Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 61

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN LM

Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk
Lắk)

LUN VN THC S LUT HC


HÀ NỘI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN LM

Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk
Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Từ các trường hợp...........................................................................................52
Quả tang..................................................................................................52
Truy nã.................................................................................................52
Năm.................................................................................................................53
Bắt bị can để tạm giam....................................................................................53
14.Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà (1946), Sắc lệnh 131
ngày 20/7/1946 về tổ chức bộ máy tư pháp Công an..................................90
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANCT:

An ninh chính trị

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự

CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐTV: Điều tra viên
KSV:

Kiểm sát viên

NXB:

Nhà xuất bản


nce
source
not
found
Bảng 2.3: Số liệu của Cơ quan điều tra tỉnh Đắk Lắk, từ năm
2010 đến 2014

Error:
Refere
nce
source
not
found


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật Tố tụng hình sự nước CHXHCN Vệt Nam quy định về các biện
pháp ngăn chặn trở thành công cụ hữu hiệu trong đấu tranh ngăn chặn tội
phạm, phục vụ cho công tác điều tra truy tố, xét xử và để đảm bảo thi hành án.
Các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định pháp lý quan
trọng của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam. Việc quy định và áp dụng đúng
đắn các biện pháp ngăn chặn là sự đảm bảo rất quan trọng cho việc phát hiện
nhanh chóng, chính xác, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, không cho người phạm
tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến các hoạt động
điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự. Đồng thời đảm bảo các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là vấn đề hết sức nhạy cảm, nó
đụng chạm trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được quy định trong

coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ chính trị đã ra
Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày
02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các nghị quyết trên
đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu
một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
(BLTTHS), tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án hình sự.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Những biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số
liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, là vấn đề mang tính cấp bách, thiết
2


thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn đối với địa phương
trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự đã được
nhiều nhà tố tụng hình sự học trong nước quan tâm nghiên cứu.
Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ: "Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997).
TSKH.PGS Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, ThS. Thịnh Quốc Toản
đồng chủ trì đề tài “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp
luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”.
TS. Nguyễn Vạn Nguyên: "Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề
nâng cao hiệu quả của chúng" (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1995)
PGS.TS Nguyễn Đức Thuận: “Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
theo quy định của bộ luật TTHS năm 2003” (Tạp chí luật học số 07 năm 2008)

Lắk.; làm rõ mặt được, mặt chưa được, xác định sơ hở, thiếu sót, nguyên nhân
của chúng. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các biện pháp ngăn chặn này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật
và thực tiễn áp dụng quy định của luật TTHS về các biện pháp ngăn chặn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn có
liên quan trong áp dụng các biện pháp nhăn chặn trong giai đoạn điều tra trên
cơ sở số liệu thực tế tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ

4


Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà
nước và pháp luật được thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng, các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước về các
biện pháp ngăn chặn.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài nghiên cứu bằng các phương pháp phân tích,
thống kê, logic, tổng hợp, so sánh, dự báo, phương pháp chuyên gia kết hợp
khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu và
đồng nghiệp hoạt động thực tế trong điều tra phòng chống tội phạm trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ và bổ sung vào khoa học pháp lý của luật


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Trong quá trình phát triển của lịch sử, Nhà nước ra đời là một tất yếu
khách quan, là bộ máy cưỡng chế đặc biệt của giai cấp cầm quyền, là công cụ
sắc bén để đảm bảo sự duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền ấy. Nhà
nước tồn tại bao giờ cũng gắn liền với một quyền lực mang tính chính trị, giai
cấp được thực hiện bởi bộ máy cai trị như: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà
tù… mà ở đó Nhà nước bao giờ cũng quy định các biện pháp và giao cho
những người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý, lớp người này được tổ
chức thành các cơ quan nhà nước có sức mạnh cưỡng chế để thực hiện duy trì
đuiạ vị của giai cấp thống trị. Ý chí của giai cấp thống trị trở thành ý trí thống
trị xã hội thông qua quyền lực chính trị của nhà nước, như Mác – Ăng Ghen:
“Nó thực chất là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhất định với giai cấp
khác. Chính bạo lực có tổ chức của giai cấp thống trị đối với các giai cấp
khác tạo nên bản chất của Nhà nước, đó là một tổ chức của quyền lực chính
trị nhằm trấn áp giai cấp bị thống trị” [10].
Những biện pháp trấn áp của giai cấp thống trị với giai cấp khác, tầng
lớp khác được thể hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, nó phản ánh
bản chất giai cấp của nhà nước. Do đó có thể coi cưỡng chế Nhà nước là việc
áp dụng các biện pháp bắt buộc để thực hiện các quyết định của Nhà nước đối
với cá nhân, tổ chức đã không tự nguyện chấp hành quyết định của Nhà nước.

