B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI
NGUYN TH
Định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong pháp luật tố
tụng dân sự ở Việt Nam
LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..
H NI NM 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội, các
thầy cô Khoa sau đại học, Khoa pháp luật dân sự và cán bộ nhân viên Thư viện
Trường Đại học Luật Hà Nội – những người đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình tôi học tập, nghiên cứu và viết luận văn tại Trường.
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Hữu Thư người đã tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện công trình nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Tòa án
nhân dân thành phố Cao Bằng nơi tôi công tác, gia đình, bạn bè – những người đã luôn
ở bên động viên, chia sẻ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Hà Nội, ngày ….. tháng ….năm 2017
THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN 6
1.1. Khái niệm định giá tài sản, thẩm định giá tài sản 6
1.1.1. Khái niệm định giá và định giá tài sản 6
1.1.2. Khái niệm thẩm định giá và thẩm định giá tài sản 7
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự 9
1.2.1. Khái niệm định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự 9
1.2.2. Đặc điểm của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự 12
1.2.3. Vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự 15
1.3. Cơ sở của quy định pháp luật về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt
Nam 16
1.3.1. Cơ sở về mô hình tố tụng 16
1.3.2. Việc xây dựng quy định về định giá, thẩm định giá tài sản xuất phát từ việc đảm bảo quyền tiếp
cận công lý, quyền tự định đoạt của đương sự 18
1.3.3. Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động định giá, thẩm định giá tài sản phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước và hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế khác 19
1.3.4. Xây dựng quy định về định giá, thẩm định giá tài sản xuất phát từ nhiệm vụ quyền hạn của Tòa
án trong TTDS 20
1.4. Sơ lược về sự hình thành quy định về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Chương 2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ
ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM 27
2.1. Quy định pháp luật về định giá tài sản trong tố tụng dân sự 28
2.1.1. Về điều kiện áp dụng biện pháp định giá tài sản 28
2.1.2. Về nguyên tắc định giá tài sản. 30
2.1.3. Về trình tự, thủ tục định giá tài sản 32
2.1.4. Về thành phần tham gia định giá tài sản 32
2.1.5. Xử lý trong một số trường hợp khác 38
Cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời gian qua
đã phát sinh ngày càng nhiều và đa dạng các mối quan hệ dân sự. Đây cũng là lí do
dẫn đến số lượng các vụ án tranh chấp dân sự tại các Tòa án ngày càng nhiều và có
những vụ án có tính chất phức tạp, mâu thuẫn giữa các đương sự trong quan hệ này
thường gay gắt, căng thẳng, đặc biệt là trong các vụ án liên quan đến quan hệ tài sản.
Quá trình giải quyết các vụ án liên quan đến tài sản trong nhiều trường hợp cần phải
xác định rõ giá trị tài sản vì đó là cơ sở cho Tòa án tuyên một bản án, quyết định phù
hợp, khách quan và đúng pháp luật. Khắc phục các bất cập của pháp luật trước đây,
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 và được sửa
đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012
đã tạo ra một khung pháp lí về các hoạt động tố tụng dân sự, góp phần nâng cao chất
lượng giải quyết các vụ việc dân sự. Trong đó, các quy định về các biện pháp và quy
trình thu thập chứng cứ được quy định chặt chẽ hơn, đa dạng hơn, qua đó đảm bảo
việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác. Trong số các biện pháp thu thập
chứng cứ đã nêu thì biện pháp định giá tài sản và thẩm định giá tài sản đã được sửa
đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện và phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng yêu
cầu của đương sự cũng như Tòa án trong tố tụng dân sự. Trong nhiều trường hợp
cần thiết, việc áp dụng các biện pháp định giá tài sản hay thẩm định giá tài sản đã trở
thành một phần quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự và được các
Thẩm phán áp dụng có hiệu quả.
