho Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS mà trong BLTTDS chưa
quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc
sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên (mục 10.2 phần IINQ 02/2006/NQ-HĐTP).
- Những căn cứ phát sinh trước khi tòa án đã thụ lý vụ án (Khoản 2 Điều 192):
Những căn cứ này phát sinh trước khi tòa án thụ lý vụ án, nhưng khi thụ lý tòa
án phát hiện ra phải trả lại đon khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đưong
sự theo quy định tại Điều 168 BLTTDS. Và sau khi thụ lý vụ án mới phát hiện ra thì
Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ
lý.

5


Các căn cứ này là những trường họp phải phát hiện từ khi nhận đơn kiện
nhưng do thiếu sót nên sau khi đã thụ lý vụ án, tòa án mới phát hiện ra. Tòa án
ĐCGQVADS để khắc phục sai sót của mình. Nên giữa khoản 1 và 2 Điều 192
BLTTDS hoàn toàn độc lập, chúng có mục đích và hậu quả pháp lý khác nhau.
Các trường họp quy định tại Điều 192 nêu trên là căn cứ để ĐCGQVADS
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. BLTTDS chưa có quy định nào về căn cứ
ĐCGQVADS tại phiên tòa sơ thẩm ngoài Điều 201 BLTTDS. Như vậy, dẫn tới cách
hiểu là không được ĐCGQVADS tại phiên tòa sơ thẩm. Nên cần quy định cụ thể hơn
về vấn đề này.
❖ Thẩm quyền ra quyết định ĐCGQVADS ở Tòa án cấp sơ thẩm
Người có quyền ra quyết định ĐCGQVADS trước phiên tòa xét xử sơ thẩm là
Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết vụ án (Điều 194 BLTTDS), tại
phiên tòa sơ thẩm là hội đồng xét xử (Điều 210 BLTTDS).
❖ Hình thức của quyết định ĐCGQVADS ở Tòa án cấp sơ thẩm
Quyết định ĐCGQVADS phải lập thành văn bản. Mẩu, nội dung quyết định được

dung và hình thức của quyết định này tuân theo mẫu 17 tại NQ 05/2006/ NQ- HĐTP.
❖ Hiệu lực và hậu quả pháp lỷ của quyết định ĐCGQVADS ở cấp phúc thẩm,
về nguyên tắc quyết định có hiệu lực ngay. Đương sự, VKS không thể kháng cáo
kháng nghị. Tuy nhiên nếu có căn cứ quyết định này vẫn có thể bị kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm.
Hậu quả pháp lý: Với trường họp Tòa án ĐCGQVADS theo điều 278 BLTTDS sau
khi rút đơn khởi kiện, nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại VADS theo thủ tục do
BLTTDS quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Các đương sự vẫn phải chịu án
phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí
phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Các trường họp khác, Tòa án cấp phúc thẩm
hủy bản án, quyết định sơ thẩm vì căn cứ để ĐCGQVADS trong thủ tục phúc thẩm
xuất hiện có nghĩa là bản án, quyết định sơ thẩm không có cơ sở. Quyết định
ĐCGQVADS tại thủ tục phúc thẩm đồng nghĩa với việc hủy bản án sơ thẩm và chấm
dứt thủ tục tố tụng. Với quyết định ĐCGQVADS theo điều 269 BLTTDS hậu quả
pháp lý và tiền án phí được xác định theo điểm b khoản 1 điều 269
2.2.2 Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
❖ Căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự quỵ định tại điều 260
BLTTDS đó ỉà :
- Các trường họp quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Căn cứ này
xuất hiện trong quá trình tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.. Hoạt động xét xử phúc thẩm chấm dứt, sau đó công

7


nhận giá trị pháp lý của bản án quyết định sơ thẩm. Còn nếu căn cứ này xuất hiện,
tồn tại từ khi giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm nhưng không được tòa án sơ thẩm phát
hiện mà đến cấp phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm mới phát hiện ra thì sẽ
ĐCGQVADS theo điều 278 BLTTDS.
- “Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng

làm tốt nhiệm vụ hướng dẫn Tòa án cấp dưới trong việc áp dụng thống nhất quy định
về ĐCGQVADS.
❖ Khuyết điểm: Không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn vào tham gia tố tụng. Các tòa án còn lúng túng với việc xác định tư cách của
đương sự là tổ chức đã sáp nhập, họp nhất, chuyển đổi không bàn giao khoản nợ có
tranh chấp sang tổ chức mới. Không xác minh được chính xác đương sự đã nhận
được giấy triệu tập hay chưa?
❖ Nguyên nhân: số lượng các vụ án dân sự cần phải đình chỉ mà ngành Tòa án
phải thụ lý giải quyết ngày càng tăng tính chất cũng phức tạp trong khi một số quy
định của pháp luật vẫn còn bất cập mà chưa được sửa đổi,bổ sung hoặc hướng dẫn.
Thẩm phán thường xuyên bị đe dọa, gây sức ép thậm chí bị hành hung ảnh hưởng tới
tính khách quan khi quyết định ĐCGQVADS. Và cũng có một số nguyên nhân chủ
quan như do trình độ, năng lực còn hạn chế và thiếu trách nhiệm cá nhân của đội ngũ
cán bộ tòa án nhất là thẩm phán ở các tòa án địa phương [4,tr48]. TANDTC chậm
ban hành các nghị quyết để hướng dẫn các vướng mắc mà tòa án cấp dưới gặp phải...
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án
cấp sơ thẩm, phúc thẩm
*x* Đổi với đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm - Với căn
cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì nên hướng dẫn thêm như sau:
“Trong trường họp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có
nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì đại diện của cơ quan
nhà nước nhận tài sản của bị đơn sẽ phải tiếp tục tham gia tố tụng thay bị đơn để giải
quyết tranh chấp với nguyên đơn”. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ với nguyên đơn thì
nhà nước mới được nhận tài sản của bị đơn.
- Đối với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS cần có hướng dẫn chi
tiết hon. Khi người khởi kiện là người đại diện theo ủy quyền, Tòa án không đương
nhiên ra quyết định ĐCGQVADS mà phải xem xét phạm vi ủy quyền theo họp đồng.
Khi việc rút đơn kiện nằm trong phạm vi ủy quyền, phù họp với ý chí và nguyện
vọng của nguyên đơn thì Tòa án mới được ĐCGQVADS.
- Đối với căn cứ đình chỉ điểm d khoản 1 Điều 192 BLTTDS nên sửa lại như

hiệu lực pháp luật. Vì thế trường họp này, tòa án phúc thẩm không chấp nhận rút đơn
và không hủy bản án sơ thẩm và ĐCGQVADS theo điều 269 BLTTDS.
KẾT LUẬN
Từ sự phân tích trên có thể thấy các quy định của pháp luật về vấn đề đình chỉ
giải quyết VADS tại Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm là khá toàn diện. Tuy vậy nhưng
các quy định vẫn còn những điểm chưa thống nhất, chưa họp lí và còn dàn trải khiến

10


việc áp dụng pháp luật cũng như tìm hiểu, nắm bắt các quy định của pháp luật gặp
nhiều khó khăn. Do đó cần có những quy định bổ sung nhằm khắc phục và hoàn
thiện pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt

Nam - NXB Tư Pháp, Hà Nội, năm 2005.
2.

Nguyễn Triều Dương, Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tạp chí Luật

học, số 5/2005.
3.

Ths. Nguyễn Triều Dương, về việc rút đơn khởi kiện của đương sự

trong TTDS, Tạp chí TAND, số 11/2009.

10.

/>
su/2007/3180/Nhung-bat-cap-cua-phap-luat-ve-dinh-chi-viec-giaiquyet.aspx.

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status