Phân tích đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm. - Pdf 51

MỤC LỤC
BẢNG TỪ VIẾT TẮT..........................................................................................................
MỞ BÀI.............................................................................................................................. 1
NỘI DUNG......................................................................................................................... 1
I. Khái quát về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự..............................................................1
1. Khái niệm................................................................................................................. 1
2. Đặc điểm.................................................................................................................. 1
3. Ý nghĩa..................................................................................................................... 1
II. Khái quát về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm.....2
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm............................................2
2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp phúc thẩm.........................................5
III. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong về đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự trong những năm gần đây và một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật......................7
1. Thực tiễn áp dụng.....................................................................................................7
2. Một số kiến nghị.......................................................................................................8
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................10


BẢNG TỪ VIẾT TẮT

VADS:

Vụ án dân sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử

BLTTDS 2015:


giám đốc thẩm, tái thẩm. Trước khi mở phiên tòa, thẩm quyền này thuộc về Thẩm phán
được phân công giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, HĐXX có quyền đình chỉ giải quyết
VADS.
Thứ tư, hậu quả của đình chỉ giái quyết VADS là mọi hoạt động tố tụng đều phải được
ngừng lại. Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án không tiến hành thêm bất
cứ hoạt động nào để giải quyết VADS.

1


3. Ý nghĩa
Việc đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa khắc phục những sai lầm có thể xảy ra
trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo vụ án được xử lý khách quan chính xác. Trong
nhiều trường hợp sau khi đã thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ án không thỏa mãn các
điều kiện thụ lý theo quy định pháp luật. Hơn nữa, việc đình chỉ giải quyết VADS cũng
tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí cho cả đương sự và Nhà nước. Khi Tòa án ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án một cách đúng đắn sẽ làm quá trình giải quyết vụ án nhanh
gọn, không phải kéo dài thời gian giải quyết thậm chí không phải mở phiên tòa xét xử.
Nhờ đó, gánh nặng về số vụ việc cần giải quyết được giảm tải, Tòa án có điều kiện tập
trung giải quyết các vụ án quan trọng hơn để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét
xử.
II. Khái quát về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm và phúc
thẩm
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm
1.1. Căn cứ pháp lý
Theo quy định tại Điều 217 BLTTDS năm 2015, các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án
được quy định như sau:
- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được
thừa kế (điểm a khoản 1)
Nguyên đơn hoặc bị đơn chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế được

Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc
vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan (điểm c khoản 1)
Sự kiện người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện dẫn tới đối tượng cần được giải
quyết trong vụ án không còn tồn tại, việc giải quyết vụ án của Tòa án vì thế cũng bị chấm
dứt. Quy định này của BLTTDS 2015 đã khắc phục hạn chế tại điểm c khoản 1 Điều 192
BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 khi đưa ra điều kiện “người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện” thay vì chỉ cần điều kiện “người khởi kiện rút đơn khởi kiện” như trước đây.
Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng với những vụ án có yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn mà không có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan. Đối với những VADS mà người khởi kiển rút yêu cầu nhưng đương sự
khác vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ giải quyết
đới với yêu cầu của đương sự đã rút. Có nghĩa là, Tóa án chỉ đình chỉ giải quyết một phần
của vụ án chứ không phải là đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án. Việc đình chỉ giải quyết vụ
án trong trường hợp vụ án có nhiều yêu cầu tố tụng chỉ được thực hiện nếu tất cả các
đương sự đều rút yêu cầu của mình làm cho đối tượng của VADS cần giải quyết không
còn tồn tại.
Nguyên đơn đã được triệu tập lần hai mà vẫn vắng mặt dù không có đề nghị xét xử
vằng mặt hoặc không thuộc trường hợp vắng mặt do sự kiện bất khả kháng, trở ngại
khách quan thì việc vắng mặt này là không có lí do chính đáng. Trong trường hợp này,
việc nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lí
do chính đáng dẫn tới suy đoán là họ đã từ bỏ việc khởi kiện của mình, đối tượng của vụ
án cần giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại, do vậy, việc giải quyết vụ án của Tòa án
cần được chấm dứt.
Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là
một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó (điểm d khoản 1)
3



(điểm g khoản 1)
Đây là những căn cứ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng vì một nguyên
nhân nào đó vụ án vẫn được Tòa án thụ lý, sau đó Tòa án mới phát hiện ra căn cứ này.
Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 là các trường hợp trả
lại đơn khởi kiện tức là không đủ điều kiện để Tòa án thụ lý nhưng Tòa án đã thụ lý vụ án
là không đúng. Vì vậy, để khắc phục sai lầm của mình trong việc xem xét đơn khởi kiện
thì việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này là hợp lý.
4


Bên cạnh đó, điểm tiến bộ quan trọng của BLTTDS năm 2015 là đã dự liệu căn cứ
đình chỉ giải quyết VADS đối với vụ án có yêu cầu phản tổ của bị đơn, yêu cầu độc lập
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặt khác, căn cứ đình chỉ giải quyết VADS
trong trường hợp này cũng đảm bảo tương thích với Điều 227 và 245 BLTTDS năm 2015.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Đó là các trường hợp làm căn cứ cho Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS
mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy đinh trong các văn bản quy phạm
pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiêu lực thi hành mới được quy đinh trong các
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên.
1.2. Thẩm quyền, thủ tục đình chỉ giải quyết VADS
Theo Điều 219 BLTTDS 2015 thì trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm Thẩm phán
được phân công giải quyết VADS có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ. Tại phiên tòa sơ
thẩm, thẩm quyền quyết định đình chỉ giải quyết VADS thuộc về HĐXX sau khi đã thảo
luận thông qua tại phòng nghị án.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS phải được lập thành văn bản. Trong thời
hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định đình chỉ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho
đương sự, Việc kiểm sát cùng cấp.
1.3. Hậu quả pháp lý
Khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực pháp luật thì hoạt động tố tụng

Đình chỉ xét xử phúc thẩm là quyết định của Tòa án làm chấm dứt hoạt động giải
quyết VADS theo thủ tục phúc thẩm, đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản
án, quyết định sơ thẩm, theo đó những quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định sơ
thẩm của các đương sự phải được tôn trọng và thi hành. Tính chất của đình chỉ xét xử
phúc thẩm không làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nội dung mà chỉ chấm dứt thủ
tục tố tụng phúc thẩm. Việc ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được
thực hiện theo nguyên tắc mọi quyết định trước khi Tòa án cấp phúc thẩm đưa quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì do Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết
định, sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm do
HĐXX quyết định.
Tại cấp phúc thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án chỉ được quy định thực hiện trong phiên
tòa. Vì vậy, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về HĐXX phúc
thẩm. Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải lập thành
văn bản.
2.3. Hậu quả pháp lý
Với trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 311 BLTTDS sau khi rút
đơn khởi kiện, nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ luật này
quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định
pháp luật. Các trường hợp giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm xuất hiện có nghĩa là
bản án , quyết định sơ thẩm không có cơ sơ. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
tại thủ tục phúc thẩm đồng nghĩa với việc hủy bản án quyết định sơ thẩm và chấm dứt tố
tụng. Khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải
quyết vụ án theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì căn cứ vào quyết định của Tòa án cấp
6


sơ thẩm về án phí trong bản án sơ thẩm bị hủy, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định đương
sự nào phải chịu án phí và mức án phí sơ thẩm. Đối với trường hợp này các đương sự còn
phải chịu một nửa án phí phúc thẩm.

như quy định hiện nay dẫn đến hệ lụy đương sự bị Tòa án cấp sơ thẩm xử thua kiện phải
chịu một khoản tiền án phí rất lớn. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện,
bị đơn đồng ý, Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, đối
7


tượng tranh chấp không còn nhưng đương sự vẫn phải thi hành một khoản tiền án phí rất
lớn và sự bất cập ở đây là thi hành án phí cho nội dung gì ? trong khi đó Khoản 1 Điều
147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: “Đương
sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường
hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm” và khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án
phí, lệ phí Tòa án quy định: “Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu
của họ không được Tòa án chấp nhận”.
Ví dụ: Bà A khởi kiện ông B để đòi số tiền nợ 800 triệu đồng phát sinh trong quá trình
hùn hạp làm ăn, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc ông B trả cho bà A số tiền nợ 800 triệu
đồng và buộc ông B phải chịu án phí sơ thẩm là 36.000.000 đồng. Ông B kháng cáo vì
cho rằng đây không phải tiền nợ mà tiền hùn hạp làm ăn, nay làm ăn thua lỗ thì đôi bên
cùng phải gánh chịu thiệt hại ông không có nghĩa vụ phải trả lại số tiền trên cho bà A. Tại
phiên tòa phúc thẩm qua động viên, hòa giải bà A rút đơn kiện được ông B đồng ý, Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ
án. Trong trường hợp này ông B vẫn phải chịu án phí sơ thẩm là 36.000.000 đồng và ½ án
phí phúc thẩm là 100.000 nghìn đồng. Bản án sơ thẩm đã bị hủy, vụ án phúc phẩm đã
được đình chỉ. Vụ án tạm thời được khép lại (nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án
nếu thời hiệu khởi kiện còn). Nhưng hệ quả pháp lý không dừng lại, ông B phải thi hành
án cho nội dung gì mà phải chịu án phí sơ thẩm 36.000.000 đồng ?
2. Một số kiến nghị
Thực tiễn áp dụng quy định điểm a khoản 1 Điều 217 đã gặp phải những vướng mắc
đã nêu trên. Để khắc phục thì cần bổ sung quy định hướng dẫn việc xử lý trong trường
hợp tranh chấp về tài sản nhưng nguyên đơn chết mà không có người thừa kế như sau:
Đối với vụ án tranh chấp về tài sản mà nguyên đơn chết nhưng không có người thừa kế

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bình luận Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 – Chủ biên: TS Bùi Thị Huyền,
NXB Lao động, Hà Nội, 2016;
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2011;
3. Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007;
4. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
5. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011);
6. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
7. Luật Phá sản năm 2014;
8. Nguyễn Triều Dương, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tạp chí luật học,
Đặc san về BLTTDS, 2005;
9. Vương Thanh Thúy, “Một số vấn đề về thủ tục phúc thẩm dân sự”, Tạp chí luật
học, Đặc san góp ý dự thảo BLTTDS, 2004;
10. Vấn đề tạm đình chỉ và đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự : khoá luận tốt
nghiệp / Lê Thị Ngời ; TS. Trần Anh Tuấn hướng dẫn, Hà Nội, 2012;
11. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự : khoá luận tốt nghiệp /
Hoàng Thị Phương Liên ; ThS. Nguyễn Thị Thu Hà hướng dẫn, Hà Nội, 2010;
12.
13.
14.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status