Tuy nhiên, qua thực tiễn 10 năm thi hành và áp dụng các quy định pháp luật về
các biện pháp định giá và thẩm định giá tài sản tại các Tòa án địa phương vẫn gặp
những vướng mắc, bất cập nhất định. Nguyên nhân là do những quy định pháp luật
về các biện pháp này chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến nhiều Tòa án
có cách áp dụng không thống nhất và có nhiều quan điểm khác nhau. Mặt khác trong
quá trình định giá tài sản còn gặp những trở ngại khách quan như: việc đương sự
không hợp tác, gây cản trở hoạt động định giá hoặc kết quả định giá không chính
xác, không phù hợp với thực tế dẫn đến đương sự khiếu nại và thời gian giải quyết
thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội; đề tài: “Hoạt động thu thập chứng cứ
của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện, thành
phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Liên (2014), Luận văn thạc sỹ Luật học,
trường Đại học Luật Hà Nội… Hoặc nghiên cứu dưới góc độ chế định chứng minh,
trong đó có nghiên cứu biện pháp định giá tài sản: “Chế định chứng minh trong tố
tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2009), Luận án tiến sỹ Luật
học, trường Đại học Luật Hà Nội…
Việc tìm hiểu cho thấy các bài viết và công trình nghiên cứu trên mặc dù đã
phân tích, luận giải tương đối chi tiết các quy định về định giá tài sản, thẩm định giá
tài sản trong tố tụng dân sự nhưng sự nghiên cứu đó lại chủ yếu dựa trên cơ sở Bộ luật
tố tụng dân sự 2004 và Luật số 65/2011/QH12 có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/2012 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật của tố tụng dân sự 2004. Đồng
thời chưa có tài liệu nào đi sâu vào phân tích những vấn đề lí luận chung cũng như
phân tích có hệ thống các quy định về định giá, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân
sự. Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn
diện và chuyên sâu về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở
Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề về phần lí luận và nội
dung cơ bản của các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành điều chỉnh về định
giá tài sản và thẩm định giá tài sản ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu như trên, Luận văn không nghiên cứu các quy định
pháp luật tố tụng dân sự về định giá và thẩm định giá tài sản ở các nước trên thế giới
mà chỉ nghiên cứu khái quát một số quy định cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự
của một số nước về việc thu thập chứng cứ để tham khảo. Mặt khác, để luận văn
mang tính chuyên sâu tác giả không phân tích chi tiết các quy định tại toàn bộ các
- Nội dung các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành ở Việt Nam (cụ thể là
Bộ luật tố tụng dân sự 2015) quy định như thế nào về biện pháp định giá tài sản và thẩm
định giá tài sản trong tố tụng dân sự? Có những điểm tiến bộ hay hạn chế gì so với quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng dân sự 2004?
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về biện
pháp định giá tài sản và thẩm định giá tài sản có bất cập gì không? Nếu có vướng
mắc bất cập thì cần đưa ra những giải pháp kiến nghị gì để hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này?
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà
nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra Luận văn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương
pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học
như khảo sát, lấy số liệu, sử dụng kết quả tài liệu chuyên ngành,…
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu về định
giá tài sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự Việt Nam theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do vậy Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất
định và được thể hiện ở những phương diện sau đây:
- Làm sáng tỏ và phân định được rõ ràng đặc điểm của hoạt động định giá tài
sản và thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động định giá tài sản và thẩm
định giá tài sản trong tố tụng dân sự, luận văn đã chỉ ra đươc những hạn chế của
pháp luật và một số bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định về định giá và
thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự.
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đề xuất những giải pháp
được hiểu là “Quá trình ước tính giá trị mà một cái gì đó có” 2 . Trong khoa học pháp
lí từ định giá cũng được định nghĩa cụ thể, tại khoản 5 Điều 4 Luật Giá 2012 có nêu
định giá được định nghĩa là: “Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ”. Do đó, có thể
hiểu định giá là việc quy định giá hay ước tính giá trị cho hàng hóa, dịch vụ để phục
vụ các mục đích nhất định trong đời sống kinh tế xã hội.
Về khái niệm “Tài sản”, dưới góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển tiếng Việt có
định nghĩa “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu
dùng” 3 . Theo nội dung này thì tài sản được chỉ xem xét dưới dạng vật chất tồn tại
khách quan, gắn với hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng của con người. Về khoa học
pháp lí khái niệm “Tài sản” được nêu trong nhiều văn bản pháp lí, cụ thể nhất là tại
Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 có quy định thành một điều luật riêng về “tài sản” bao
gồm: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Do vậy, tài sản được nêu trong
khái niệm rất đa dạng, bao gồm những tài sản hữu hình như: đồ vật, tiền, trái phiếu,
cổ phiếu,… hoặc những tài sản vô hình như: quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ,…
Hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về định giá tài sản. Từ điển luật
học đưa ra khái niệm về định giá tài sản là: “Việc ấn định, quyết định cuối cùng về
giá cả của một sản phẩm, một tài sản” 4 . Theo khái niệm này thì chúng ta có thể thấy
được một số nội dung cơ bản về mục đích, bản chất của việc định giá tài sản là ấn
định, quyết định về giá cả của tài sản và đây là quyết định cuối cùng có giá trị lâu
dài đối với tài sản đó. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ nêu ra bản chất cụ thể của định
giá tài sản, khá cứng nhắc khi cho rằng định giá tài sản đó là quyết định cuối cùng,
trong khi tại thời điểm khác nhau giá trị của tài sản luôn biến đổi theo thời gian. Hay
trong một bài viết khác có đưa ra khái niệm về Định giá tài sản là “Việc tư vấn, định
các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch
mua, bán tài sản, hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường 5 . Theo khái niệm này thì mục
đích của định giá tài sản được nêu linh hoạt hơn, tùy theo nội dung của định giá là tư
quốc Anh: “Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản
cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”. Theo Gs.
