MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Phần 1. Những vấn đề lý luận chung về tính hợp pháp
của đối tượng xét xử trong vụ án hành chính
2
1.1. Khái niệm đối tượng xét xử trong vụ án hành chính
2
1.2. Những căn cứ xác định tính hợp pháp của đối tượng xét xử trong
vụ án hành chính
Phần 2. Tính hợp pháp của đối tượng xét xử trong vụ án hành chính
4
2.1. Quyết định hành chính là đối tượng xét xử vụ án hành chính
4
2.2. Hành vi hành chính là đối tượng xét xử của Toà án
Phần 3. Kỹ năng trong việc xác định và đánh giá tính hợp pháp của
12
Kết luận
27
Tài liệu tham khảo
29
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, số lượng vụ án hành chính được cơ quan Toà
án thụ lý giải quyết ngày một tăng, trong đó ngành Hải quan cũng có một số vụ
việc bị khởi kiện trước Toà án Hành chính.
Cùng với việc đẩy mạnh chiến lược cải cách hành chính cho thấy ý thức
pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang được nâng cao, đòi hỏi cơ
quan hành chính nhà nước phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật khi
thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Án hành chính có những
nét đặc thù riêng biệt không giống như các loại án khác về chủ thể tham gia vụ
kiện, đối tượng xét xử và có sự điều chỉnh của một số lượng lớn các văn bản
pháp lý điều chỉnh trên hầu khắp các ngành luật khác nhau. Nó tạo nên điểm
đặc thù của án hành chính cũng như gây ra những khó khăn nhất định cho các
đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia
trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng hành chính. Trong quá trình giải
quyết án hành chính, bất kỳ chủ thể nào, kể cả là các cơ quan tiến hành tố tụng
như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cho đến những người tham gia
tố tụng như luật sư, các đương sự đều không thể không nghiên cứu, đánh giá và
xác định rõ tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối
tượng xét xử của vụ án.
Hầu hết các vụ án hành chính được Tòa án xét xử đều có sự tham gia của
người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan…mà không đề cập
tới đối tượng xét xử của vụ án. Chính vì vậy, đối tượng xét xử là một khái niệm
cơ bản khi nghiên cứu và xem xét nội dung một vụ án hành chính.
Đối tượng xét xử của vụ án hành chính, hiểu theo nghĩa chung nhất,
chính là Quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan
Nhà nước đã bị khiếu nại, giải quyết khiếu nại theo trình tự thủ tục của pháp
luật khiếu nại tố cáo, bị khởi kiện tới Toà án có thẩm quyền, được Toà án thụ
lý giải quyết và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2
- Hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư;
- Hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan;
- Hành vi hành chính về quản lý hộ tịch;
- Hành vi hành chính đối với việc từ chối công chứng, chứng thực;
- Hành vi hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho
thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; gia hạn thời hạn sử dụng đất;
- Các hành vi hành chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và
Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. KỸ NĂNG TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH
HỢP PHÁP CỦA ĐỐI TƯỢNG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH
3.1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối tượng xét xử trong vụ án hành
chính
Là luật sư, cán bộ pháp lý được thủ trưởng đơn vị cử tham gia vào quá
trình giải quyết vụ án hành chính (gọi tắt là luật sư), không thể không đi sâu
vào nghiên cứu tính hợp pháp của đối tượng xét xử trong vụ án hành chính.
Trước hết, nghiên cứu đối tượng xét xử của vụ án hành chính, luật sư sẽ
giúp khách hàng của mình, giúp thủ trưởng đơn vị của mình xác định được đâu
4.1.1- Đối với Biên bản vi phạm hành chính:
Mô tả hành vi chưa rõ ràng, chung chung, sơ sài, chưa đúng với quy định
tại Điều 55 Pháp lệnh xử lý VPHC như: chưa miêu tả đầy đủ hành vi vi phạm
hoặc xác lập hành vi phạm dẫn đến việc áp dụng chế tài ra Quyết định xử phạt
chưa đúng với hành vi vi phạm. Biên bản VPHC không ghi ngày tháng năm,
địa chỉ người vi phạm hoặc biên bản được sửa chữa nhưng không có xác nhận
của người lập biên bản hoặc biên bản không ghi họ, tên người có thẩm quyền
xử lý vi phạm. Biên bản lập đối với tổ chức vi phạm, nhưng không thể hiện tổ
chức đó uỷ quyền cho cá nhân được thực hiện nội dung này, không ghi địa chỉ
của tổ chức vi phạm hành chính.
Lập Biên bản VPHC có nội dung không thống nhất về việc sử dụng căn
cứ pháp luật để xác định hành vi như: vừa xác định hành vi vi phạm theo quy
định của Luật Hải quan, vừa xác định hành vi vi phạm là các chế tài xử phạt
được quy định tại Nghị định 138/2004/NĐ-CP, Nghị định 97/2007/NĐ-CP,
Nghị định số 18/2009/NĐ-CP…Có biên bản được lập ghi biện pháp ngăn chặn
“đưa hàng vào kho, niêm phong hải quan” là không đúng vì đây không phải là
biện pháp ngăn chặn theo quy định tại Chương 5 Pháp lệnh xử lý VPHC năm
2002 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008 và mục 4 Chương I Nghị định
97/2007/NĐ-CP.
Như vậy, khi lập biên bản vi phạm, chúng ta cần lưu ý một số nội dung
sau: Phải ghi nhận, xác lập, đưa vào biên bản VPHC hành vi vi phạm, tránh
việc mô tả chung chung. Không căn cứ văn bản chế tài để xác định hành vi vi
phạm mà căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật (nội dung) có liên quan, từ đó
xác định hành vi vi phạm đã vi phạm Điều, Khoản…nào của văn bản chế tài.
Biên bản phải ghi đầy đủ, chính xác về ngày, tháng, năm lập, địa chỉ người vi
phạm… theo đúng quy định tại Điều 55 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 và đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2008.
4.1.2- Đối với quyết định hành chính
định tại khoản 2 Điều 41 Nghị định 97/2007/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung tại Nghị
định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18/2/2009 của Chính phủ. Về nội dung: cần bám
sát, đối chiếu với Biên bản VPHC để không có sự khác nhau về nội dung giữa
Biên bản VPHC với Quyết định xử phạt. Khi ban hành quyết định xử phạt cần
chú ý phần căn cứ pháp lý của quyết định: chỉ được căn cứ văn bản quy phạm
pháp luật. Nếu muốn đưa thêm căn cứ khác thì chú ý sử dụng thuật ngữ phù
hợp như: “Xét hồ sơ, vụ việc có liên quan”. Khi trích dẫn văn bản quy phạm
pháp luật làm căn cứ pháp lý của quyết định cần phải kiểm tra, trích dẫn đầy
đủ, chính xác ngày tháng năm ban hành, hiệu lực của văn bản; Điều, khoản…
của văn bản nào…được áp dụng…để tránh nhầm lẫn về chữ số (một trong
những nhầm lẫn dễ xảy ra là trong quá trình soạn thảo, đánh máy văn bản). Khi
ban hành quyết định xử phạt cần xem xét lại hình thức và mức xử phạt đã đúng
với quy định của pháp luật và biên bản VPHC hay chưa ? Có hay không có các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được áp dụng. Thẩm quyền ký quyết định phải
đúng theo quy định.
Khi phát hiện quyết định xử phạt đã ban hành trong quá trình soạn thảo
do sơ xuất mà dẫn đến một số sai sót (không phải sai về bản chất, về nội dung
xử phạt mà chỉ nhầm lẫn về chữ số,…thì phải khắc phục như sau: Căn cứ Điều
3 Luật Khiếu nại, tố cáo và Điều 20 Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính
thì về nguyên tắc, sau khi ban hành quyết định hành chính theo thẩm quyền luật
định, cơ quan hành chính được quyền tự phát hiện và sửa đổi quyết định hành
chính của mình đã ban hành cho đến trước khi vụ việc được đưa ra xét xử tại
phiên toà. Trong thực tiễn thì tuỳ trường hợp khác nhau để xử lý khác nhau cho
hiệu quả và tránh phát sinh khiếu kiện, khiếu nại kéo dài đó là: ban hành quyết
định mới thay thế quyết định đã ban hành hoặc ban hành quyết định thay thế,
sửa đổi, bổ sung một phần quyết định hành chính đã ban hành.
