MỞ ĐẦU
Luật tố tụng hình sự VIệt Nam đã quy định những biện pháp để đảm bảo cho
Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước, không để lọt tội phạm, không để oan người vô tội. Tòa
án cấp sơ thẩm khi đưa ra xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự phải ra bản án hoặc
quyết định hợp pháp và có căn cứ. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những bản án của Tòa án
sơ thẩm không đáp ứng được yêu cầu của pháp luật. Vì vậy kháng cáo là một chế
định quan trọng trong luật tố tụng hình sự. Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp phúc
thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu
sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công
bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân.
NỘI DUNG
I.
Lý luận chung về kháng cáo phúc thẩm hình sự
1. Khái niệm về kháng cáo phúc thẩm hình sự
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kháng cáo phúc thẩm hình sự,
nhưng nhìn chung lại có thể định nghĩa kháng cáo phúc thẩm hình sự như sau: “
kháng cáo phúc thẩm hình sự là quyền của bị cáo, người tham gia tố tụng khác theo
quy định của pháp luật được để nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho họ hoặc những người khác.”
2. Ý nghĩa của kháng cáo phúc thẩm hình sự
Kháng cáo là một chế định có vị trí vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự. Đây
là một quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và cá đương sự, bảo vệ
nguyên tắc hai cấp xét xử, đảm bảo cho pháp chế xã hội chủ nghĩa được duy trì và
thực thi. Như vậy kháng cáo có ý nghĩa rất lớn cả về mặt chính trị, pháy lý và xã hội.
2.1. Ý nghĩa chính trị của kháng cáo phúc thẩm hình sự
Quyền kháng cáo là một trong những phương tiên hữu hiệu để bảo vệ kịp thời quyền
và lợi ích của công dân, đặc biệt là của bị cáo trong vụ án hình sự. Nếu bản án sơ
2
thẩm có hiệu lực pháp luật ngay không có quy định quyền kháng cáo cho người
tham gia tố tụng thì họ hoàn toàn không có cơ hội nào để chủ động đưa ra quan điểm
của mình đối với những gì mà Tòa án đã tuyên cho dù những quyết định đó chưa
hợp lý và hợp pháp.
2.3. Ý nghĩa xã hội của kháng cáo phúc thẩm hình sự
Quyền kháng cáo là một trong những biểu hiện của dân chủ tiến bộ, góp phần bảo
đảm công bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa
án, góp phần bảo đảm uy tín của cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng.
Đồng thời, Tòa án la cơ quan xét xử duy nhất của nhà nước, Tòa án có vai trò
quan trọng đối với xã hội vì vậy các quyết định của Tòa án có ảnh hưởng to lớn tới
toàn xã hội. Một bản án, quyết định muốn có tác động tích cực tới toàn xã hội thì
bản án đó, quyết định đó phải chính xác, công bằng minh bạch được mọi người đồng
tình, vì vậy rất cần kháng cáo nếu những quyết định, bản án của Tòa án chưa đáp
ứng được tính hợp pháp và hợp lý.
Chế định kháng cáo phúc thẩm hình sự được quy định trong bộ luật tố tụng hình
sự thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện có hiệu quả các quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp. Quy định này tạo cho các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực
tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của mình ở cấp xét xử cao hơn. Khi kháng cáo hợp lệ,
những người kháng cáo có quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm , họ được trực tiếp
đưa ra các chứng cứ, tình tiết mới trước Tòa án phúc thẩm.
II. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng cáo
phúc thẩm hình sự.
1. Đối tượng của kháng cáo phúc thẩm
Về đối tượng của kháng cáo thì bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy
Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng, Tòa án
cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo
quá hạn. Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận
việc kháng cáo quá hạn. Như vậy nếu kháng cáo kháng nghị có lý do chính đáng và
được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận thì bản án, quyết định sơ thẩm đã có
hiệu lực pháp luật vẫn là đối tượng của kháng cáo.
Trường hợp thứ hai: bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo nhưng
Tòa án cấp phúc vẫn có thể xem xét lại
4
Theo quy định tại Điều 241 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định phạm vi
xét xử phúc thẩm thì ngoài việc xem xét lại những nội dung kháng cáo kháng nghị,
Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét những nội dung không bị kháng cáo, kháng
nghị nếu xét thấy cần thiết. Về nguyên tắc, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những
nội dung bị kháng cáo, kháng nghị còn những nội dung khác nếu không bị kháng
cáo, kháng nghị thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật vì vậy đây cũng có thể coi là
trường hợp ngoại lệ thứ hai của đối tượng kháng cáo.
