MỤC LỤC
PHẦN
TRANG
A. Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật về
quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động:……………................2
1. Một số khái niệm:……………………………………………………………2
2. Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật về
quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động:………………………2
2.1. Quyền chấm dứt HĐLĐ của NLĐ trong trường hợp HĐLĐ chấm dứt
do ý chí của hai bên (NLĐ và NSDLĐ):……………………………………….2
2.2. Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ:...........................................4
B. Bài tập tình huống:.........................................................................................10
1. Với những hành vi liên tiếp vi phạm kỉ luật lao động của anh H,
công ty M hoàn toàn có cơ sở để sa thải anh H:.................................................10
2. Hãy tư vấn cho công ty M về việc nên xử lý kỉ luật lao động đối với anh H
như thế nào theo đúng quy định của pháp luật
và theo đúng nội quy của công ty:………………………………………………13
3. Giả định công ty M sa thải anh H trong vụ việc trên
thì anh H cần làm như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình:…………………15
Danh mục tài liệu tham khảo:…………………………………………………...16
Đề bài số 13:
1. Phân tích và đánh giá các quy định về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của
người lao động.(3 điểm)
2. Anh H là nhân viên bán xăng dầu thuộc cửa hàng xăng dầu B, công ty xăng dầu
M theo HĐLĐ không xác định thời hạn từ ngày 1/3/2000. Ngày 1/4/2002, do anh H
có những biểu hiện không bình thường về mặt thần kinh nên gia đình anh H đã làm
hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và
trả công lao động.
- Hợp đồng lao động (HĐLĐ): là sự thoả thuận giữa người lao động và
người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
- Chấm dứt hợp đồng lao động: là sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên
không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai
bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
2. Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật về quyền chấm dứt hợp
đồng lao động của người lao động:
Chấm dứt hợp đồng lao động là một sự kiện pháp lí rất quan trọng, bởi hậu
quả pháp lí của nó là sự kết thúc quan hệ lao động và trong một số trường hợp nó
ảnh hưởng tới việc làm, thu nhập, cuộc sống của người lao động thậm chí gia đình
họ, gây xáo trộn lao động trong đơn vị và có thể gây thiệt hại cho NSDLĐ. Dựa
trên cơ sở ý chí và biểu lộ ý chí chúng ta sẽ cùng nghiên cứu các quy định của pháp
luật về quyền chấm dứt HĐLĐ của NLĐ theo các trường hợp chấm dứt hợp đồng
lao động theo ý chí của hai bên, và trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo ý
chí đơn phương của NLĐ.
2.1. Quyền chấm dứt HĐLĐ của NLĐ trong trường hợp HĐLĐ chấm dứt do ý
chí của hai bên (NLĐ và NSDLĐ):
Chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của hai bên là trường hợp hai bên
NLĐ và NSDLĐ đều bày tỏ và thể hiện sự mong muốn được chấm dứt quan hệ lao
động hoặc một bên đưa ra đề nghị và bên kia chấp nhận. Bất kì lúc nào trong quá
trình thực hiện hợp đồng (HĐ), các bên cũng có thể thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ mà
không cần báo trước và được pháp luật ghi nhận quyền này. Trường hợp đó, sự
thỏa thuận của các bên về việc chấm dứt HĐLĐ chính là pháp luật đối với các bên.