Lim Lan Yuan – Trường Xây dựng và bất động sản, Đại học quốc gia
Singapore thì: Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá
trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân
nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố
kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn 9 .
Ở Việt Nam cũng có một số bài viết mà tác giả có đưa ra khái niệm về thẩm định
giá, cụ thể như PGS.TS Vũ Trí Dũng, Trưởng Bộ môn Thẩm định giá, Khoa Marketing,
trường Đại học Kinh tế quốc dân có đưa ra định nghĩa thẩm định giá như sau:
Có thể định nghĩa thẩm định giá (Valuation hay Appraisal) là việc ước
tính hay xác định giá trị của một tài sản. Hoặc đó là cách thức mà giá trị một
tài sản được ước tính tại một thời điểm và một địa điểm nhất định. Hay thẩm
định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích
cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những
đặc điểm của tài sản, cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của
thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn 10 .
Thông qua một số định nghĩa trên giúp người đọc hiểu được bản chất của thẩm
định giá nhưng cách sử dụng thuật ngữ còn khá trừu tượng, chưa cụ thể và bao quát
được hết nội dung của thẩm định giá tài sản. Vấn đề này tại Pháp lệnh giá số
40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/4/2002 trong phần giải thích từ ngữ đã khái niệm
về thẩm định giá khá rõ ràng. Khoản 2 Điều 4 của Pháp lệnh này có nêu: “Thẩm
định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường
tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ
quốc tế”. Theo định nghĩa trên thì nội dung của thẩm định giá đã được xác định rõ là
việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản, đồng thời cũng nêu rõ thời điểm,
căn cứ của thẩm định giá,… Tuy nhiên khái niệm này nêu khá chung chung về mục
đích của thẩm định giá là đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị tài sản, vậy giá trị tài sản
từ lâu và sớm hơn so với quy định về thẩm định giá tài sản. Trên thực tế việc áp
dụng các biện pháp này đã mang lại hiệu quả nhất định trong quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự (VVDS) thời gian qua và đã có những bài viết, bài nghiên cứu về các
biện pháp này. Nhưng cũng có rất ít tài liệu đưa ra khái niệm đầy đủ về định giá tài
sản và thẩm định giá tài sản trong TTDS.
Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội do tác giả Nguyễn Công Bình (chủ biên) có nêu khái niệm về “Định giá tài sản
là việc Tòa án yêu cầu các cơ quan chuyên môn hoặc tổ chức thẩm định giá xác
định giá trị tài sản của vụ việc dân sự” 11 . Khái niệm này đã bao quát chung về định
giá tài sản, bao gồm việc Tòa án yêu cầu cơ quan chuyên môn, cụ thể là thông qua
việc thành lập Hội đồng định giá tài sản (HĐĐGTS) hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định
giá xác định giá trị tài sản, đồng thời nêu rõ chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện việc
này là do Tòa án yêu cầu. Tuy nhiên, theo khái niệm này chưa thể hiện rõ quyền tự
định đoạt của đương sự trong việc yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài sản hoặc
quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá để định giá tài sản mà chỉ nêu khái
quát chung về định giá tài sản.
Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng có
nêu khái niệm về Định giá và thẩm định giá tài sản “là việc xác định giá trị tài sản
tranh chấp nhằm từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự” 12 . Khái niệm
này giúp người đọc hiểu được nội dung của định giá và thẩm định giá tài sản là việc
xác định giá trị tài sản tranh chấp và mục đích là để xác định quyền, nghĩa vụ của
đương sự trong VVDS. Nhưng khái niệm vẫn chưa thể hiện được quyền tự định đoạt
của đương sự thông qua quyền yêu cầu, đồng thời chưa thể hiện được đây là biện
pháp thu thập chứng cứ trong TTDS.