2. Chủ thể của kháng cáo phúc thẩm
Theo Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì chủ thể có quyền kháng cáo
bao gồm:
• Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo
Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc
một phần bản án, quyết định sơ thẩm. Bị cáo theo quy định tại Điều 50 Bộ luật tố
tụng hình sự thì là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Vì vậy bị cáo là chủ
thể chịu ảnh hưởng nhiều nhất và chủ yếu nhất của bản án hay quyết định sơ thẩm,
vì vậy bị cáo có quyền kháng cáo kháng nghị là một điều tất yếu. Bị cáo có thể nêu
mục đích kháng cáo của việc kháng cáo như: xin giảm hình phạt, thay đổi tội danh
nhẹ hơn, giảm mức bồi thường….Nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có
từ hai người đại diện hợp pháp trở lên thì được phân biệt như thế nào được quy định
rất cụ thể.
• Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có
nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho bị cáo. Quy định
này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của hợp pháp bị cáo là người chưa thành niên
hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Đây là quyền kháng cáo độc
lập của người bào chữa, không phụ thuộc vào việc bị cáo có đồng ý hay không đồng
ý. Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo thì bị cáo vẫn có thể kháng cáo.
• Người bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên hoặc là người
có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần
6
Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có
liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ. Quyền kháng cáo của
những người này cũng độc lập với người mà họ bảo vệ, quyền này của họ không
phải do ủy quyền.
• Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ (đại diện
theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc
quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Do nguyên đơn, bị đơn
dân sự tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình
sự, vì vậy, quyền kháng cáo của họ chỉ hạn chế trong phạm vi những phần của bản
án, quyết định liên quan đến phần bồi thường thiệt hại.
• Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp
pháp của họ.
ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó”
Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng. “Lý do
chính đáng” là những trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà
người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định,
ví dụ: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải nằm viện điều trị.
4. Thủ tục và hình thức kháng cáo
Theo quy định tại Điều 233 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục kháng cáo được
thực hiện như sau: Người kháng cáo có thể gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xử sư
thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hoặc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử
sơ thẩm về việc kháng cáo. Nếu kháng cáo bằng miệng, Tòa án đã xử sơ thẩm phải
lập biên bản về việc kháng cáo. Người lập biên bản phải giải thích cho người yêu
cầu kháng cáo đang bị tạm giam, ban giám thi trại tạm giam phải trực tiếp nhận và
gửi ngay đơn kháng cáp của bị cáo đến Tòa án đã xử sơ thẩm.
Về việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã được Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể tại điểm
3 phần I.
5. Thông báo về việc kháng cáo
8
Khi có kháng cáo Tòa án cấp sơ thẩm phái thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm
sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày
nhận được kháng cáo. Ý nghĩa của việc thông báo về việc kháng cáo là để những
người tham gia tố tụng biết được vụ án sẽ được xét xử phúc thẩm để từ đó có thời
gian và chủ động chuẩn bị cho việc tham gia đồng thời bảo vệ tốt cho quyền và lợi
ích hợp pháp của mình tại phiên tòa, cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu mới. Riêng
đối với bị cáo thì việc thông báo tạo điều kiện thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên
tòa phúc thẩm. Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn cụ thể về việc
thông báo kháng cáo như sau: Toà án cấp sơ thẩm không phải thông báo về việc
cáo có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo. Nếu rút toàn bộ kháng cáo tại
phiên tòa thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.
Theo Nghị quyết 05/2005/NQ – HĐTP đã có hướng dẫn như sau: Trong trường
hợp người kháng cáo rút một phần trong kháng cáo của mình hoặc có nhiều người
kháng cáo, nhưng có người rút kháng cáo, có người không rút kháng cáo, Viện kiểm
sát rút một phần kháng nghị trong kháng nghị của mình, thì cần phân biệt như sau:
Trường hợp rút trước khi mở phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải
được làm thành văn bản. Trường hợp người kháng cáo trực tiếp đến Toà án rút
kháng cáo, thì Toà án cấp phúc thẩm yêu cầu người kháng cáo phải làm thành văn
bản hoặc phải lập biên bản về việc rút kháng cáo. Trường hợp rút tại phiên toà, thì
việc rút kháng cáo, đó phải được ghi vào biên bản phiên toà. Toà án cấp phúc thẩm
tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung đối với phần kháng cáo còn lại.
Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền xem xét đối với các phần có
kháng cáo, đã bị rút mà không có liên quan đến phần kháng cáo, kháng nghị còn lại
theo quy định tại Điều 241 và khoản 2 Điều 249 của BLTTHS.
III.
Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 về kháng cáo phúc thẩm và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
kháng cáo phúc thẩm.
1. Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
về kháng cáo phúc thẩm
1.1.
Những kết quả đạt được trong thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 về kháng cáo phúc thẩm
10
quyết định sơ thẩm. Như vậy khi thực hiện quyền kháng cáo, bị cáo dù không có bất
kì lí do hợp lí nào cũng có thể kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm. Mặt
khác khi kháng cáo không hợp lệ thì những người thực hiện quyền kháng cáo cũng
11
không hề ảnh hưởng đến quyền lợi, nguyên nhân nữa cũng là do tâm lí cầu may của
những thực hiện quyeefn kháng cáo. Hơn thế nữa thủ tục kháng cáo lại đơn giản nên
việc kháng cáo tràn lan là một điều dễ hiểu.