Tại các khoản 1,2,3 điều 36 Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 1994 sửa đổi bổ
xung các năm 2002, 2006, 2007 quy định về việc chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của
định tại các khoản 1,2,3 điều 36 BLLĐ đã được nêu ở trên, sẽ là thiếu sót nếu
không đề cập đến trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của cha mẹ hoặc người
giám hộ hợp pháp của NLĐ chưa đủ 15 tuổi. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
44/2003/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của BLLĐ (đã sửa đổi, bổ sung) tại khoản 3 Điều 5 quy định “Đối với ngành nghề
và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc theo quy định tại Điều
120 của Bộ luật Lao động, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý
bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó mới có giá
trị”. Như vậy, trường hợp này nếu trong quá trình thực hiện HĐLĐ mà cha mẹ
hoặc người giám hộ của NLĐ thấy công việc không phù hợp với sức khỏe của
NLĐ dưới 15 tuổi thì có thể đề nghị chấm dứt HĐLĐ theo khoản 3 điều 36 của
BLLĐ. Trong trường hợp này, quyền đưa ra đề nghị chấm dứt HĐLĐ của NLĐ
chưa đủ 15 tuổi được thực hiện thông qua người đại diện trước pháp luật của NLĐ
(cha, mẹ hoặc người giám hộ của NLĐ), do pháp luật dân sự cho rằng những người
chưa đủ 15 tuổi thì khả năng nhận thức cũng như tâm sinh lý của họ chưa hoàn
chỉnh vì vậy cần có sự giúp đỡ từ cha mệ hoặc người giám hộ. Việc chấm dứt
HĐLĐ như trong trường hợp này cũng có thể áp dụng đối với những trường hợp
mà NLĐ là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của hai bên trong
quan hệ lao động: theo quy định tại điều 42 của BLLĐ, điều 14 của nghị định số
44/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại điểm a mục 2 phần III của thông tư số
21/2003/TT-BLĐTBXH thì khi NLĐ thực hiện quyền chấm dứt HĐLĐ theo các
quy định tại điều 36 của BLLĐ, sau khi HĐLĐ chấm dứt NLĐ sẽ được hưởng trợ
cấp thôi việc nếu đã làm việc thường xuyên cho NSDLĐ với thời gian từ đủ 12
tháng trở lên với mức trợ cấp thôi việc là cứ mỗi năm làm việc bằng nửa tháng
lương cộng với phụ cấp lương nếu có. Ngoài ra NLĐ còn được thanh toán hết các
khoản nợ lương, thưởng...vv mà NSDLĐ còn nợ NLĐ nếu có. Trong thời hạn bảy
ngày kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các
trong hợp đồng;
c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực
hiện hợp đồng;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm
giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc;
g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ba tháng liền đối với người làm
việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và một
phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng
lao động chưa được hồi phục.
2- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều
này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
a) Đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g: ít nhất ba ngày;
b) Đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ: ít nhất 30 ngày nếu là
hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; ít nhất ba ngày nếu là
hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12
tháng;
c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e: theo thời hạn quy định tại Điều 112 của
Bộ luật này.
3- Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao
động biết trước ít nhất 45 ngày; người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị sáu
tháng liền thì phải báo trước ít nhất ba ngày.”
Tuy nhiên pháp luật cũng quy định, NLĐ muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo
các trường hợp quy định tại điều 37 BLLĐ thì phải thực hiện các nghĩa vụ báo
trước theo quy định của pháp luật lao động trong của cùng điều luật trên, nghĩa vụ
NLĐ mà NSDLĐ có nghĩa vụ phải bảo đảm. Do đó, khi NSDLĐ vì lợi ích của
mình mà vi phạm quyền hợp pháp của NLĐ thì họ có quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ. NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này cũng phải báo
cho NSDLĐ biết trước trong thời gian ít nhất là ba ngày và việc thông báo này phải
được thực hiện bằng văn bản.
+ NLĐ Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động: Trong quan hệ lao động, sức lao động
được coi là hàng hóa đặc biệt. NLĐ bán sức lao động cho người có nhu cầu –
NSDLĐ. Điều đó không có nghĩa là NSDLĐ có quyền ngược đãi, xúc phạm đến
nhân phẩm, danh dự và ép buộc NLĐ để buộc họ phải làm việc. Vì thế, NLĐ có
quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi NSDLĐ có các hành vi ngược đãi và
cưỡng bức xảy ra. Tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 44/2003/NĐ-CP quy định: “Bị
ngược đãi, bị cưỡng bức lao động là trường hợp người lao động bị đánh đập, nhục
mạ hoặc bị ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh hưởng
đến sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người lao động”. NLĐ đơn phương chấm
dứt HĐLĐ trong trường hợp này thì phải báo cho NSDLĐ biết trước trong thời
gian ít nhất là ba ngày và việc thông báo này phải được thực hiện bằng văn bản.
+ Bản thân hoặc gia đình NLĐ thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục
thực hiện hợp đồng: Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 44/2003/NĐ-CP quy định
“Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực
hiện hợp đồng lao động với những lý do sau đây: Chuyển chỗ ở thường trú đến nơi
khác, đi lại làm việc gặp nhiều khó khăn; Được phép ra nước ngoài định cư; Bản
thân phải nghỉ việc để chăm sóc vợ (chồng); bố, mẹ, kể cả bố, mẹ vợ (chồng) hoặc
con bị ốm đau từ 3 tháng trở lên;Gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác được chính
quyền cấp xã nơi cư trú xác nhận không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động”.