Ngoài ra trong luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Thành cũng
đưa ra khái niệm về định giá tài sản như sau: “Định giá tài sản đó là biện pháp thu
thập chứng cứ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự hoặc trong trường hợp pháp
luật TTDS quy định nhằm xác định giá trị của tài sản trong vụ việc dân sự, lấy đó
cũng có đưa ra khái niệm về thẩm định giá tài sản có thể được hiểu là: “hoạt động
xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lí bằng văn bản của tổ chức
thẩm định về giá của đối tượng cần xác định” 17 . Có thể thấy hai khái niệm này đã
chỉ rõ nội dung của hoạt động thẩm định giá là xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận
về giá của đối tượng cần xác định nhưng vẫn còn khá chung.
Theo quy định tại Điều 104 BLTTDS 2015 có thể thấy, biện pháp thẩm định
giá tài sản được áp dụng do các đương sự tự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định
giá tài sản. Tức là biện pháp này chỉ áp dụng chỉ khi cả hai bên đương sự cùng nhau
thống nhất lựa chọn một tổ chức thẩm định giá tài sản. Do vậy, từ những phân tích
nêu trên có thể hiểu thẩm định giá tài sản là biện pháp thu thập chứng cứ do các bên
đương sự tự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá, nhằm tiến hành xem xét,
xác định giá tài sản trong vụ việc dân sự và đưa ra kết luận pháp lí bằng văn bản về
giá để làm căn cứ cho việc giải quyết quan hệ nội dung có tranh chấp trong vụ việc
dân sự đang giải quyết tại Tòa án.
1.2.2. Đặc điểm của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
Theo quy định của BLTTDS 2015 thì biện pháp định giá tài sản và thẩm định
giá tài sản đều là biện pháp thu thập chứng cứ trong TTDS. Để phân biệt các biện
pháp này với một số biện pháp thu thập chứng cứ khác trong TTDS cũng như việc
áp dụng biện pháp này trong pháp luật tố tụng khác, trên cơ sở nội dung các quy
định pháp luật TTDS và thực tế áp dụng có thể rút ra một số đặc điểm chung về hai
biện pháp này như sau:
Thứ nhất, Điều kiện áp dụng biện pháp định giá, thẩm định giá tài sản được quy
định trong pháp luật TTDS. Về nguyên tắc các đương sự phải cung cấp cho Tòa án giá
trị tài sản đang tranh chấp trong trường hợp cần thiết và pháp luật tôn trọng sự định đoạt
của đương sự. Tuy nhiên nếu các đương sự không tự xác định được về giá trị tài sản
tranh chấp, pháp luật vẫn ghi nhận quyền của đương sự về yêu cầu Tòa án ra quyết định
định giá tài sản hay yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá tài sản. Mặt khác, trong
là nhằm xác định giá trị tài sản bằng “tiền” – chuẩn mực thống nhất để Tòa án có cơ
sở xem xét và giải quyết quan hệ nội dung có tranh chấp liên quan đến tài sản trong
VVDS. Việc thực hiện hai biện pháp này trên cơ sở những phương pháp, tiêu chuẩn
kĩ thuật nhất định đòi hỏi những người có trình độ chuyên môn nhất định về định giá
tài sản mới đủ điều kiện tiến hành. Biện pháp này khác với một số biện pháp thu
thập chứng cứ khác như: Biện pháp lấy lời khai, xem xét thẩm định tại chỗ, đối
chất,… mục đích áp dụng các biện pháp này chủ yếu do các thẩm phán thực hiện để
làm sáng tỏ nội dung VVDS, thu thập đầy đủ chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ giải
quyết VVDS.
Thứ năm, Kết quả của việc định giá và thẩm định giá có giá trị khi thực hiện
đúng thủ tục theo quy định pháp luật và có gắn trách nhiệm của chủ thể là người tiến
hành định giá hoặc thẩm định giá tài sản. Nếu đương sự không nhất trí với kết quả
này thì có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá lại và việc định giá lại được tiến
hành theo quy định pháp luật. Có thể thấy, đặc điểm này khác với kết quả định giá
trong TTHS là kết quả có giá trị thi hành ngay, đó là cơ sở để xác định tội danh và
khởi tố vụ án hình sự.
