MỤC LỤC
A.
MỞ ĐẦU
Luật Tố tụng hành chính được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 10 thông
qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/206 đã quy định rõ phạm
vi khởi kiện cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện vụ án hành
chính khi cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đã trực tiếp xâm
hại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Trong đó có một số quy định về đối
tượng khởi kiện. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp xác định những
đối tượng nào có thể khởi kiện trong lĩnh vực hành chính. Không chỉ có ý nghĩa
cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức dễ dàng xác định được lĩnh vực khỏi kiện mà
còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định thẩm quyền của mình. Vì dó do đó
em xin chọn đề tài “Phân tích và đánh giá các quy định pháp luật về đối tượng
khởi kiện trong vụ án hành chính” để tìm hiểu và đánh giá.
NỘI DUNG
Khái quát chung về vụ án hành chính và đối tượng khởi kiện của vụ
B.
1.
án hành chính
1.1 Vụ án hành chính
Tố tụng hành chính là toàn bộ các hoạt động (của chủ thể tiến hành tố
tụng và chủ thể tham gia tố tụng) được tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án
hành chính. Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại tòa án khi cá nhân, tổ chức
khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và được Tòa án thụ lý theo quy định
của pháp luật.
Trong điều kiện xã hội hiện tại, khi nói đến văn bản, chúng ta thường hiểu là các
quyết định đó là các văn bản được thể hiện trên giấy, tuy nhiên không loại trừ
hình thức văn bản điện tử.
Thứ hai, chủ thể ban hành quyết định hành chính là các cơ quan hành chính nhà
nước; cơ quan, tổ chức được giao thbc hiện chức năng quản lý hành chính nhà
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó.
Thứ ba, quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong
khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Việc
ban hành quyết định hành chính nội bộ của cơ quan hành chính, đơn vị hành
chính, tổ chức khác ban hành để giải quyết công việc nội bộ (trừ quyết định kỷ
(1)(1) Khoản 1 Điều 3 Luật Tổ tụng hành chính năm 2015
luật buộc thôi việc đối với công chức) của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và
lợi ích riêng của họ thì không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Thứ tư, quyết định hành chính là quyết định áp dụng pháp luật hay được gọi là
quyết định cá biệt. Khi nói quyết định áp dụng pháp luật là nhằm phân biệt với
quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm. Hai loại quyết định không thuộc
đối tượng bị khởi kiện trước Toà án. Quyết định cá biệt trực tiếp tác động đến
quyền và lợi ích của những đối tượng khởi kiện.
Thứ năm, quyết định hành chính bị khiếu kiện chủ yếu là quyết định đầu (là
quyết định được cơ quan nàh nước, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan nhà
nước ban hành lần đầu khi xử lý vụ việc cụ thể). Tuy nhiên, cũng có quyết định
lần 2 hoặc quyết định giải quyết khiếu nại.
Ví dụ: Sau khi ông A khiếu nại đối với QĐ 567, Chủ tịch UBND phường ra
quyết định số 568 giữ nguyên quyết định 567. Quyết định 568 vẫn có thể là đối
tượng khởi kiện.
2.2
bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Việc kỷ luật đối với công chức
mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. Trong các hình thức kỷ luật thì hình thức
kỷ luật buộc thôi việc là hình thức kỷ luật cao nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống và danh dự của công chức bị kỷ luật. Vì lý do đó sự tác động của quyết
định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức đã vượt ra khỏi phạm vi là quản lý
nội bộ, gây tác động đến xã hội bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức. Do đó Luật
tố tụng hành chính năm 2015 quy định quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với
công chức là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công chức.
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong vụ án hành chính theo quy định
của pháp luật hiện hành cần thiết phải có hai điều kiện: thứ nhất là quyết định đó
áp dụng cho công chức; thứ hai là công chức đó giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng
hoặc tương đương trở xuống.
(3)(3) Khoản 5 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
2.3
Khiếu kiện quyết định giãi quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh.
Theo Luật cạnh tranh năm 2004 thì vụ việc cạnh tranh được chia thành
hai loại việc: một là những việc về hành vi hạn chế cạnh tranh, hai là loại việc về
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Thẩm quyền giải quyết loại việc cạnh
tranh thứ nhất là của Hội đồng cạnh tranh; thẩm quyền giải quyết loại việc thứ
hai là của Cục quản lý cạnh tranh. Khi phát sinh vụ việc cạnh tranh, nếu là Hội
đồng cạnh tranh thì sẽ thành lập ra Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để xử lý;
nếu là Cục quản lý cạnh tranh thì do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp xử lý và kết
sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải
quyết.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại
hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền
khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
3.
Đánh giá đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính
Nhìn chung, đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính được quy định khá
chặt chẽ trong Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn. Bến cạnh
việc kế thừa các quy định của Luật tố tụng hành chính 2010, đối tượng khởi
kiện của vụ án hành chính trong luật Tố tụng hành chính 2015 còn bổ sung một
số quy định về đối tượng khởi kiện.
Thứ nhất, đối tượng quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại
Toà án nhân dân và quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố
tụng của Toà án nhân dân không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Quy định này làm tăng cường tính minh bạch, công khai, đảm bảo quyền của
những người tham gia tố tụng.
Hơn nữa, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của
cơ quan, tổ chức cũng bị loại trừ khỏi danh mục đối tượng khỏi kiện của vụ án
hành chính. Việc xử lý những quyết định này sẽ làm can thiệp sâu vào hoạt động
điều hành, quản lý của cơ quan, tổ chức, không đảm bảo tính ổn định, trật tự
trong chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về việc quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong quá
trình xây dựng dự án Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi), có ý kiến đề nghị cần
luật hóa danh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi
1.
2.
3.
4.
Tập bài giảng Luật Tố tụng hành chính trường ĐHKS Hà Nội
Luật Tố tụng hành chính 2015
Luật Tố tụng hành chính 2010
Nguyễn Văn Thuân, “Thẩm quyền của Tòa án theo Luật Tố tụng
hành chính năm 2015”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật.