I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VN LM
Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VN LM
Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN C PHC
H NI - 2015
1.1.3. Ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam .................................................... 18
1.2.
Khái quát lịch sử các biện pháp ngăn chặn trong lịch sử
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước
khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003........................................ 20
1.3.
Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai
đoạn điều tra trong pháp luật của một số nước trên thế giới
và những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam ............................. 23
1.3.1. Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra trong pháp luật của một số nước trên thế giới ...................... 23
1.3.2. Những giá trị có thể tham khảo trong quy định pháp luật về các
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo pháp luật của
một số nước trên thế giới.................................................................... 26
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 29
Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI
TỈNH ĐẮK LẮK .........................................................................................31
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giữ .............................................. 52
Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam ............................................ 53
Thực trạng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ....................... 55
Thực trạng áp dụng biện pháp bảo lĩnh .............................................. 58
Thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm .............................................................................................. 59
Nhận xét, đánh giá về áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
tại tỉnh Đắk Lắk................................................................................ 60
2.3.1. Những ưu điểm đạt được .................................................................... 60
2.3.2. Một số hạn chế tồn tại ........................................................................ 61
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế tồn tại ....................................................... 62
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 63
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI
TỈNH ĐẮK LẮK .............................................................................. 64
3.1.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam tại
tỉnh Đắk Lắk ...................................................................................... 64
3.1.1. Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư của tỉnh
Đắk Lắk .............................................................................................. 64
3.1.2. Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ................................... 65
3.2.
Bộ luật Tố tụng hình sự
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐTV:
Điều tra viên
KSV:
Kiểm sát viên
NXB:
Nhà xuất bản
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTATXH: Trật tự an toàn xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Số liệu của Cơ quan điều tra tỉnh Đắk Lắk, từ năm
2010 đến 2014
thư tín, điện tín… Vì thế khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tuân thủ
đúng quy định của Luật TTHS. Thực tiễn việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong TTHS còn có những hạn chế, tồn tại nhất định đã gây ra những
khó khăn nhất định trong việc giải quyết vụ án tạo dư luận không tốt dẫn đến
hậu quả như: bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp
chế Xã Hội Chủ Nghĩa, xâm phạm các quyền cơ bản của công dân.
Các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được quy định tại
Chương V Bộ luật TTHS Việt Nam. Việc tìm hiểu, nghiên cứu những quy
định này không chỉ cần thiết đối với người tiến hành tố tụng mà còn rất cần
thiết đôí với mọi công dân.
1
Nắm vững nội dung quy định về các biện pháp ngăn chặn trong luật
TTHS là điều kiện cần thiết giúp cho Điều tra viên áp dụng vào thực tiễn công
tác một cách hiệu quả.
Để phục vụ cho công tác điều tra, Cơ quan điều tra áp dụng các biện
pháp ngăn chặn cần thiết nhằm ngăn chặn tội phạm. Tuy nhiên việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vẫn còn những tồn tại,
vướng mắc khi xác định căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng. Nguyên nhân của
những tồn tại, vướng mắc là do pháp luật TTHS còn sơ hở, thiếu chặt chẽ,
chồng chéo dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp luật; trình
độ năng lực của một số điều tra viên còn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Thực trạng đó đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự
phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết khắc phục những hạn chế, tồn tại và đưa
ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn tội
phạm có hiệu quả đồng thời cũng bảo đảm bảo vệ quyền con người.
Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
khẩn cấp trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 – Khoa luật đại học Huế.
ThS Trịnh Tiến Việt: “Về tự do cá nhân và các biện pháp cưỡng chế tố
tụng” (NXB chính trị quốc gia Hà Nội 2006).
TS. Trịnh Tiến Việt: “Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và
hướng sửa đổi, bổ sung” (Tạp chí nghiên cứu lập pháp).
ThS Phạm Khắc Vực: “căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam” (Tạp chí
khoa học pháp lý số 02 năm 2004).
Tuy nhiên, các công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu về thực tiễn áp
dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chính vì vậy, việc
tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS 2003 và
đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác
đấu tranh ngăn chặn tội phạm và bảo vệ quyền con người.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: là làm sáng tỏ một cách có hệ thống và toàn
diện về mặt lý luận về các biện pháp ngăn chặn, đánh giá đúng thực trạng áp
dụng các biện pháp ngăn chặn ở tỉnh Đắk Lắk., xác định đúng nguyên nhân
của những thiếu sót trong việc áp dụng và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các
giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá
trình giải quyết các vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, yêu cầu đặt ra phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn.
- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng,
điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn.
- Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại tỉnh Đắk
Lắk.; làm rõ mặt được, mặt chưa được, xác định sơ hở, thiếu sót, nguyên nhân
trình nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và các cơ sở đào tạo Luật của Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của đề tài có ý nghĩa quan
trọng đối với hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại tỉnh Đắk Lắk
trong quá trình điều tra. Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các
quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn, hướng dẫn áp dụng
thống nhất các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong toàn
quốc nói chung và tại tỉnh Đắk Lắk. nói riêng và có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho Cơ quan điều tra và đội ngũ ĐTV của tỉnh Đắk Lắk.
Trong quá trình điều tra vụ án.
5
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong
giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam.
Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt
Nam tại tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt
Nam tại tỉnh Đắk Lắk.
6
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài những đặc điểm
chung của nhà nước còn có những đặc điểm riêng khác biệt được thể hiện:
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên
phong của giai cấp công nhân, là Nhà nước của toàn thể nhân dân lao động.
Để bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được trong cuộc đấu trang giai cấp xây
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, ngăn ngửa và trừng trị những phần tử phá hoại
quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Nhà nước Xã hội chủ
nghĩa một mặt là một tổ chức chính trị hành chính, một cơ quan cưỡng chế
đồng thời là một tổ chức quản lý kinh tế- xã hội của tòa thể nhan dân lao
động. Bộ máy cưỡng chế hành chính của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa được lập
ra để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
bảo đảm cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do
dân, vì dân, tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Do đó
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ của giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức nhằm chống lại những hành vi xâm
phạm vào lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Để thực hiện được điều đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có những biện pháp cưỡng chế nhà nước, có bộ máy đặc biệt để thực
hiện việc cưỡng chế đối với tất cả các hành vi xâm phạm đến các lợi ích trên
một cách cương quyết và mạnh mẽ. Để quản lý xã hội, Nhà nước tiến hành
nhiều hoạt động trên cơ sở pháp luật, mỗi lĩnh vực, mỗi loại, nhóm quan hệ xã
hội phải có các quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh. Thực hiện tốt các
quy phạm pháp luật lại là một đòi hỏi thiết thực hơn, bởi nó đi sâu vào tiềm
thức, vào lòng tin của cộng đồng và chỉ có kết hợp cả hai vấn đề trên càng trở
nên yêu cầu cấp thiết và chính đó đem lại cho ta tiêu chuẩn “Pháp chế Xã hội
8
thức trừng phạt người có hành vi phạm tội. Đó là dạng các kết cục cho
rằng: đối tượng A đã có hành vi(hành vi a,b,c nào đó) vì sao vẫn nhởn nhơ
ngoài vòng pháp luật?...
Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng: trong điều kiện phát triển kinh
tế theo cơ chế thị trường hiện nay cũng nên đặt vấn đề kinh tế để xem xét.
Nếu cứ áp dung các quy định của pháp luật tối tụng hình sự trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn(như tạm giam) thì số lượng bị can, bị cáo ở các
trại tạm giam tăng đáng kể gây áp lực về kinh tế và công tác quản lý giáo dục
mà ở đó Nhà nước phải tăng chi phí cho các hoạt động kèm theo: chế độ ăn,
ở, sinh hoạt, chế độ giam giữ canh gác, trang thiết bị cơ sở vật chất cũng phải
tăng cường. Vậy thì nên chăng có biện pháp quản lý, giám sát được đối tượng
mà vẫn đảm bảo mục tiêu ngăn chặn tội phạm, đảm bảo hiệu quả trong công
tác điều tra khám phá án đồng thời đảm bảo được quyền con người và để họ
tự lao động sản xuất nuôi sống bản thân trong cộng đồng xã hội nhằm giảm
bớt chi phí ngân sách của nhà nước.
Có quan điểm cho rằng phòng ngừa tội phạm cũng là biện pháp ngăn
chặn tội phạm trong Tố tụng hình sự. Đây là quan điểm hình thức mà chưa
thấy rõ bản chất phòng ngừa từ xa của công tác phòng ngừa tội phạm. Hiện
nay chúng ta đã và đang thực hiện Chương trình Quốc gia phòng chống tội
phạm, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về đấu tranh phòng chống các loại
tội phạm trong tình hình mới như Nghị quyết 48, Nghị quyết 21….