4.1.3- Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại
Giải quyết khiếu nại bằng công văn là chưa phù hợp với quy định của
cơ quan hải quan, cơ quan khác của nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật của
công chức hải quan, cơ quan hải quan xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình; trong trường hợp nhận được khiếu nại không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình thì có trách nhiệm hướng dẫn cho người khiếu nại
biết để khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; cơ quan hải
quan các cấp có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của mình;
trong trường hợp nhận được tố cáo không thuộc thẩm quyền của mình thì có
trách nhiệm chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông
báo cho người tố cáo bằng văn bản biết.
Theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo số 09/1998/QH10 ngày
02/12/1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo số
26/2004/QH11 ngày 15/6/2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Khiếu nại, tố cáo số 58/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và Nghị định
136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Khiếu nại, tố cáo thì: Khi phát sinh việc giải quyết khiếu nại, người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thụ lý, xem xét nội dung đơn khiếu
nại, các chứng cứ của người khiếu nại cung cấp, kiểm tra, xác minh nội dung
đơn khiếu nại, đối thoại với người khiếu nại và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho người khiếu nại (nếu có) để kết luận khiếu nại đúng một phần
hoặc toàn bộ; sai một phần hoặc toàn bộ; để từ đó ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại theo hướng giữ nguyên hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính
hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại. Trong trường hợp này, để đảm bảo tính
khách quan trong việc giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại có thể tổ
chức thanh tra, kiểm tra lại việc thực hiện quy trình nghiệp vụ hải quan hoặc
của người khởi kiện hoặc tuyên huỷ các quyết định hành chính của cơ quan hải
quan hoặc thủ trưởng cơ quan hải quan khi vi phạm, thiếu sót về hình thức,
thẩm quyền, nội dung hoặc quyết định vi phạm về thời hiệu.
Như vậy, nếu một vụ kiện hành chính xảy ra, cơ quan Hải quan sẽ là bị
đơn trong vụ án hành chính. Tuy nhiên, với vai trò hiện nay, cơ quan Hải quan
còn tham gia tố tụng hành chính tại toà với tư cách nguyên đơn hay người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Về vấn đề này, sẽ được nghiên cứu theo các nội
dung cụ thể trên cơ sở các thực tiễn về áp dụng pháp luật quy định các quyền,
nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng tại phiên toà hành chính
Vị trí, vai trò là bị đơn trong tố tụng hành chính của cơ quan Hải quan sẽ
phát sinh trong giai đoạn toà án tiến hành thụ lý vụ án và đưa vụ án ra xét xử,
sau khi các quyết định hành chính, hành vi hành chính đã được giải quyết trong
“giai đoạn tiền tố tụng” và người yêu cầu giải quyết khiếu nại không đồng ý với
quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hải quan, cán bộ có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại và họ phản kháng lại bằng việc tiến hành khởi kiện vụ án
tại Toà hành chính. Như vậy, cơ quan Hải quan tham gia tố tụng tại Toà hành
chính với tư cách bị đơn, việc tham gia này của cơ quan Hải quan sẽ có vai trò
quan trọng gắn liền với quyền cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ được thể hiện:
- Vai trò của cơ quan Hải quan trong việc thoả thuận giải quyết vụ án:
Trong giai đoạn toà án thụ lý vụ án, đưa vụ án ra xét xử tại toà hành
chính, thực hiện nguyên tắc “tôn trọng sự thoả thuận” theo quy định tại điểm đ
khoản 2, Điều 20 quy định các đương sự có quyền “Thoả thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án hành chính, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật”, trong
quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành cho các bên tự hoà giải, trong quá
trình xét xử vụ án hành chính toà án cho các bên được quyền thương lượng giải
quyết vụ án thông quan thoả thuận nếu các quyền cũng như nghĩa vụ của các
bên có thể tự giải quyết được mà không cần thông qua quá trình xét xử của toà
án: “người khởi kiện có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện.