Thứ hai, việc thực hiện một số quy định về kháng cáo phúc thẩm hình sự theo Bộ
luật tố tụng hình sự của Tòa án cấp phúc thẩm còn tồn tại một số vi phạm nhất định
làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của người kháng cáo như vi phạm về
xác định thời gian kháng cáo sai, thậm chí còn không xét xử đến kháng cáo của
người kháng cáo.
Thứ ba, công tác thụ lí đơn kháng cáo còn thấy nhiều tồn tại sai phạm liên quan
đến việc thực hiện quyền kháng cáo của chính các chủ thể có quyền kháng cáo. Đó
là những trường hợp kháng cáo sai chủ thể, sai đối tượng, kháng cáo quá hạn.
Nguyên nhân của những tồn tại này là do quy định của Bộ luật tố tụng hình sự chưa
rõ ràng, sự thiếu hiểu biết pháp luật của nhưng người kháng cáo, đồng thời cũng do
Tòa án sơ thẩm chưa giải thích rõ ràng chủ thể nào có quyền kháng cáo, thời hạn
kháng cáo được tính ra sao nên làm cho các chủ thể kháng cáo còn mơ hồ.
2. Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kháng cáo phúc thẩm
2.1.
Những kiến nghị sửa đổi Luật
Thứ nhất, về đối tượng kháng cáo phúc thẩm
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP chưa xác
định một các cụ thể hóa đối tượng của kháng cáo mà chỉ quy định chung chung,
án, tạm đình chỉ vụ án của Tòa án sơ thẩm.
Bên cạnh đó Điều 231 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP quy định người bị
hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án,
quyết đinh sơ thẩm. Nhưng theo Khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 thì Tòa án có quyền sửa bản án theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo khi
người bị hại kháng cáo còn không quy định đến người đại diện hợp pháp của người
bị hại. Như vậy không đảm bảo được quyền kháng cáo tối đa của người đại diện hợp
pháp cho người bị hại.
Thứ ba, về thời hạn kháng cáo
Tại mục 4 phần I hướng dẫn Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hướng
dẫn về cách tính thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc kháng cáo vẫn còn chưa cụ thể
và trừu tượng, đối với những người nghiên cứu về luật thì quy định này có thể là dễ
13
hiều, nhưng đối với những người có trình độ dân trí thấp, những người ở miền núi,
dân tộc thiểu số thì khó có thể hiểu được. Mặt khác, cách tình thời hạn kháng cáo với
thời điểm bắt đầu và kết thúc kháng cáo là một trong những yếu tố quan trọng liên
quan trực tiếp đến quyền kháng cáo cũng như quyền lợi của họ trong vụ án. Vì vậy
quy định về thời hạn kháng cáo cần được quy định rõ ràng dễ hiểu hơn.
Thứ tư, về thông báo kháng cáo
Khoản 1 Điều 236 quy định về thông báo kháng cáo còn tồn tại những điểm chưa
hợp lí, chưa rõ ràng cần phải được sửa đổi bổ sung. Việc bổ sung này một mặt đảm
bảo quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, mặt khác tạo
sự áp dụng pháp luật thống nhất.
Theo khoản 1 Điều 236 thì Tòa án cấp sơ thẩm không phải thông báo về nội dung
kháng cáo, như vậy không đảm bảo được quyền lợi của bị cáo và những người có
quyền và nghĩa vụ liên quan. Bởi vì việc thông báo nội dung kháng cáo là cần thiết,
bị cáo và những người khác cần phải biết nội dung kháng cáo ấy liên quan đến vấn
Những kiến nghị khác để nâng cao hiệu quả của việc kháng cáo
Cần phải tăng cường trách nhiệm của Tòa án, đặc biệt là Tòa án cấp sơ thẩm trong
việc giải thích các quy định về kháng cáo cho những người tham gia tố tụng để họ
thực hiện quyền kháng cáo một cách hiệu quả
Không ngừng tăng cường việc phổ biến pháp luật tới người dân, nhất là những
người ở vùng cao, miền núi, dân tộc thiểu số. Để từ đó nâng cao hiểu biết của họ về
luật pháp, giúp phần thực hiện pháp luật một cách tốt hơn.
Nâng cao việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ Tòa án.
KẾT LUẬN
Kháng cáo là một trong những quy định quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích của
những người tham gia tố tụng đồng thời cũng là một trong những quy định giúp việc
xét xử của Tòa án được chính xác, khách quan , đúng người đúng tội. Từ đó đảm
bảo cho pháp luật được thực người dân tôn trọng và thực hiện, góp phần phát triển
đất nước.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – trường đại học Luật Hà Nội
2. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
năn 2003
3. Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ tư “ xét xử phúc thẩm “ của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003.
4. Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam –
khóa luận tốt nghiệp – Trần Thị Hoài Thương.
5. Một số trường hợp giải quyết kháng cáo, kháng nghị liên quan đến phiên
tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự - Qách Thành Vinh – tòa án nhân