Còn đó các quan điểm lấp lửng biến hóa, biến tướng tùy tiện, đặc biệt
trong hoạt động tạm giữ hành chính và tố tụng, coi đây như là một cứu cánh,
chữa cháy cho hoạt động điều tra vụ án. Đó là tình trạng hình sự hóa các quan
hệ pháp luật dân sự, hành chính, kinh tế hoặc ngược lại là lấy cưỡng chế thay
cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ.
Từ các lý do đó đòi hỏi phải nghiên cứu những quy định của pháp luật
11
khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã
hội và ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc có những hành động
gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Trong khái
niệm này, các tác giả đã làm rõ đối tượng bị áp dụng và mục đích của việc áp
dụng. Tuy nhiên chỉ nêu ra các chủ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án là chưa đủ vì việc bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định
truy nã thì bát kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc lực lượng quản lý giáo
dục phạm nhân tiến hành công tác thi hành án phạt tù, nhưng cơ quan đó
không phải là cơ quan tiến hành tố tụng.
Trên cơ sở trên có thể đưa ra khái niệm về các biện pháp ngăn chặn như
sau: Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình
sự do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với những
người trong những trường hợp cụ thể do pháp luật tố tụng hình sự quy định
nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và
việc chấp hành bản án hình sự một cách đúng đắn, khách quan.
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Một số nét về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan
trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong
các giai đoạn trước khi khởi tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án, cùng
với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu
tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.
Về khái niệm: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ
hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp
13
* Bắt người là biện pháp ngăn chặn bao gồm bắt bị can, bị cáo để tạm
giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc
đang bị truy nã.
Bắt là một thuật ngữ đã có từ lâu với ý nghĩa chung là sự cưỡng chế,
tước bỏ tạm thời quyền tự do của con người, trong những điều kiện hoàn
cảnh, lý do nhất định và nhằm đạt được mục đích nhất định. Trong mối quan
hệ giữa cá nhân và nhà nước, bắt thể hiện sức mạnh cưỡng chế của nhà nước,
của giai cấp thống trị xã hội đối với cá nhân và thương được quy định bằng
những quy tắc chặt chẽ vì nó liên quan đến các quyền cơ bản của con người.
- Bắt bị can để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự để tạm
giam phục vụ cho việc điều tra vụ án hình sự. Một người có hành vi phạm tội
đã bị Cơ quan điều tra khởi tố và có căn cứ quy định tại điều 88 Bộ luật
TTHS thì Cơ quan điều tra có thể áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam.
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là khi có căn cứ cho rằng một
người đang chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiệm trọng hoặc tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm người đó trốn hoặc tiêu
hủy chứng cứ thì Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn này nhằm
ngăn chặn tội phạm và ngăn chặn người phạm tội trốn hoặc tiêu hủy chứng
cứ. Sau khi thực hiện lệnh bắt thì Cơ quan điều tra phải báo ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn
cấp để xét phê chuẩn.
- Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi
bắt. Bắt người phạm tội đang bị truy nã là bắt người phạm tội đang lẩn trốn và
đã có quyết định truy nã.
Ở đây hành vi phạm tội đang diễn ra hoặc ngay sau khi thực hiện tội
Việc tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy chế tạm giữ, tạm
giam, cụ thể:
15
Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính
phủ ban hành quy chế về tạm giữ, tạm giam có hiệu lực kể từ ngày 22 tháng
11 năm 1998, được sửa đổi, bổ sung bởi các Nghị định:
Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2002 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành
kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của
Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 12 năm 2002;
Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ,
tạm giam quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam
ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998
của Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2011.
Quy chế về tạm giữ, tạm giam quy định cụ thể về tổ chức nhà tạm giữ,
tạm giam; chế độ quản lý tạm giữ, tạm giam; chế độ đối với người bị tạm giữ,
tạm giam và điều khoản thi hành.
* Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng
đối với bị can có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy
triệu tập của Cơ quan điều tra.
Là việc Cơ quan điều tra cấm người đã bị khởi tố đi khỏi nơi cư trú và
người này phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình, phải có
mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập. Nếu vi phạm thì sẽ bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn như tạm giam.
Khoản 1 Điều 12 Luật cư trú số 81/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2006 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, được sửa
báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
* Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để
thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ
17