7




chủ nghĩa”. Đây là một yêu cầu đòi hỏi phải tăng cường pháp chế khi mà đời
sống chính trị, xã hội của nước ta đang từng bước phát triển hội nhập.
Luật Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tỏ chức
của cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội trong đó thể hiện quyền lực
của cơ quan tổ chức đó, nó chứa đựng các quy phạm thể hiện quyền uy biểu hiện
cụ thể các hoạt động cưỡng chế, nó như là một phương thức tồn tại, trên cơ sở
của việc sử dụng chúng trở thành phương tiện để quản lý Nhà nước.
Luật hành chính cũng cố đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng,
khi thực hiện luật này nó cũng mang tính cưỡng chế, thể hiện phương pháp
điều chỉnh bất bình đẳng mà ở đó buộc các đối tượng vi phạm hành chính
phải chấp hành.
Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt, trong các quy phạm
này đã cho thấy hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội là phải chịu trách nhiệm
hình sự với một mức hình phạt tương ứng. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình
sự bao gồm các “Quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”. Nó chứa đựng các quy phạm thể
hiện việc cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp
ngăn chặn khi có căn cứ do luật định, ở đây tính cưỡng chế đã đạt tới mức
nghiêm khắc cao độ hơn hẳn các biện pháp cưỡng chế khác.
Các hoạt động chứa đựng tính cưỡng chế ở các lĩnh vực khác nhau đã
đem lại trong ý nghĩ nhiều người sự nhầm lẫn, làm mất đi giá trị nguyên bản
của nó. Mỗi loại biện pháp phải được áp dụng ở những điều kiện nhất định,
do những chủ thể nhất định tiến hành chứ không thể hiểu một cách mơ hồ đẫn
đến sai lầm pháp luật.
Đã có rất nhiều bài báo đưa vào dư luận xã hội một luồng thông tin
về hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn dưới dạng mượn dư luận để
gây sức ép, hoặc coi việc áp dụng một biện pháp ngăn chặn như là hình



10


tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn để đánh giá, xem xét trong mối
quan hệ tương ứng để rút ra kinh nghiệm, kết luận đúng, áp dụng có hiệu quả
góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời đảm bảo
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mục đích cần đạt được là:
“Nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội”(Điều 1–BLTTHS). Hoạt động này do
nhiều chủ thể thực hiện trong đó vai trò, quyền và nhiệm vụ của các chủ thể
khác nhau, có khi đối lập nhau vì vậy có khi các chủ thể là người bị nghi thực
hiện tội phạm, bị can, bị cáo… thường tìm mọi cách gây khó khăn cản trở việc
điều tra giải quyết vụ án hình sự do vậy pháp luật Tố tụng hình sự quy định các
biện pháp ngăn chặn để áp dụng khi cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ
án. Việc đưa ra khái niệm đầy đủ, chính xác là yêu cầu tất yếu, tuy nhiên đến
nay khái niệm về các biện pháp ngăn chặn vẫn còn có nhiều tranh luận.
Theo từ điển nghiệp vụ phổ thông ngành Công an thì: “các biện pháp
ngăn chặn trong phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp
thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác thực hiện âm
mưu phạm tội của chúng”. Ở đây đã chỉ ra được rằng các biện pháp ngăn chặn
là biện pháp thể hiện tính chủ động tấn công, phòng ngừa tội phạm nhưng chưa
làm rõ được chủ thể cụ thể, đối tượng bị áp dụng và các căn cứ áp dụng.
Theo các tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên nêu ra
trong quyển: “Những điều cần biết về bắt người tạm giữ, tạm giam… đúng
pháp luật” thì các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần
thiết trong Tố tụng hình sự do các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp
dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy

tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp

12


cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của
vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có
lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng
thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và
trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn
bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề
nghị truy tố bị can.
Về bản chất pháp lý
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn
điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp
dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội
phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm
tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các
biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm;
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến
hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết
thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề
nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự
tương ứng.
Điều 79 Bộ luật TTHS quy định: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc
khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của
mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng
một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi

Ở đây hành vi phạm tội đang diễn ra hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, việc đuổi bắt phải diễn ra liên tục về mặt
thời gian và ai cũng có quyền bắt, tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
14


* Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do
người có thẩm quyền áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với
người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn
người bị bắt trốn việc điều tra, xác minh và để quyết định việc khởi tố bị can,
tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Việc tạm giữ hình sự là để Cơ quan điều tra phân loại hành vi, củng cố
thu thập tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc điều tra vụ án.
* Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can trong những trường
hợp sau đây:
- Bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
- Bị can phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật
hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có
thể trốn hoặc cản trở việc điều tra hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu
tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì
không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp
sau đây:
Bị can bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;
Bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội
hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra;
Bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng
nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Việc áp dụng biện pháp tạm giam là do Cơ quan điều tra thấy cần thiết

2006 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, được sửa
đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Quốc
hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2014 quy định:

16


Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó
thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú
hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà
khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc
quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân
cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi
thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không
có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi
tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và
đã đăng ký tạm trú [41].
Khoản 2 Điều 12 luật cư trú quy định: “Trường hợp không xác định
được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư
trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống” [41].
* Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn
cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân
thân của bị can mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định
cho họ được bảo lĩnh.
Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can là người thân thích của họ.
Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo
lĩnh cho bị can là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân
hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can tiếp tục phạm tội và bảo
đảm sự có mặt của bị can theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status