Như vậy, khi NLĐ hoặc gia đình họ rơi vào một trong những trường hợp thực sự
khó khăn kể trên thì họ sẽ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Trường hợp này
NLĐ muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì phải thông báo bằng văn bản cho
NSDLĐ biết trước ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12
nhằm mục đích bảo vệ NLĐ. Đồng thời quy định này còn giúp cho NSDLĐ ổn
định sản xuất, thông qua việc NLĐ chấm dứt HĐLĐ tạo điều kiện cho NSDLĐ có
thể mau chóng tuyển dụng thêm lao động để bù đắp cho công việc bị giám đoạn do
NLĐ nghỉ việc lâu ngày. NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này
thì phải báo cho NSDLĐ biết trước trong thời gian ít nhất là ba ngày và việc thông
báo này phải được thực hiện bằng văn bản.
- Đối với HĐLĐ không xác định thời hạn: Hợp đồng lao động không xác định
thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm
dứt hiệu lực của hợp đồng (theo điểm a khoản 1 điều 27BLLĐ). Tại khoản 3 Điều
37 BLLĐ quy định: “Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định
thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho
người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày; người lao động bị ốm đau, tai
nạn đã điều trị sáu tháng liền thì phải báo trước ít nhất ba ngày.” Trong trường
hợp này, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần nêu lý do
chấm dứt. Đây là điểm khác biệt giữa quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của
NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn so với làm việc theo HĐLĐ
xác định thời hạn. Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm,
nghề nghiệp của NLĐ đồng thời hạn chế việc ràng buộc suốt đời với NSDLĐ.Việc
đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ chỉ hợp pháp khi ngoài việc tuân thủ các lý
do trên, NLĐ có nghĩa vụ báo trước cho NSDLĐ một khoàng thời gian nhất định
nhằm tạo điều kiện chủ động cho NSDLĐ trong việc tuyển dụng, sắp xếp lại lao
động cho đơn vị.
- Hậu quả pháp lý của việc NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ: trong trường hợp
NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo các quy định tại điều 37 BLLĐ một cách
hợp pháp thì theo quy định tại điều 42 của BLLĐ, điều 14 của nghị định số
44/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại điểm a mục 2 phần III của thông tư số
21/2003/TT-BLĐTBXH thì khi NLĐ thực hiện quyền chấm dứt HĐLĐ theo các
quy định tại điều 37 của BLLĐ, sau khi HĐLĐ chấm dứt NLĐ sẽ được hưởng trợ
động của mình.
1. Với những hành vi liên tiếp vi phạm kỉ luật lao động của anh H, công ty M
hoàn toàn có cơ sở để sa thải anh H:
Sa thải là hình thức kỷ luật cao nhất mà NSDLĐ áp dụng đối với NLĐcó hành vi vi
phạm kỷ luật lao động (KLLĐ). Sa thải nhằm loại bỏ ra khỏi tập thể lao động
những NLĐ không có ý thức chấp hành kỷ luật, vi phạm nghiêm trọng đến trật tự
doanh nghiệp. Vì vậy, khi bị sa thải, NLĐ sẽ không được tham gia quan hệ lao
động nữa, quan hệ lao động sẽ mặc nhiên chấm dứt, và NLĐ có thể gặp rất nhiều
khó khăn trong việc giao kết một HĐLĐ mới. Do đó, để tránh tình trạng NSDLĐ
lạm quyền, sa thải NLĐ một cách bừa bãi, ảnh hưởng đến quyền lợi củaNLĐ, pháp
luật quy định NSDLĐ chỉ được áp dụng hình thức kỉ luật sa thải đối với NLĐ khi
có một trong các căn cứ sau:
“a) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh
doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của
doanh nghiệp;
b) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công
việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách
chức mà tái phạm;
c) Người lao động tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày
cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng.”(khoản 1 điều 85 BLLĐ)
Theo tình huống đã cho, ngày 1/2/2008, do cãi nhau với chị A là người làm cùng ca
trực, anh H đã đánh chị A gây mất đoàn kết nội bộ nên căn cứ vào quy định trong
nội quy lao động về hình thức xử lý đối với hành vi “gây mất đoàn kết nội bộ”,
giám đốc công ty M đã ra quyết định hạ bậc lương trong thời gian 6 tháng đối với
anh H. Theo các quy định của BLLĐ, ta thấy rằng quyết định của giám đốc công ty
M là trái pháp luật cả về hình thức và về nội dung:
-Về mặt hình thức: nhận thấy hành vi của H trong trường hợp này đã vi phạm nội
quy lao động của công ty M( vì đề bài không đề cập nên chúng ta có thể hiểu nội
Tuy việc giám đốc công ty M ra quyết định hạ bậc lương trong thời gian 6 tháng
đối với anh H là một quyết định trái pháp luật, nhưng không có nghĩa là anh H
không phải chịu hình thức kỉ luật về hành vi vi phạm nội quy lao động của mình.