Trên đây là một số đặc điểm chung của biện pháp định giá, thẩm định giá tài
sản. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng hai biện pháp này được điều chỉnh bởi văn bản
khác nhau và nội dung thực hiện, hậu quả pháp lí của hai biện pháp này khác nhau
nên hai biện pháp này vẫn có một số điểm khác nhau như sau:
Thứ nhất, về căn cứ để xác định giá trị tài sản
Định giá tài sản thường được thực hiện thông qua các hình thức định giá cụ
thể, giá chuẩn, khung giá, giá giới hạn (giá tối thiểu, giá tối đa). Ví dụ: Khi định giá
mảnh đất trong tranh chấp dân sự, thông thường HĐĐGTS căn cứ vào khung giá đất
ở mỗi tỉnh trên địa bàn đó tại mỗi thời điểm nhất định. Thẩm định giá chỉ xác định
duy nhất một mức giá tài sản tại một địa điểm, thời điểm nhất định dựa theo tiêu
chuẩn thẩm định giá (được quy định thành các tiêu chuẩn cụ thể và phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội mỗi nước đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế).
trong TTDS. Việc hiểu rõ bản chất của hai biện pháp này giúp các chủ thể liên quan
lựa chọn việc áp dụng một biện pháp cụ thể để xác định giá tài sản đảm bảo quyền
lợi cho mình trong quá trình giải quyết các VVDS tại Tòa án.
18 Xem thêm các quy định về nguyên tắc định giá tài sản và thẩm định giá tài sản được nêu
trong phần
chương 2 của Luận văn.
19
1.2.3. Vai trò của định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự
Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án: Trong các VVDS có tranh
chấp liên quan đến tài sản có nhiều trường hợp việc xác định giá trị tài sản là cần
thiết để giải quyết VVDS. Điều này đảm bảo cho mỗi Thẩm phán trong quá trình
giải quyết các VVDS có thể xây dựng hồ sơ giải quyết vụ việc đầy đủ các chứng cứ
quan trọng, thu thập chứng cứ triệt để, có thêm cơ sở, căn cứ pháp lý để giải quyết
VVDS, đảm bảo việc xét xử được khách quan, chính xác, đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào các đương sự cũng tự thỏa thuận được với
nhau về việc xác định giá trị tài sản. Do vậy, việc quy định cho đương sự có quyền
yêu cầu và Tòa án ra quyết định định giá hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định giá trong
trường hợp luật định có ý nghĩa trong việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương
sự cũng như đảm bảo cho Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thực hiện
các biện pháp thu thập chứng cứ.
Bởi lẽ đối với các VVDS có đối tượng tài sản đặc thù như: đất, nhà ở,…tại mỗi
thời điểm khác nhau giá trị tài sản có sự biến động nhất định. Nếu chỉ căn cứ vào lời
khai của đương sự hay những văn bản như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ), sơ đồ thửa đất,…Tòa án ra quyết định giải quyết vụ việc sẽ không phù
hợp với thực tế, ảnh hưởng đến việc thi hành án không hiệu quả hoặc gặp vướng mắc
nhất định như: diện tích thực tế lớn hoặc nhỏ hơn diện tích đất trong GCNQSDĐ hoặc
đương sự không thống nhất về giá trị tài sản,… Do đó, việc Tòa án áp dụng biện pháp
định giá, thẩm định giá tài sản trong trường hợp luật định sẽ góp phần thu thập, bổ
tụng và mô hình tố tụng xét hỏi. Các nước theo truyền thống pháp luật án lệ như
Anh, Mỹ thì áp dụng loại hình tố tụng tranh tụng. Trong đó, pháp luật tố tụng dân sự
luôn đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc 19 . Trên cơ
sở các quy định pháp luật TTDS, trong quá trình tố tụng các bên đương sự bình đẳng
với nhau đồng thời liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí để
chứng minh, biện luận hay bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của minh trước Tòa án.
Do vậy mọi chứng cứ hoàn toàn do các bên đương sự đưa ra, tất cả mọi tình tiết, tài
liệu, chứng cứ được các bên tranh tụng đưa ra công khai, trực tiếp và bằng lời nói tại
phiên tòa. Đối với việc đánh giá chứng cứ do hai bên đương sự xuất trình và chứng
minh. Thông thường thẩm phán chủ tọa không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ
của vụ kiện. Thẩm phán chỉ là người trung gian khách quan ở giữa các bên. Vì vậy,
khi các bên xuất trình chứng cứ, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ đó trong
suy nghĩ mà không hề tác động hay yêu cầu người khác cung cấp chứng cứ 20 . Để đưa
ra phán quyết, Thẩm phán chỉ dựa vào các căn cứ được đưa ra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng để ra quyết định giải quyết vụ án. Do vậy, đối với các nước theo mô
hình tố tụng này thì đương sự phải tự cung cấp chứng cứ, trong đó có cung cấp giá
tài sản.
Với mô hình tố tụng xét hỏi thường áp dụng ở các nước theo truyền thống