do các sai sót sau: căn cứ pháp lý của quyết định hành chính sai; hình thức và
mức độ xử phạt sai; thể thức văn bản sai; thẩm quyền ban hành không đúng;
trình tự, thủ tục sai (quy định trong văn bản luật và văn bản hướng dẫn) và thời
hạn, thời hiệu không đúng. Do đó, khi ban hành các quyết định hành chính cần
phải lưu ý như các trình bày nêu trên để hạn chế việc huỷ quyết định của Toà.
Chính những thiếu sót về hình thức, nội dung và thẩm quyền như đã nêu
ở các phần nói trên là sơ hở của cơ quan hải quan để tổ chức, cá nhân khiếu nại
hoặc khởi kiện ra Toà và thắng kiện. Bên cạnh đó, việc thực hiện không thực
hiện đúng chức trách, nhiệm vụ quyền hạn của CBCC Hải quan thông qua hành
vi được là hoặc không được làm cũng là hệ quả dẫn đến việc khiếu nại và khiếu
kiện hành chính
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi cho rằng biện pháp quan trọng nhất
để loại bỏ các vụ kiện quan trọng hơn nhiều so với thắng kiện. Một trong
những biện pháp quan trọng đó là nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm
hành chính về hải quan và kịp thời rà soát, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa
đổi, bổ sung một số quy định, một số biểu mẫu của Ngành để phù hợp với hệ
thống các luật về Thuế và Hải quan.
KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp, các ngành. Việc thành lập Toà án hành
chính để thụ lý, xét xử các khiếu nại hành chính là nhằm đảm bảo pháp chế và
kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, tổ chức... Điều đó cho thấy, trong vụ án hành chính đối
tượng xét xử của vụ án hành chính là các tranh chấp liên quan đến luật công.
Một bên là nhà nước (cụ thể là các cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính Nhà nước nhân danh Nhà nước)
thực thi công vụ, vì lợi ích chung và với các phương tiện mang tính quyền lực,
tính cưỡng chế; còn bên kia là các cá nhân công dân, tổ chức với các lợi ích cụ
số 35/2009/QH12 đã quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính (Điều 13) và Bộ Tài chính đã có Thông tư
số 49/2008/TT-BTC ngày 12/6/2008 hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người
nộp thuế, người khai hải quan do hành vi VPPL của CBCC Thuế, CBCC Hải
quan trong thi hành công vụ gây ra.
Từ nghiên cứu thực tế các vụ kiện hành chính trong ngành Hải quan và
vụ kiện của Công ty cổ phần XNK y tế Việt Nam tại Cục, chúng tôi rút ra được
một số kinh nghiệm, những hạn chế thiếu sót trong trong việc ra các các quyết
định hành chính và thực hiện các hành vi hành chính liên quan đến công tác
quản lý nhà nước về hải quan. Hy vọng, qua đề tài này sẽ đóng góp thêm kinh
nghiệm về công tác xử lý vi phạm hành chính về hải quan và tố tụng trước Toà,
góp phần nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm pháp luật về hải quan để
giảm bớt các vụ khiếu nại và các vụ kiện hành chính trong thời gian tới.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài còn có những hạn chế nhất
định. Rất mong nhận được sự tham gia ý kiến đóng góp ý kiến của các đồng chí
để hoàn thiện đề tài, phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ.
Xin trân trọng cám ơn!
Thanh Hóa, ngày 31/7/2010
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2006;
2. Luật Hải quan (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005): Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2005;
3. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia - Hà Nội 2010;
4. Luật Luật Khiếu nại tố cáo số 09/1998/QH10 ngày 02/12/1998; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo số 26/2004/QH11 ngày
15/6/2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo số