B. NỘI DUNG
I. Lý luận chung
1. Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án quyết định ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.
2. Đặc điểm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đặc điểm của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là sau khi có quyết định
đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án dân sự
được ngừng lại.
3. Ý nghĩa việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
II. Các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án
cấp phúc thẩm
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án dân sự cấp sơ thẩm
1.1. Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS sau khi thụ lý vụ án thuộc
thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa
vụ của họ không được thừa kế
Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ
không được thừa kế được hiểu là quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật không
được để lại thừa kế cho người khác. Các quyền và nghĩa vụ này phải là quyền,
nghĩa vụ nhân thân, không phải là quyền và nghĩa vụ về tài sản. Do gắn liền với
nhân thân nên khi đương sự chết, quyền và nghĩa vụ nhân thân đương nhiên
chấm dứt, lúc này đương nhiên hoạt động tố tụng tại tòa sẽ chấm dứt. Do đó,
Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Thứ hai, cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không
Thứ tư, Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có
nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án.
Căn cứ này được áp dụng trong trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vì
quyền và lợi ích của người khác. Nếu cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, Tòa án có
trách nhiệm thụ lý vụ án mà cơ quan, tổ chức đó lại rút văn bản khởi kiện thì
Tòa án đình chỉ giải quyết VADS đó với điều kiện không có nguyên đơn hoặc
nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án.
Thứ năm, các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục
giải quyết vụ án.
Các đương sự chủ động thỏa thuận về việc giải quyết vụ án trong quá trình
tố tụng mà không cần đến sự tác động của Tòa án. Sau khi Tòa án đã thụ lý vụ
án mà các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về các vấn đề cần giải quyết và
không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ
án đó vì lúc này đối tượng xét xử của vụ án không còn.
Thứ sáu, nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt.
Nguyên đơn là người cho rằng quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm nên
khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích đó. Do vậy, họ phải có giấy triệu tập
của Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình. Nếu được triệu tập đến lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt thì họ đã từ quyền lợi đó. Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ
án mà không cần đến việc vắng mặt của nguyên đơn có lý do chính đáng hay
không chính đáng.
Thứ bảy, đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có
liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các
quyền và nghĩa vụ được giải quyết thông qua thủ tục phá sản. Các Tòa án khác
không được nhận đơn khởi kiện, thụ lý VADS có liên quan đến nghĩa vụ tài sản
mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản đó là một bên đương sự. Nếu
Theo quy định tại Điều 194 BLTTDS thì: “Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự đó.” Như vậy, người có thẩm quyền ra quyết định đình
chỉ giải quyết VADS trước phiên tòa xét xử sơ thẩm là Thẩm phán được Chánh
án phân công giải quyết vụ án.
Theo quy định tại Điều 210 BLTTDS thì Hôi đồng xét xử có thẩm quyền ra
quyết định đình chỉ vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm.
1.3. Hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án
cấp sơ thẩm
Quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án sơ thẩm phải lập thành văn
bản. Mẫu, nội dung quyết định này được quy định cụ thể tại NQ 02/2006/NQ –
HĐTP ngày 12/5/2006
1.4. Hiệu lực và hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm
* Hiệu lực của quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sơ thẩm
Quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm.Theo khoản 2 Điều 245 BLTTDS thì thời hạn kháng cáo là 7 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định của Tòa án. Hết thời hạn trên mà không có kháng
cáo, kháng nghị thì quyết định đình chỉ vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật ngay
và chấm dứt việc giải quyết vụ án tại đó. Tuy nhiên, quyết định này vẫn có thể
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ.
* Hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa
án cấp sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 193 BLTTDS thì: Khi Tòa án ra quyết định đình
chỉ giải quyết VADS thì hoạt động tố tụng chấm dứt.Về nguyên tắc, các đương
sự không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS đó một lần
nữa nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên
kháng cáo, kháng nghị có đương sự nào kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng
nghị hay không, Tòa án cấp sơ thẩm đều phải gửi hồ sơ vụ án, văn bản rút đơn
khởi kiện cho Tòa án cấp phúc thẩm để Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều
269 BLTTDS mở phiên tòa giải quyết vụ án theo thủ tục chung.Tuy nhiên quy
định này chưa hợp lý vì không có kháng cáo, kháng nghị mà Tòa án phúc thẩm
vẫn tiến hành mở phiên tòa là không có cơ sở. Do đó, BLTTDS cần quy định cụ
thể về vấn đề này.
2.2. Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp
phúc thẩm
Tại cấp phúc thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án chỉ được quy định thực hiện
trong phiên tòa. Vì vậy, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
thuộc về HĐXX.
2.3. Hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp
phúc thẩm
Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết VADS phải lập thành
văn bản. Nội dung và hình thức của quyết định này phải tuân theo mẫu 17 tại
Nghị quyết 05/2006/ NQ – HĐTP ngày 4/8/2006.
2.4. Hiệu lực và hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự ở cấp phúc thẩm
* Hiệu lực quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp phúc thẩm
Về nguyên tắc, mọi bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm nói
chung và quyết định đình chỉ giải quyết VADS ở cấp phúc thẩm nói riêng có
hiệu lực pháp luật ngay. Đương sự, Viện kiểm sát không thể kháng cáo, kháng
nghị. Tuy nhiên, nếu có căn cứ, quyết định này vẫn có thể bị kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm.
* Hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp
phúc thẩm
Với trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 278 BLTTDS