Phân tích đánh giá các quy định về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động - Pdf 26

PHẦN I: LÝ THUYẾT
Phân tích đánh giá các quy định về quyền chấm dứt hợp đồng lao động
của người sử dụng lao động.
Quyền chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ bao gồm chấm dứt HĐLĐ do ý
chí của hai bên chủ thể, do ý chí của người thứ ba và quyền đơn phương chấm
dứt HĐLĐ.
1. Quyền của NSDLĐ trong trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí của hai
bên chủ thể, do ý chí của người thứ ba.
Trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí của hai bên là trường hợp hai
bên đều thể hiện, bày tỏ sự mong muốn được chấm dứt quan hệ lao động hoặc
một bên đề nghị và bên kia chấp nhận. NSDLĐ hoàn toàn có thể đưa ra đề
nghị chấm dứt HĐLĐ và nếu NLĐ đồng ý thì HĐLĐ sẽ chấm dứt.
Theo khoản 1. 2. 3 Điều 36 BLLĐ sửa đổi bổ sung có quy định
“ HĐLĐ chấm dứt trong những trường hợp sau đây
1- Hết hạn hợp đồng;
2- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng;
3- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.”
Chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của người thứ ba là những trường hợp
chấm dứt HĐLĐ không phụ thuộc ý chí của hai bên chủ thể trong quan hệ lao
động. Điều này được quy định tại khoản 4, 5 BLLĐ sửa đổi bổ sung:
“4- NLĐ bị kết án tù gian hoặc bị cấm đảm nhiệm công việc cũ theo quyết
định của tòa án
5- NLĐ mất tích theo tuyên bố của tòa án”
Khi NLĐ bị kết án tù giam hay bị cấm đảm nhiệm công việc cũ thì có
nghĩa là NLĐ không đủ điều kiện để hoàn thành hợp đồng nên NSDLĐ
đương nhiên có quyền chấm dứt hợp đồng. Hay trong trường hợp NLĐ bị
chết hay mất tích theo tuyên bố của tòa án thì một bên chủ thể không còn.
1
Trong trường hợp này để đảm bảo cho công việc được hoàn thành NSDLĐ có
quyền chấm dứt hợp động để còn tuyển dụng lao động mới.
Về cơ bản theo quy định của pháp luật lao động thì chấm dứt HĐLĐ trong

điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi
phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết
tiếp hợp đồng lao động;d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả
kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng
vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;đ) Doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức chấm dứt hoạt động
- Trường hợp NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp
đồng
Người lao động không thường xuyên hoàn thành công việc theo hợp đồng
theo khoản 1 ĐIều 12 Nghị định 44/2003/NĐ- Cp của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ là trường hợp NLĐ “ không
hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao chủ yếu do yếu tố
chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhăc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong
một tháng mà sau đó vẫn không khắc phục”
Pháp luật quy định cho NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động vơi người lao động trong những trường hợp trên chính là nhằm đảm
bảo hiệu quả của lao động sản xuất, bảo vệ cho NSDLĐ có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định cụ thể
thời gian “sau đó” tính từ thời điểm bị lập biên bản hay nhắc nhở của NLĐ là
bao lâu. Điều này gây khó khăn cho NSDLĐ khi áp dụng phap luật đồng thời
cũng không bảo vệ được quyền lợi cho NLĐ.
- Trường hợp người lao động bị xử lý kỉ luật xa thải theo quy định tại điều
85 Bộ luật lao động.
Người sử dụng lao động co quyền đơn phương châm dứt hợp đồng vơi
người lao động khi người sử dụng lao động bị xử lí kỉ luật sa thải. Xử lý kỉ
3
luật sa thải là một biện phap cuối cùng áp dụng để châm dứt mối quan hệ lao
động đối vơi NLĐ khi NLĐ vi phạm kỷ luật lao động
Theo khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động thì hình thức kỷ luật sa thải đượ áp
dụng trong những trường hơp sau:

tháng liền và NLĐ làm việc theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn HĐLĐ, mà
khả năng lao động chưa phục hồi ( Theo điểm C, Khoản 1 ĐIều 38 BLLĐ)
Trong quan hệ lao động NLĐ là người trực tiếp thực hiện hành vi lao động
tao ra của cải vật chất cho người sử dụng lao động. Việc ốm đau là trường hợp
bât khả kháng không phụ thuộc ý chí chủ quan của NLĐ, vì vậy pháp luật
chio phép người lao động được nghỉ trong một thời hạn nhât định. Tuy nhiên
nếu việc nghỉ này quá thời gian cho phép và ảnh hưởng đến tình hình hoạt
động cuả doanh nghiệp thì NSDLĐ có quyền đơn phương châm dưt hợp
đồng. Quy định này đã góp phần bảo vệ lợi ích của NSDLĐ. Đồng thời cũng
bảo vệ lợi ích của nền kinh tế quốc dân.
- Quyền chấm dứt HĐLĐ do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lí do khác mà
NSDLĐ đã tìm mọi cách khắc phục nhưng mà buộc phải thu hẹp sản xuất,
giảm chỗ làm việc.
Việc chấm dứt HĐLĐ theo những lí do khách quan như trên của NSDLĐ
với NLĐ được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên quy định này vẫn còn nhiều bât
cập, tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ -CP “ lí do bât khả kháng
không là trường hợp do yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ cấp
tỉnh trở lên, do địch họa , dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn đến việc
phải thay đổi, thu hẹp sản xuất” Quy định này mới chỉ ra thế nào là bât khả
kháng , mà không làm rõ “ không thể khắc phục là thế nào”. Pháp luật chưa
quy định rõ phải khắc phục thế nào, sẽ dấn đến tình trạng NSDLĐ bỏ lửng
trách nhiệm đối vơi NLĐ với lí do không thể khắc phục được tình hình hoặc
5
NSDLĐ muốn chấm dứt hợp HĐLĐ chỉ cần lấy lí do là không thể khắc phục
được tình trạng bất khả kháng.
- Quyền chấm dứt HĐLĐ khi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt
động (Điểm đ, Khoản 1 Điều 38 BLLĐ)
Việc doanh nghệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động là tình trạng phổ
biến trong nền kinh tế khi mà đơn vị, doanh nghiệp này không thể hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status