Đối với hành vi vi phạm nội quy lao động “gây mất đoàn kết nội bộ” của anh H vào
ngày 1/2/2008, theo quy định của nội quy công ty M anh H có thể bị hạ bậc lương
trong thời gian 6 tháng, để việc xử lí kỉ luật này trở nên hợp pháp, theo tôi khi mở
hội đồng kỉ luật công ty M có thể chuyển sang áp dụng hình thức kỉ luật có mức độ
tương đương được pháp luật ghi nhận đó là kéo dài thời hạn nâng lương không quá
sáu tháng hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn
tối đa là sáu tháng.
Sau khi vi phạm nội quy của công ty M vào ngày 1/2/2008, trong khoảng thời gian
hơn ba tháng H lại liên tiếp vi phạm nội quy của công ty M về các hành vi gây mất
đoàn kết nội bộ và có thái độ cư xử thiếu văn hóa với khách hàng, nên căn cứ theo
quy định tại các điều 88 BLLĐ và điều 9 nghị định số 41/CP có thể xác định H đã
tái phạm khi chưa được xóa kỉ luật cũ. Như vậy trường hợp của H đã bị xử lý kỷ
luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong
thời gian chưa xoá kỷ luật, điều này đã đủ căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1
điều 85 của BLLĐ, do đó công ty M hoàn toàn có quyền sa thải H.
2. Hãy tư vấn cho công ty M về việc nên xử lý kỉ luật lao động đối với anh H
như thế nào theo đúng quy định của pháp luật và theo đúng nội quy của công
ty:
Như đã trình bày ở phần trên, để việc xử lý kỉ luật lao động đối với anh H
được hợp pháp thì công ty M phải thực hiện các quy trình kỉ luật như sau:
* Kỉ luật đối với hành vi vi phạm kỉ luật của H ngày 1/2/2008:
- Về mặt hình thức, công ty M phải thành lập hội đồng kỉ luật với sự tham
gia của đại diện theo pháp luật của công ty M (NSDLĐ), đại diện của công đoàn cơ
sở, anh H và người bào chữa của anh H(nếu có). Thời hiệu, trình tự và nội dung của
quá trình tiến hành việc kỉ luật lao động phải tuân theo các quy định tại điều 86,87
binh và Xã hội, NSDLĐ mới có quyền ra quyết định kỷ luật và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. NSDLĐ phải gửi quyết định kỷ luật cho đương sự và Ban
Chấp hành Công đoàn cơ sở, và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định sa
thải đối với anh H, phải gửi quyết định kỷ luật cho Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội, kèm theo biên bản xử lý KLLĐ.
3. Giả định công ty M sa thải anh H trong vụ việc trên thì anh H cần làm như
thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình:
Trong trường hợp công ty M sa thải anh H, thì để bảo vệ quyền lợi của mình
thì:
- Trong quá trình kỉ luật: anh H có quyền có mặt tại nơi tổ chức việc kỉ luật mình
và tham gia trong buổi kỉ luật đó, có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, bào chữa viên
nhân dân, hoặc người khác bào chữa cho mình, có quyền yêu cầu NSDLĐ phải
chứng minh được lỗi của mình khi áp dụng các biện pháp kỉ luật, giám sát tính hợp
pháp của quá trình kỉ luật cả về nội dung và hình thức; có thể đưa ra giấy chứng
nhận của bác sỹ về việc mình có tiểu sử về bệnh thần kinh, và đưa ra các chứng cứ
chứng minh khi thực hiện hành vi vi phạm nội quy lao động bản thân mình mất khả
năng nhận thức và điều kiển hành vi, trên cơ sở đó yêu cầu NSDLĐ không áp dụng
các biện pháp kỉ luật với mình….vv.
- Trong trường hợp mội cố gắng trên của anh H không có hiệu quả và công ty M
tiến hành việc xử lý kỉ luật sa thải với anh là hoàn toàn hợp pháp theo tình tự thủ
tục của PLLĐ thì HĐLĐ giữa anh H và công ty M sẽ chấm dứt. Anh H có quyền
yêu cầu công ty M hoàn trả các khoản nợ lương hoặc phụ cấp nếu có cho mình.
Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, NSDLĐ có trách nhiệm
thanh toán đầy đủ các khoản còn nợ đối với anh H, trường hợp đặc biệt có thể kéo
dài nhưng không quá 30 ngày. Và cũng trong thời hạn trên, anh H phải thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ còn thiếu đối với công ty M.
binh và xã hội;
7.
dân;
Đại học Luật Hà nội- Giáo trình luật lao động Việt Nam- NXB công an nhân